Chuyªn ®Ò thùc tËp tèt nghiÖp 61
Sơ đồ tổ chức bộ máy đấu thầu
Nhóm chuyên gia về thiết bị thi công
Thiết bị thi công là yếu tố rất quan trọng đối với việc thi công các công
trình xây dựng. Chi phí máy thi công thường chiếm từ 15% đến 25% giá
thành xây dựng công trình. Thiết bị thi công không những có ảnh hưởng đến
chiến lược đấu thầu về mặt giá thành xây dựng mà còn ảnh hưởng đến năng
lực, uy tín, của nhà thầu cũng như ảnh hưởng đến kỹ thuật, công nghệ,
phương án thi công. Nhóm chuyên gia về thi công chịu trách nhiệm về việc
lựa chọn loại thiết bị phù hợp cho dự án, tính toán chi phí thiết bị cũng như
bố trí giây chuyền thiết bị và các vấn đề khác có liên quan, kể cả thiết bị thi
công, thiết bị thí nghiệm, các thiết bị phục vụ cho đầu tư và kỹ sư tư vấn.
Nhóm chuyên gia về thí nghiệm
Các dự án xây dựng ngày nay đòi hỏi vấn đề chất lượng rất nghiêm
ngặt, có sự giám sát rất chặt chẽ của tổ chức tư vấn bên cạnh chủ đầu tư, tất
cả các vật liệu đưa vào thi công sẽ phải thí nghiệm đủ tiêu chuẩn. Trong thi
công, từng hạng mục của công trình xây dựng đều phải được thí nghiệm
trước khi chuyển sang hạng mục khác, việc thí nghiệm các yếu tố của dự án
là rất quan trọng, nếu thí nghiệm chính xác sẽ là cơ sở chắc chắn cho giai
đoạn thi công cũng như đảm bảo cho khả năng thắng thầu.
Biện pháp 3 : Phát huy các biện pháp cải tiến kỹ thuật và thực hiện đầu
tư có trọng điểm,tập trung vào thiết bị xe máy thi công.
Năng lực máy móc thiếtt bị thi công của công ty là khá lớn. Tuy nhiên,
trong tổng số máy móc thiết bị và xe máy thi công của công ty thì hơn 50%
Biện pháp 4 : Điều tra nghiên cứu thị trường và xây dựng các chính
sách, chiến lược tranh thầu phù hợp
Thông qua điều tra nghiên cứu thị trường công ty sẽ có được những
thông tin cần thiết phục vụ cho công tác đấu thầu, đồng thời mở rộng thị
trường hoạt động của công ty.
Vì vậy, công ty nên tổ chức đảm nhận thực hiện công việc này (Nếu
biện pháp 2 được chấp nhận thì phần việc này sẽ do phòng dự án đấu thầu
đảm nhận). Hoạt động điều tra nghiên cứu thị trường tập trung vào các vấn
đề sau :
+Về nguồn lực tiêu thụ và các đối thủ cạnh tranh : Nhu cầu đầu tư xây
dựng của mọi khu vực (Nhà nước, các doanh nghiệp thuộc mọi thành phần
Chuyªn ®Ò thùc tËp tèt nghiÖp 63
kinh tế, dân cư và nước ngoài ); nghiên cứu tình hình các chủ đầu tư cụ thể,
nhất là các dự án đầu tư mà họ sắp tiến hành ; nghiên cứu các chủng loại
công trình kèm theo các loại vật liệu và kết cấu xây dựng được tiến hành
trong tương lai kịp thời nắm bắt các thông tin gọi thầu của các chủ đầu tư ;
trong khi nghiên cứu cần chú ý: Do sản phẩm xây lắp có tính cá biệt cao, phụ
thuộc vào từng công trình xây dựng mà công ty tham gia đấu thầu. Do vậy,
với mỗi công trình khác nhau đòi hỏi công ty phải tập trung điều tra thông tin
cần thiết để đưa ra chính sách và chiến lược thích hợp. Đặc điểm này do tính
cá biệt và phụ thuộc vào điều kiện địa phương của sản phẩm xây dựng quy
định.
