BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO BỘ NÔNG NGHIỆP VÀ PTNT
HỌC VIỆN NÔNG NGHIỆP VIỆT NAM
VŨ THỊ HOÀI THU NGHIÊN CỨU MỘT SỐ ĐẶC ĐIỂM BỆNH LÝ
CỦA BỆNH CẦU TRÙNG Ở THỎ TRÊN ĐỊA BÀN
TỈNH BẮC GIANG
CHUYÊN NGÀNH : THÚ Y
MÃ SỐ : 60.64.01.01 NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC :
PGS.TS. NGUYỄN HỮU NAM
HÀ NỘI – 2014
Tôi xin trân trọng cảm ơn Ban Giám đốc, tập thể các thầy giáo, cô giáo, Ban
chủ nhiệm Khoa Thú y – Học viện Nông nghiệp Việt Nam và khoa Chăn nuôi –
Thú y – Trường Đại học Nông lâm Bắc Giang đã tạo mọi điều kiện thuận lợi giúp
tôi hoàn thành luận văn.
Chân thành cảm ơn các trại và hộ chăn nuôi thỏ ở địa phương và đội ngũ thú
y viên cơ sở trên địa bàn tỉnh Bắc Giang đã tạo mọi điều kiện giúp tôi được thực tập
và có được số liệu thực tế để xây dựng luận văn.
Nhân dịp này tôi xin trân trọng cảm ơn bạn bè, đồng nghiệp và gia đình đã giúp
đỡ, tạo điều kiện, động viên tôi trong quá trình học tập và hoàn thành luận văn này.
Hà Nội, ngày 20 tháng 10 năm 2014
Tác giả luận văn
Vũ Thị Hoài Thu Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp
Page iii
MỤC LỤC
Lời cam đoan i
Lời cảm ơn ii
Mục lục iii
Danh mục viết tắt iv
Danh mục bảng v
Danh mục biểu đồ vii
Danh mục hình vii
MỞ ĐẦU 1
2.4.1 Phương pháp lấy mẫu 20
2.4.2 Phương pháp xác định các chỉ tiêu nghiên cứu 20
2.4.3 Phương pháp xử lý số liệu. 23
Chương 3 KẾT QUẢ VÀ THẢO LUẬN 24
3.1 Kết quả nghiên cứu một số đặc điểm dịch tễ của bệnh cầu trùng thỏ 24
3.1.1 Tỷ lệ nhiễm cầu trùng trên giống thỏ Nội và thỏ NewZealand tại một
số huyện của tỉnh Bắc Giang. 24
3.1.2 Kết quả xác định cường độ nhiễm cầu trùng trên giống thỏ Nội và thỏ
New Zealand tại một số huyện của tỉnh Bắc Giang 26
3.1.3 Tỷ lệ và cường độ nhiễm cầu trùng thỏ theo lứa tuổi. 28
3.1.4 Tỷ lệ nhiễm và cường độ nhiễm cầu trùng thỏ theo mùa vụ 35
3.1.5 Tỷ lệ và cường độ nhiễm cầu trùng theo tình trạng vệ sinh thú y 38
3.1.6 Tỷ lệ và cường độ nhiễm cầu trùng thỏ theo trạng thái phân. 41
3.2 Kết quả xác định loài cầu trùng ký sinh ở thỏ 45
3.3 Nghiên cứu một số chỉ tiêu huyết học 47
3.3.1 Nghiên cứu một số chỉ tiêu hệ hồng cầu. 47
3.3.2 Ngiên cứu một số chỉ tiêu hệ bạch cầu. 51
3.4 Kết quả nghiên cứu một số triệu chứng lâm sàng và bệnh tích ở thỏ
mắc bệnh cầu trùng 53
3.4.1 Kết quả theo dõi triệu chứng lâm sàng của thỏ mắc bệnh cầu trùng. 53
3.4.2 Bệnh tích của thỏ mắc bệnh cầu trùng 56
KẾT LUẬN VÀ ĐỀ NGHỊ 61
1 Kết luận 61
2 Đề nghị 62
TÀI LIỆU THAM KHẢO 63
Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp
Page v
