1
Luận văn nghiên cứu chuyên khoa cấp II chuyên ngành Tâm Thần
Bác sĩ LÂM TỨ TRUNG
Đánh giá hiệu quả phương pháp SMART VN trong điều trị hỗ trợ
các học viên nghiện ma tuý tại trung tâm giáo dục 05-06
thành phố Đà Nẵng
ĐẶT VẤN ĐỀ
Ma tuý đã được sử dụng từ xa xưa. Nhưng trong thời gian gần đây
nghiện ma tuý trở thành một vấn đề của xã hội. Theo báo cáo của chương
trình kiểm soát ma tuý của Liên Hiệp Quốc, tệ nạn ma tuý đã lan tràn phổ
biến trên khắc các lục địa. Toàn thế giới hiện nay có khoảng hơn 200 triệu
người lạm dụng ma tuý[4]. Nó không chỉ ảnh hưởng đến bản thân của người
nghiện mà còn gây các tác hại đến cuộc sống của gia đình và xã hội.
Điều trị nghiện ma tuý là một vấn đề được nhiều người quan tâm. Có
nhiều phương pháp để điều trị nghiện ma tuý. Trong điều trị nghiện ma tuý
có hai giai đoạn quan trọng là giải độc và chống tái nghiện. Tuy nhiên quan
trọng nhất là làm sao giảm được tỷ lệ tái nghiện của các đối tượng này. Theo
Uỷ ban phòng chống Ma tuý Quốc gia tỷ lệ tái nghiện chất dạng thuốc phiện
còn rất cao, sau khi đã điều trị và phục hồi chức năng lâu dài ở các trung tâm
cai nghiện (từ 6 tháng đến 2 năm), tái nghiện từ 80-90% thậm chí có nơi
100%.[7] Theo báo cáo của sở Lao động Thương binh và Xã hội thành phố
Đà Nẵng năm 2004, tỷ lệ tái nghiện là 46,08% [10].Các nhà khoa học đã liên
tục tìm các phương pháp để giải quyết vấn đề này. Nhưng tỷ lệ tái nghiện
vẫn tăng cao.
Trong các phương pháp để chống tái nghiện ma tuý có các chương
trình chống tái nghiện bằng tâm lý. Một trong các chương trình để phòng tái
2
nghiệm là SMART Recovery. Nó được sử dụng rộng rãi ở Hoa Kỳ. Hằng
tuần có khoảng hơn 300 cuộc gặp mặt và hơn 16 cuộc họp trên mạng
internet của chương trình SMART Recovery [16]. Phương pháp này xuất
phát từ các nước phương Tây nên việc thích ứng với nền văn hoá và phong
của từng tế bào thần kinh, làm giảm đau đớn, mệt mỏi, chúng kích thích hoạt
động nhanh nhạy của thần kinh làm cho người dùng ma tuý cảm thấy hết
đau đớn, hết mệt mỏi, có cảm giác “tỉnh táo”, “sảng khoái”, “lâng lâng, bay
bổng” một cách nhân tạo. Nếu dùng lặp lại cơ thể sẽ ngừng hoạt động sản
xuất morphine nội sinh mà hoàn toàn phụ thuộc chất MT từ bên ngoài được
đưa vào cơ thể. Vì vậy, khi người nghiện không sử dụng MT nữa sẽ gây nên
“trạng thái thiếu ma tuý”, hội chứng cai nghiện [4]. MT làm tăng khí sắc và
có tác dụng tạo khoái cảm. Chính tác dụng này làm cho người nghiện nhớ
mãi và thèm muốn sử dụng trở lại.
1.1.2 Các yếu tố xã hội
Thái độ của xã hội, áp lực bạn bè và sự có sẵn ma tuý trong cộng đồng là
các yếu tố tác động đến việc sử dụng MT
4
1.1.3 Các yếu tố nhân cách
Ta có thể thấy một số đặc điểm nhân cách nổi bật của thanh niên NMT:
- Họ là người có xu hướng thử nghiệm cái mới, thanh thiếu niên có thể đi
vào NMT do tính tò mò và mạo hiểm của lứa tuổi, muốn trải nghiệm những
cảm giác kỳ lạ của MT (do bạn bè kể lại) bất chấp sự ngăn cản của gia đình
và xã hội, bất chấp những hậu quả nghiệm trọng mà bản thân cũng đã nhận
thấy ở những người nghiện khác.
- Họ thiếu khả năng và ý chí vượt qua hoàn cảnh, thiếu kỹ năng ứng phó với
những hoàn cảnh có vấn đề xảy ra trong cuộc sống, với cái nhìn bi quan về
cuộc sống, về tương lai, không đặt ra mục đích cho tương lai từ thực tiễn
cuộc sống của mình. Với cuộc sống trống rỗng và thiếu mục đích rất có thể
làm cho con người trở nên gắn bó với MT [3], [15]
- Một số đối tượng tìm đến MT do các trạng thái bệnh lý tâm thần nhất thời
hoặc trường diễn. Thường gặp nhất là trạng thái lo âu, trầm cảm hoặc nhân
cách bệnh. Bên cạnh đó người ta chú ý đến những người có tính khuynh
hướng lạm dụng chất
- Những xung đột giữa sự ham muốn khẳng định mình và sự phụ thuộc trước
nghiện và bắt buộc lao động nặng. Kỷ luật sắt của quân đội, cảnh sát, lao
động nặng và học tập lý luận đạo Hồi trong thời gian 2-3 năm đã giúp người
nghiện trở về trạng thái cơ thể bình thường, tái hào nhập cộng đồng. Đây là
phương pháp đạt hiệu quả cao hiện nay trên thế giới[ 4]
6
1.2.1.2 Cắt cơn nghiện bằng các thuốc hướng thần: ngày 23 tháng 6 năm
1995 Bộ Y tế ban hành "hướng dẫn điều trị nghiện ma tuý bằng các thuốc
hướng thần", trong đó đề cập đến việc sử dụng các dẫn xuất Benzodiazepine
như diazepam kết hợp với thuốc an thần như Levomepromazine.