+Về tư liệu sản xuất đầu vào cho quá trình xây dựng : Tình hình nguồn
nguyên vật liệu xây dựng, giá cả và xác định khả năng mua sắm hay tự sản
xuất, tình hình nguồn thiết bị máy móc xây dựng và dự kiến khả năng mua
sắm hay đi thuê, nghiên cứu thực hiện sử dụng nguồn tư liệu sản xuất có tại
địa phương, nghiên cứu khả năng liên kết với các lực lượng xây dựng tại chỗ.
khốc liệt, thậm chí còn gay gắt hơn ở một số lĩnh vực khác. Để tồn tại và phát
triển, các doanh nghiệp xây dựng buộc phải học “ làm thị trường”, phải tự tìm
tòi các phương pháp, biện pháp và phương thức thích hợp áp dụng cho hoạt
động sản xuất kinh doanh của mình. Một trong những giải pháp quan trọng
nhất là các doanh nghiệp phải tiến hành các hoạt động marketing. Đối với các
doanh nghiệp xây dựng các hoạt động marketing diễn ra một cách thường
xuyên, liên tục nhưng tập trung nhất là ở thời điểm doanh nghiệp tham gia
tranh thầu.
Có thể nói, thực chất của chiến lược marketing xây dựng là chiến lược
tranh thầu. Tác dụng và hiệu quả của các chính sách sản phẩm, chính sách giá,
chính sách tiêu thụ và chính sách khuếch trương giao tiếp đều thể hiện ở chỗ
doanh nghiệp có thắng thầu hay không.
a. Đối với chính sách khuếch trương, giao tiếp.
Đặc điểm nổi bật có ảnh hưởng lớn nhất đến chính sách khuyếch
trương, giao tiếp là marketing xây dựng mang tính chất trực tiếp và cá biệt
khách hàng xây dựng không phải là quảng đại quần chúng. Do đó biện pháp
giao tiếp trực tiếp có ý nghĩa quan trọng nhất.
+ Giao tiếp với các chủ đầu tư có công trình cần xây dựng : Công ty
cần đẩy mạnh hơn nữa việc giao tiếp trực tiếp với các chủ đầu tư cần xây
dựng. Khi nắm bắt được thông tin về các công trình cần xây dựng công ty cần
cử các cán bộ có trình độ nghiệp vụ chuyên môn sâu gặp và giao tiếp với chủ
đầu tư. Thông qua giao tiếp công ty có thể giới thiệu tuyên truyền về hình ảnh
và uy tín của công ty, chủ yếu thông qua các thành tích mà công ty đã đạt
được ( các công trình mà công ty đã thực hiện cùng các chứng chỉ chất lượng
) và năng lực của công ty ( trình độ kỹ thuật, trình độ tổ chức quản lý, máy
móc thiết bị thi công). Cũng thông qua giao tiếp trực tiếp với chủ đầu tư công
ty có thể có được những thông tin cần thiết phục cụ cho công tác chuẩn bị đấu
thầu.
Chuyªn ®Ò thùc tËp tèt nghiÖp
loạt), bị phụ thuộc chặt chẽ vào điều kiện tự nhiên, nơi sản xuất cũng là nơi
tiêu thụ sản phẩm. Chính vì vậy, công ty cần áp dụng vấn đề phân khu, phân
khúc thị trường, nghiên cứu cơ cấu sản phẩm về mặt địa lý và lựa chọn thị
trường mục tiêu.
Với vấn đề phân khu, phân loại thị trường, công ty phân chia thị trường
xây dựng thành các thị trưòng có tính đồng nhất cao để lựa chọn và để kinh
doanh căn cứ vào khả năng thực tiễn của công ty :
Chuyªn ®Ò thùc tËp tèt nghiÖp 66
- Phân loại thị trường theo chủng loại xây dựng
Thị trường xây dựng dân dụng ; thị trường xây dựng công nghiệp ; thị
trường xây dựng công trình giao thông vận tải ; thị trường xây dựng công
thình thuỷ lợi, hoặc theo chủng loại công việc xây dựng như : công việc làm
đất, công việc làm bê tông, công việc san nền
- Phân loại theo nhân tố địa lý, thị trường xây dựng trong nước và
ngoài nước, thị trường xây dựng thành thị hay nông thôn.
- Phân loại thị trường theo tính cạnh tranh: thị trường độc quyền thị
trường cạnh tranh không hoàn hảo.