DANH MỤC VIẾT TẮT
và thỏ đối chứng. 48
3.13 So sánh số lượng hồng cầu của thỏ bị bệnh cầu trùng và thỏ đối chứng 48
3.14 So sánh giá trị trung bình hàm lượng Hemoglobin (g/l) của thỏ bị bệnh
cầu trùng và thỏ đối chứng 49
3.15 So sánh giá trị trung bình lượng huyết sắc tố bình quân trong một
hồng cầu ở thỏ bị bệnh cầu trùng và thỏ đối chứng. 50
3.16 Kết quả khảo sát một số chỉ tiêu hệ bạch cầu ở thỏ bị bệnh cầu trùng
và thỏ đối chứng. 51
3.17 So sánh số lượng bạch cầu của thỏ bệnh và thỏ đối chứng 52
3.18 Tỷ lệ và những biểu hiện lâm sàng của thỏ nhiễm cầu trùng 54
3.19 Tỷ lệ các bệnh tích đại thể ở cơ quan tiêu hoá của thỏ mắc bệnh cầu trùng 57
3.20 Kết quả xác định bệnh tích vi thể của thỏ nhiễm cầu trùng.
58
Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp
Page vii
DANH MỤC BIỂU ĐỒ
STT Tên biểu đồ Trang
3.1 Tỷ lệ nhiễm cầu trùng thỏ trên địa bàn tỉnh Bắc Giang 25
3.2 Tỷ lệ nhiễm cầu trùng của hai giống thỏ Nội và thỏ New Zealand theo lứa tuổi 35
3.3 Tỷ lệ nhiễm cầu trùng thỏ theo mùa vụ 38
3.4 Tỷ lệ nhiễm cầu trùng thỏ theo tình trạng vệ sinh thú y 41
3.5 Tỷ lệ nhiễm cầu trùng thỏ theo trạng thái phân 44
3.6a Công thức bạch cầu thỏ bị bệnh cầu trùng 52
3.6b Công thức bạch cầu thỏ đối chứng. 52 DANH MỤC HÌNH
ngành công nghiệp chế biến. Với mô hình trang trại hay gia trại, chăn nuôi thỏ giữ
vai trò quan trọng trong việc xoá đói giảm nghèo cho bà con nông dân. Nhiều hộ gia
đình đã vươn nên làm giàu b
ằng nghề chăn nuôi thỏ.
Song, trong nhiều năm qua bệnh dịch vẫn là yếu tố gây thiệt hại đáng kể cho
ngành chăn nuôi này. Là một nước nằm trong khu vực khí hậu nhiệt đới nóng ẩm,
Việt Nam có khu hệ ký sinh trùng động vật phong phú và đa dạng, gây ra nhiều
bệnh ký sinh trùng cho đàn gia súc, gia cầm, gây thiệt hại đáng kể cho người chăn
nuôi trong đó có bệnh cầu trùng (Eimeriosis) ở thỏ. Đề cập đến tác hại của bệnh,
Johan và cộng sự (1988) cho biết: Bệnh có thể làm thỏ hấp thu thức ăn kém hơn 7-
8% và tăng trọng thấp hơn 40 -350g trong suốt thời gian vỗ béo, cuối cùng làm thỏ
chết. Bệnh cầu trùng thỏ có thể phát sinh thành những ổ dịch lớn. gây ra nhiều thiệt
hại về kinh tế cho người chăn nuôi, tỷ lệ thỏ chết lên tới 70-100%. Tuy nhiên, trong
những năm gần đây việc nghiên cứu về bệnh cầu trùng thỏ chỉ quan tâm đến cường
độ nhiễm, đặc điểm dịch tễ mà ít chú ý đến đặc điểm bệnh lý, biểu hiện lâm sàng
của bệnh.
Vì vậy, xuất phát từ thực tế đó chúng tôi tiến hành nghiên cứu đề tài:
“Nghiên cứu một số đặc điểm bệnh lý của bệnh cầu trùng ở thỏ trên địa bàn tỉnh
Bắc Giang”.
Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp
Page 2
2. Mục tiêu của đề tài
- Xác định tỷ lệ nhiễm cầu trùng trên đàn thỏ nuôi tại một số huyện thuộc
tỉnh Bắc Giang.
- Làm rõ các đặc điểm bênh lý của bệnh cầu trùng ở thỏ nhằm góp phần hoàn
thiện những thông tin về bệnh, cung cấp cơ sở khoa học để xây dựng quy trình chẩn
đoán bệnh.
Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp
Page 4
1.2. Tình hình nghiên cứu bệnh cầu trùng thỏ
1.2.1. Tình hình nghiên cứu trên thế giới
Cầu trùng là những bào tử trùng hình trứng hay hình cầu, có nguyên sinh
chất dạng hạt, giữa nguyên sinh chất có một nhân tương đối to, ký sinh chủ yếu ở
các tế bào biểu bì của nhiều loại gia súc, gia cầm và cả con người.
Cầu trùng được phân loại như sau:
Tộc: Eukaryota.
Giới: Chromalveolata.
Trên ngành: Alveolata.
Ngành: Apicomplexa.
Lớp: Conosidasida.
Bộ: Eucoccidiorida.
Họ: Eimerridae.
Giống: Eimeria và Isospora.
Cầu trùng thỏ thuộc giống Eimeria, trong từng giống lại bao gồm các loài
khác nhau.
Hiện nay người ta đã phân lập được khoảng 25 loài cầu trùng ký sinh trong
đường tiêu hóa của thỏ.
Tác giả nghiên đầu tiên về các noãn nang cầu trùng ở thỏ là Hake (1839), rồi
đến các công trình nghiên cứu của Lindermann (1863), sau đó là Leuckart (1879)
gọi thể bệnh ở gan là Coccidium oviforme và thể bệnh ở ruột là coccidium
perforans, (Đỗ Dương Thái và Trịnh Văn Thịnh, 1978).
Theo nghiên cứu của Orlop M.P (1936) cho thấy, tỷ lệ loại thải thỏ non do
mắc bệnh cầu trùng phụ thuộc vào độ nhiễm cầu trùng của thỏ mẹ. Những thỏ con
thuộc nhóm mà thỏ mẹ nhiễm bệnh nhẹ thì tỷ lệ chết là 8% và chỉ thấy 37% số con
có trứng cầu trùng; Trong nhóm thỏ mẹ nhiễm bệnh ở mức trung bình thì tỷ lệ chết
ở thỏ con là 17,5% và có 78% số con có trùng cầu trùng; Trong nhóm thỏ mẹ
1.2.2. Tình hình nghiên cứu tại Việt Nam
Do tính chất nguy hiểm của cầu trùng gây ra đối với gia súc, gia cầm nên đã
có nhiều nghiên cứu về cầu trùng và bệnh cầu trùng. Tuy nhiên những nghiên cứu
về bệnh cầu trùng thỏ ở nước ta vẫn còn hạn chế.
Phạm Hùng (1978) nghiên cứu về bệnh cầu trùng thỏ, tác giả cho biết đã tìm
thấy 2 loài E. Stiedae và E. Perforans ký sinh ở thỏ nuôi tại các tỉnh phía nam
(Lương Văn Huấn Và Lê Hữu Khương, 1997).
Lương Văn Huấn và Trần Kim Lan (1989) kiểm tra 90 thỏ nuôi tại viện
Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp
Page 6
Pasteur Nha Trang cho biết: có 6 loại cầu trùng ký sinh ở thỏ E. Perforans,
E. Media, E. Magna, E. Irresidua, E. Piriformis, E. intestinalis. Trong đó loài
E.Perforans chiếm tỷ lệ (35,5%), E. Media (28%), E. Magna (10%), các loài còn
lại chiếm tỷ lệ thấp dưới 8%.