Căn cứ vào tình hình phân loại thị trường và tình hình năng lực thực
tiễn của mình công ty đề ra các chính sách thâm nhập vào thị trường nào, thị
trường nào đang có thế mạnh để phát huy. Để làm được điều này, công ty
phải có chiến lược tiếp cận với chủ đầu tư để đặt quan hệ hợp tác giữ vững thị
trường mà công ty đã chiếm lĩnh được.
c.Đối với chính sách giá
Như chúng ta đã biết "giá" là nhân tố quan trọng quyết định đến việc
“được“ hay “mất” khi tham gia tranh thầu.
Việc tính toán giá dự thầu là rất khó khăn, phức tạp và phụ thuộc vào
nhiều nhân tố như quy mô công trình, thời gian xây dựng điều kiện địa
Để tăng khả năng thắng thầu đòi hỏi công ty phải tập trung tất cả lực
lượng và có thể sử dụng một chiến lược tổng hợp.
Biện pháp 5: Quản lý nhân công
Với các công trình chi phí nhân công thường chiếm tỷ trọng trong giá
thành khá lớn. Do công ty trả lương cho công nhân theo tháng vì vậy cần
giám sát chặt chẽ tiến độ thi công của mỗi công trình tránh việc kéo dài tiến
độ thi công làm tăng chi phí nhân công, giảm tiến độ bàn giao, dẫn đến giá dự
thầu cao giảm khả năng trúng thầu của công ty. Để tránh tình trạng này công
ty nên áp dụng một số biện pháp trong quản lý dự án khi lập biện pháp thi
công để xác định thời gian thi công cho công trình như: Biểu đồ thang hay
biểu đồ GANTT, Sơ đồ mạng hoạt động (PERT/CPM). Đối với biểu đồ thanh
(GANT): Sau khi thể hiện trên biểu đồ bộ phận quản lý thi công sẽ nhận ra dễ
dàng các nhiệm vụ, công việc có thể tiến hành đồng thời nhằm để có kế hoạch
phối hợp. Đối với sơ đồ mạng hoạt động(PERT/CPM) người quản lý thi công
sẽ xác định được quãng thời gian tối thiểu cần hoàn thành công trình, xác định
được đường Găng mà bất kỳ sự chậm chễ nào đều làm giảm tiến độ thi công.
Với biện pháp này công ty có thể quản lý chặt chẽ tiến độ thi công đồng thời
có thể tăng tiến độ góp phần hạ được giá thành dự thầu, tăng khả năng cạnh
tranh khi tham gia dự thầu
III. MỘT SỐ KIẾN NGHỊ VỚI NHÀ NƯỚC NHẰM NÂNG CAO HIỆU
QUẢ CÔNG TÁC ĐẤU THẦU CỦA CÔNG TY XÂY DỰNG 319.
Nghị định 88/CP ngày 01-09-1999 ban hành quy chế đấu thầu và nghị
định 14/CP ngày 05-05-2000 của Chính phủ sửa đới bổ sung quy chế trên là
Chuyªn ®Ò thùc tËp tèt nghiÖp 68
một bước cải tiến, đổi mới so với những quy chế đấu thầu ban hành theo Nghị
định 43/CP và 93/CP trước đây, nhằm từng bước hoàn thiện cơ chế đấu thầu
chặt chẽ này.
+ Trường hợp thứ hai
Chuyªn ®Ò thùc tËp tèt nghiÖp 69
Khi đấu thầu mà không thể “ thoả thuận ngầm” với nhau được thì các
nhà thầu sẽ giảm giá dự thầu xuống thấp tuỳ ý để trúng thầu, bất chấp cơ sở
của những xây dựng cần thiết mà gói thầu yêu cầu, nên dẫn đến các công trình
xây dựng không đảm bảo chất lượng. Thậm chí có nhà thầu còn bỏ cuộc
không thể triển khai được hợp đồng hoặc bỏ dở dang công trình
Khi đấu thầu có giá trần và sàn được tính toán chuẩn xác và chặt chẽ thì
dù trong trường hợp các nhà thầu có “thoả thuận ngầm” với nhau giá của nhà
trúng thầu vẫn nằm trong khoảng giới hạn trên (giá trần) và giới hạn dưới (giá
sàn) đã được xem xét, tính toán một cách khách quan trước khi đấu thầu. Do
vậy, đề nghị với nhà nước nên quy định giá sàn (giá tối thiểu) và giá trần (giá
giới hạn trên) trong quy chế đấu thầu. Điều này giúp cho công tác đấu thầu
tăng thêm tính cạnh tranh, lành mạnh, công bằng, minh bạch, chống lãng phí
và thất thoát trong công tác quản lý đầu tư và xây dựng của Nhà nước.