Nguyễn Quang Sức (1994) đã xác định được 9 loài cầu trùng ký sinh ở đàn
thỏ New-zealand nuôi ở trung tâm Dê và Thỏ Sơn Tây, trong đó có 3 loài gây bệnh
nặng là: E. Pirifomis, E. Intestinalis, E. Flavescens. 3 loài gây bệnh trung bình là:
E. Stiedae, E. Magna, E. Irresidua, và 3 loài gây bệnh nhẹ: E. Perforans,
E. Media, E. Coeciola.
Nguyễn Hữu Hưng và cs (2008) kiểm tra 465 mẫu phân thỏ nuôi tại thành
phố Cần Thơ và tỉnh Sóc Trăng cho biết tỷ lệ nhiễm cầu trùng là 65,16%, tác giả đã
xác định được 5 loại cầu trùng ký sinh ở thỏ là: E. Perforans, E. Media, E. Magna,
E. Stiedae, E. Irresidua.
Theo Lê Văn Năm (2006), cho biết có ít nhất 5 chủng cầu trùng ký sinh và
gây bệnh cho thỏ là: E. Perforans, E. Media, E. Magna, E.stidedae, E.irresidua.
Phạm Khắc Hiếu và cs (1997), các thuốc sử dụng phòng trị cầu trùng là: Các
Sulfamid, thuốc có nguồn gốc Triazin; thuốc có nguồn gốc Triazin; thuốc có nguồn
gốc Piridin, Quinolin, Pirimidin; các dẫn xuất của Guanidin; các dẫn xuất của Purin.
1.3. Một số đặc điểm sinh lý tiêu hóa của thỏ
Nếu thức ăn cứng khó tiêu dễ gây viêm dạ dày, viêm ruột. Thức ăn trong dạ dày
được phân hóa chất đạm nhờ dịch dạ dày, nếu thiếu muối trong khẩu phần ăn thì
dịch dạ dày tiết ra ít, thỏ sẽ không sử dụng hết phần đạm trong nguồn thức ăn.
Ở ruột non, các chất đạm, đường, mỡ được phân giải nhờ các men tiêu hóa ở
dịch ruột. Các chất dinh dưỡng cũng được hấp thu chủ yếu ở đây. Nếu ruột non bị
viêm do vi trùng, cầu trùng thì không hấp thu được hết dinh dưỡng từ thức ăn, thỏ
gầy yếu.
Ở ruột già chủ yếu hấp thu nước và muối. Trong đường ruột của thỏ tạo
thành hai loại phân: Phân cứng: viên tròn, thỏ không ăn; phân mềm: gồm nhiều viên
nhỏ mịn, dính kết vào nhau được tạo ở manh tràng, những viên phân đó được thải ra
ngoài ban đêm gọi là “phân vitamin”, khi thải ra đến hậu môn thì thường được thỏ
cúi xuống ăn ngay, nuốt chửng vào dạ dày và các chất dinh dưỡng được hấp thu lại
ở ruột non. Dựa vào đặc tính ăn “phân vitamin” này người ta gọi thỏ là loại “nhai lại
giả”. Thành phần hóa học của hai loại phân này có khác nhau rõ rệt:
Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp
Page 8
Bảng 1.2. Thành phần hóa học của hai loại phân thỏ
Thành phần hóa học Phân cứng Phân mềm
VCK (%) 52,7 38,6
Protein thô (%) 15,4 25,7
Chất béo thô (%) 30,0 17,8
Khoáng tổng số (%) 13,7 15,2
Thỏ con còn bú mẹ không có hiện tượng ăn phân, hiện tượng này chỉ hình
thành khi thỏ đến 3 tuần tuổi. Phân cứng còn gọi là phân ban ngày, phân mềm còn
gọi là phân ban đêm. Như vậy thỏ ăn phân trong môi trường yên tĩnh.
1.4. Bệnh cầu trùng thỏ
1.4.1. Định nghĩa bệnh
Bệnh cầu trùng là một bệnh đơn bào ký sinh ở đường tiêu hoá của nhiều gia
* Eimeria media: Nang trứng hình bầu dục nhưng có thể có dạng elip. Lỗ
noãn trông rất rõ có thể thấy bề dầy lớp vỏ ngoài. Vỏ nang trứng mầu vàng sáng hay
nâu vàng, kích thước: 18,6-33,3 x 13,3- 21,3 micron. Sau thời kỳ sinh bào tử hình
thành các thể cặn trong nang trứng và trong bào tử. Thời gian sinh bào tử 2-3 ngày.
Cầu trùng phát triển nội sinh trong tá tràng và phần trên ruột non (Kessel, 1929).
* Eimeria magna: Nang trứng hình bầu dục, lỗ noãn trông rất rõ, trong lỗ
noãn thấy được vỏ ngoài dầy. Vỏ nang trứng mầu vàng da cam hay nâu. Sau thời
kỳ sinh bào tử có thể cặn trong nang trứng và bào tử. Kích thước nang trứng 26,6-
41,3 x 17,3- 29,3 micron, trung bình là 32,9- 37,2 x 21,5- 25,5 micron. Sinh sản
bào tử 3-5 ngày. Phát triển nội sinh ở phần giữa và phần dưới ruột non. Đôi khi các
giao tử loài này còn thấy trong manh tràng và trực tràng (Perard, 1925).
* Eimeria irresidua: Các nang trứng hình elip hay bầu dục, phần cuối nang
trứng mở rộng ở đó có lỗ noãn. Nang trứng mầu nâu sáng hay nâu tối. Kích thước
25,3- 47,8 x 15,9- 27,9 micron, trung bình là 35-40 x 20-23 micron, sau thời kỳ
sinh sản bào tử chỉ trong bào tử có thể cặn. Sinh sản bào tử 3-4 ngày. Chu kỳ phát
triển nội sinh ở phần giữa ruột non (Kessel và Jankiewiez, 1931).
* Eimeria piriformis: Nang trứng hình quả trứng hay hình quả lê, mầu nâu
vàng. Ở phần hẹp của nang trứng có lỗ noãn trông rất rõ. Kích thước nang trứng,
theo E.M. Khâyxin (1967), 26-32,5 x 14,6- 19,5 micron, trung bình là 29,6- 31,7 x
17,7- 18,5 micron. Chỉ có thể cặn trong bào tử sau khi sinh bào tử. Phát triển nội
Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp
Page 10
sinh trong ruột già, chủ yếu là những khe biểu bì. Pellerdy (1953,1965) cho rằng
thời kỳ phát triển nội sinh của loài cầu trùng này là ở ruột non (Kotlan và Pospesch,
1934).
* Eimeria coecicola: Trong một thời gian dài người ta coi cầu trùng này như
loài Eimeria magna hay Eimeria media, sau đó những nghiên cứu của E.M.
Khâyxin (1967) cho thấy các nang trứng của Eimeria coecicola khác với hai loài kể
trên về mặt hình thái và sinh vật học. Nó có hình trụ hay hình bầu dục. Lỗ noãn
cầu trùng thỏ
(Sophia Renaux, 2001)
1.4.3. Qúa trình phát triển của các loại cầu trùng (Quá trình phát triển sinh học)
Cầu trùng thuộc nhóm nguyên sinh vật có quá trình phát triển tương đối hoàn
chỉnh và phức tạp. Quá trình đó phải trải qua ba giai đoạn: Thể phân lập, giao tử và
bào tử nang. Hai giai đoạn đầu (thể phân lập và giao tử) phát triển trong cơ thể động
vật ký chủ, giai đoạn 3 phát triển ở ngoài cơ thể - môi trường tự nhiên.