KẾT LUẬN Đấu thầu nói chung và đấu thầu xây dựng nói riêng là một hoạt động
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO
Sách và giáo trình
1.Giáo trình “ Kinh tế quản trị Kinh doanh xây dựng" - GS.TS Nguyễn Văn
Chọn- NXB Khoa học kỹ thuật-1996.
2. Giáo trình “Hiệu quả và quản lý dự án Nhà nước" TS.Mai Văn Bưu-
NXB Khoa học kỹ thuật-HN 1998 - Khoa khoa học quản lý - Trường
ĐHKTQD.
Văn bản pháp luật
1.Nghị định CP 88/ 1999 / NĐ-CP của chính phủ về việc ban hành quy chế
đấu thầu ngày 01/9/1999.
2.Thông tư số 04/2000/thị trường-BKH ngày 26/5/2000 hướng dẫn thực
hiện quy chế đấu thầu (Ban hành kèm theo nghị định số 88/ 1999 / NĐ-
Chuyªn ®Ò thùc tËp tèt nghiÖp 71
CP ngày 01/9/1999 và nghị định số 14/2000/NĐ-CPngày 05/5/2000 của
Chính Phủ.
Tạp chí
1.Tạp chí kinh tế xây dựng - Số 6/1999
2.Tạp chí kinh tế xây dựng - Số2/2000
3.Tạp chí kinh tế xây dựng - Số3/2000
4.Tạp chí kinh tế xây dựng - Số4/2000
72
3.3. Điều kiện đấu thầu quốc tế và ưu đãi nhà thầu. 6
II. Nội dung, trình tự tổ chức đấu thầu xây dựng 7
1. Nội dung, trình tự tổ chức đấu thầu xây dựng 7
2. Nội dung, trình tự dự thầu xây dựng của các doanh nghiệp xây
dựng 13
III. Một số chỉ tiêu đánh giá hiệu quả công tác đấu thầu của doanh
nghiệp xây dựng 15
1. Các nhân tố ảnh hưởng đến việc thắng thầu của một tổ chức xây
dựng 15
1.1. Năng lực của tổ chức xây dựng 15
1.2. Khả năng cạnh tranh của tổ chức xây dựng 18
1.3. Những nhân tố bên ngoài tổ chức 20
2. Một số chỉ tiêu đánh giá hiệu quả công tác đấu thầu với các
doanh nghiệp xây lắp 21
2.1. Chỉ tiêu số lượng công trình trúng thầu và giá trị trúng thầu
hàng năm 21
2.2. Chỉ tiêu xác suất trúng thầu 21
2.3. Chỉ tiêu thị phần và uy tín của doanh nghiệp xây dựng trên
thị trường xây dựng 22
Chương II: Tình hình thực hiện công tác đấu thầu tại Công ty xây
dựng 319 23
I. Giới thiệu chung về Công ty xây dựng 319 23
1. Quá trình hình thành và phát triển 23
2. Đặc điểm về cơ cấu tổ chức quản lý và cơ cấu tổ chức sản xuất 24
2.1. Cơ cấu tổ chức quản lý 24
2.2. Cơ cấu tổ chức sản xuất. 28
II. Những đặc điểm kinh tế kỹ thuật chủ yếu ảnh hưởng đến việc dự
1. Định hướng phát triển 52
2. Một số mục tiêu chính 52
2.1. Cơ cấu sản lượng 53
2.2. Về cơ cấu các công trình trong thi công xây lắp 53
2.3. Về cơ cấu địa bàn hoạt động 53
II. Một số giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả công tác đấu thầu tại
Công ty xây dựng 319 53
III. Một số kiến nghị với Nhà nước nhằm nâng cao hiệu quả công tác
đấu thầu của Công ty xây dựng 319 67
Kết luận 69
Danh mục tài liệu tham khảo 70