* Giai đoạn phát triển thể phân lập (sinh sản vô tính)
Đây là quá trình bắt đầu từ khi bào tử nang qua đường miệng vào đường
ruột. Dưới tác dụng của dịch dạ dày ruột, vỏ cứng, bào tử nang cầu trùng bị phá vỡ
và các cầu trùng thâm nhập ngay lập tức vào các tế bào biểu bì ruột và các cơ quan
nội tạng khác. Chúng sinh trưởng nhanh chóng và sinh sản dữ dội theo cách tự nhân
đôi. Chúng có dạng hình tròn hoặc ovan chứa nhân to tạo thành thể phân lập I hay
còn gọi là Schizont 1.Trong mỗi thể phân lập I tự hình thành nhiều tế bào có hình
que gọi là Merozoit. Chúng lớn lên nhanh chóng và làm vỡ các tế bào biểu bì nơi
chúng khu trú và thâm nhập tiếp vào các tế bào biểu bì khác bên cạnh. Cũng tương
tự như quá trình phát triển nêu trên chúng sinh sản theo cách tự nhân đôi trong các
Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp
Page 12
tế bào biểu bì mới và hình thành ra thể phân lập II. Quá trình phát triển như thế theo
cơ chế phản ứng dây chuyền hạt nhân phân tử dễ tạo ra các thể phân lập III, IV…
Tùy thuộc vào bản chất loại cầu trùng để có thể phân lập I, II, III, IV, V… với thời
gian ngắn từ 5-6 ngày. Cơ thể sinh trưởng và phát triển như vậy là nguyên nhân phá
hủy hàng triệu triệu tế bào biểu bì ruột và các cơ quan nơi chúng khu trú gây viêm,
rối loạn chức năng, tạo điều kiện cho các bệnh nhiễm trùng thứ phát phát triển.
Tóm lại quá trình từ khi thâm nhập vào cơ thể đến khi tạo được thể phân lập
cuối cùng được gọi là giai đoạn phát triển thể phân lập hay giai đoạn sinh sản vô tính.
* Giai đoạn phát triển giao tử - sinh sản hữu tính:
bệnh tiềm tàng thứ hai, do bào tử nang có khả năng tồn tại bên ngoài thiên nhiên
nhiều tháng, nhiều năm nên ở đâu nuôi thỏ là ở đó có bệnh cầu trùng.
- Bệnh có thể xảy ra do nhiễm trực tiếp từ các noãn nang, bào tử nang cầu
trùng từ các nguồn bệnh kể trên và do người chăn nuôi, động vật hoang (chuột, chó,
mèo ) mang mầm bệnh từ nơi khác đến.
- Các yếu tố về mật độ thỏ, điều kiện thiên nhiên, khí hậu bất thường, ăn
uống không đảm bảo chất lượng sẽ thúc đẩy bệnh dễ bùng phát hơn và nặng nề hơn.
- Tất cả các giống thỏ, tuổi thỏ đều bị bệnh nhưng dễ bị bệnh nhất là thỏ ở
Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp
Page 14
lứa tuổi lúc trước và sau cai sữa.
- Mùa phát bệnh: Thường phát vào mùa ẩm có mưa nhiều. Thỏ lớn và thỏ mẹ
là nguồn gieo rắc truyền lây mầm bệnh cho thỏ con. Những noãn nang ở vú thỏ mẹ
thường ở giai đoạn gây nhiễm (cả ở mùa đông, nhiệt độ thấp). Thỏ con bị nhiễm
thông qua vú mẹ thường xảy ra.
- Miễn dịch của thỏ với cầu trùng thỏ xuất hiện trong thời gian ngắn, nên
bệnh vẫn phát ra khi tái nhiễm.
1.4.5. Cơ chế sinh bệnh
Do độc tố của cầu trùng, độc tố ruột, cùng với tác động của vi sinh vật đường
ruột gây tác động làm rối loạn hệ thần kinh của thỏ. Khi tế bào biểu mô ruột, gan bị
phá hủy, quá trình tiêu hóa bị rối loạn, làm con vật bị suy yếu, thiếu máu, mạch đập
chậm. Do tế bào biểu mô ruột bị tổn thương, tạo điều kiện tốt cho vi khuẩn của ruột
sinh trưởng và phát triển, sinh ra độc tố. Thỏ hấp thu những độc tố này nên bị trúng
độc nặng, thường biểu hiện: co giật, ruột phình to, thiếu máu.
1.4.6. Triệu chứng lâm sàng
Các biểu hiện lâm sàng phụ thuộc vào nhiều yếu tố:
- Chủng loại cầu trùng
- Nơi chúng ký sinh
- Sức khỏe và khả năng kháng bệnh của thỏ
thể cầu trùng riêng rẽ như mô tả trên.
1.4.7. Bệnh tích cầu trùng thỏ
* Cầu trùng ruột ở dạng cấp
- Viêm ruột xuất huyết, đôi khi có cả viêm hoại tử có màng bám dính dễ bóc.
- Ruột nhìn từ bên ngoài đã thấy chứa nhiều hơi, có nhiều đốm trắng lẫn đốm
đỏ. Tại các đốm trắng đó có nhiều bào tử cầu trùng.
* Cầu trùng dạng ruột mạn tính
Màng ruột non và ruột thừa cũng thấy các đốm màu ghi xám trắng, đôi chỗ
có nốt hoại tử chứa nhiều bào tử cầu trùng.
* Cầu trùng thể gan mật
- Gan sưng rất to và bị thoái hóa.
- Ống dẫn mật dãn rộng, thành ống mật dày lên (viêm ống dẫn mật –
cholangitis).
- Trên bề mặt gan và cả trong gan có những đốm màu vàng trắng với độ to
Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp
Page 16
nhỏ khác nhau. Khi cắt đôi ta thấy có một chất ghi màu xám được bọc một lớp mô
tạo ra giống ổ lao. Chất ghi xám đó chứa nhiều bào tử cầu trùng, các tế bào chết
trong quá trình viêm và mủ.
* Cầu trùng vùng vòm họng và niêm mạc mũi, mắt…
Niêm mạc bị đỏ hoặc vàng xám, sưng họng, mí mắt sưng và có ghèn mắt (rỉ
mắt) tức là vùng họng bị viêm và mí mắt cũng bị viêm.
1.4.8. Chẩn đoán bệnh cầu trùng thỏ
- Bệnh cầu trùng thỏ dễ dàng được chẩn đoán dựa trên các biểu hiện lâm
sàng và bệnh tích mỗ khám:
- Thỏ giảm hoặc bỏ ăn, gầy nhanh.
- Tiêu chảy mạnh, phân lẫn máu.
- Thỏ bị chướng hơi đầy bụng và tích nước xoang bụng (sệ bụng)
- Thiếu máu, vàng da vàng mắt, vàng các niêm mạc mắt, mũi, họng.
Hiện nay, ở Châu Âu người ta đã sử dụng một loại thuốc sau để điều trị cầu
trùng thỏ như:
- Metichlorpindol hoặc Clopidol (125–200 ppm), Meticlorpindol +
Methylbenzoquate (220 ppm), Robenidine (50-60 ppm), Salinomycin (20-25 ppm)
và Diclazuril (1 ppm), điều trị 5-7 ngày.
- Robenidine (33 ppm) và Meticlopindol (200 ppm).
- Có thể dùng Amprolium với tỷ lệ 0,02% trong thức ăn có tác dụng cho cả
cầu trùng ở ruột non và cầu trùng gan mật, (Parastiology.informatik.uniwuerzburg
.de/login/n/h/2113.htn).
- Sulfaquinoxaline với nồng độ 0,04% cho 30 ngày có tác dụng điều trị
E.stiedae ở thể nặng.
- Sulfaquinoxaline với nồng độ 0,04% cho 30 ngày có tác dụng điều trị
E.stiedae ở thể nặng.
- Sulfaquinoxaline trộn với thức ăn theo tỷ lệ 0,02% trong 20 ngày.
- Sulfadimethoxine (0,5 – 0,7g/l nước cho uống), Sulfadimerazine (2g/l nước).
- Ngoài ra có thể sử dụng một số thuốc khác như: Salinomycine, Diclazuril
và Toltrazuril. Điều trị tối thiểu là 5 ngày rồi điều trị tiếp 5 ngày
(Merckvetmanual.com/mvm/htm/bc/171332.htm-cached-Similar).
Theo Nguyễn Hữu Hưng và cs (2008), đã thử nghiệm 4 loại thuốc sau:
1. Rigecoccin – WS liều 1g/30kg P × 5 ngày liên tục.