1.2.1.3 Cắt cơn nghiện bằng Catapressan (clonidine): tăng cường hoạt động
ức chế trên thụ thể alpha 2, giúp cơ thể trở về trạng thái cân bằng và mất hội
chứng cai. Liều dùng 0,075mg một lần, cứ 3 giờ một lần (liều hằng ngày
0,3-0,6mg/ngày).
1.2.1.4 Cắt cơn nhanh bằng clonidine- Naltrexone: Đây là phương pháp cắt
cơn an toàn, hiệu quả và hội chứng cai qua nhanh hơn
1.2.1.5 Cắt cơn nhanh dưới gây mê: sử dụng thuốc như trên nhưng kết hợp
việc sử dụng thuốc gây mê để tạo giấc ngủ cho bệnh nhân trong 1-3
ngày[17]
1.2.1.4 Cắt cơn nghiện bằng Methadone: Methadone là chất ma tuý tổng
hợp, có tác dụng đồng vận với heroin ở các thụ thể Muy ở não
1.2.2 Điều trị chống tái nghiện ma tuý
Cắt cơn chưa phải là điều trị chủ yếu, vấn đề quan trọng là điều trị tình
trạng lệ thuộc về mặt tâm thần, trạng thái thèm MT trường diễn gây ra tái
phát. Có những phương pháp để điều trị trạng thái này:
1.2.2.1 Điều trị bắt buộc tại các trung tâm thuộc Bộ Lao động Thương binh
và Xã hội.
1.2.2.2 Điều trị thay thế: Điều trị thay thế bằng Methadone được áp dụng lần
đầu tiên tại Hoa Kỳ vào năm 1964. Phương pháp điều trị thay thế có nghĩa là
thay thế nghiện một chất mạnh bằng một chất nhẹ hơn, thay thế nghiện một
chất bất hợp pháp thành nghiện một chất hợp pháp có kiểm soát của nhà
8
Thường dùng liệu pháp ám thị trong khi thức và ám thị hình thức cá nhân.
Liệu pháp này chủ yếu là để cắt cơn nghiện cho những người hoàn toàn tự
nguyện; hoặc đơn thuần hoặc kết hợp với các liệu pháp khác, như thuốc
hướng thần, xoa bóp, châm cứu
1.3.4. Liệu pháp thư giãn luyện tập
Thông qua cơ chế tự ám thị và cơ chế phản hồi giữa trương lực cơ và cảm
xúc, đồng thời thông qua các phương pháp luyện tập (các tư thế Yoga và
kiểu thở khí công) nhằm giúp người nghiện tạo ra một trạng thái tâm lý thoải
mái và giúp họ dần dần tự kiểm tra, điều khiển được ý nghĩ, hơi thở, hoạt
động của họ. Về lâu dài giúp họ rèn luyện khả năng tự kiềm chế, mà ở họ
hoặc không có hoặc khả năng này rất yếu.
1.3.5. Các nhóm tự lực (self-help)
Được phát triển trên cơ sở của nhóm rượu nặc danh (AA) và được gọi là
nhóm ma tuý nặc danh (NA). Trong đó người ta chú ý nhiều đến chương
trình 12 bước (12-steps program) và chương trình trị liệu cộng đồng
(community therapy)[18],[20], [21]
1.4 Phương pháp SMART VN
1.4.1 Chương trình SMART recovery
Đây là một tổ chức phi chính phủ với mục đích là giúp cho các thành
viên của họ duy trì được sự cai nghiện. Các chữ cái trong SMART là các
chữ cái đầu của các từ: Self Management And Recovery Training . Đây là
chương trình tự giúp đỡ dựa trên các chứng cứ khoa học. Nó xuất hiện đầu
tiên tại Hoa Kỳ vào năm 1994. Nó ra đời để đáp ứng nhu cầu của những
người có hành vi nghiện: như nghiện rượu, ma tuý, nghiện cờ bạc hoặc các
hành vi nghiện khác. Sau đó phương pháp này được phổ biến tại Úc,
Canada và châu Âu. Phần lớn các kỹ thuật dùng trong chương trình
SMART Recovery là áp dụng của liệu pháp nhận thức hành vi và đặc biệt
9
từ liệu pháp hành vi cảm xúc hợp lý của Albert Ellis. Thông thường liệu
Vấn đề1: Duy trì và củng cố động cơ ngừng sử dụng ma tuý
Vấn đề 2. Vai trò của gia đình trong việc ngăn ngừa tái sử dụng ma tuý
Vấn đề 3. Vai trò của bạn bè trong việc tái sử dụng ma tuý
Vấn đề 4. Đương đầu với các thúc giục sử dụng ma tuý
Vấn đề 5. Giải quyết các vấn đề trong cuộc sống
Vấn đề 6. Cân bằng cuộc sống [8]
Phương pháp được thực hiện theo trình tự các buổi họp, người điều hành là
các bác sĩ chuyên khoa Tâm thần đã được huấn luyện về phương pháp này.
Mỗi buổi họp có sự tham gia của 8-10 thành viên. Thời gian cuộc họp từ
1giờ đến 1giờ 30 phút.
1.5. Chương trình điều trị cho các đối tượng nghiện ma tuý tại Việt
Nam
Thông tư liên tịch số 31/1999/TTLT/BLĐTBXH-BYT về việc Hướng dẫn
quy trình cài nghiện, phục hồi sức khoẻ, nhân cách cho người nghiên ma tuý
đã đưa ra quy trình cai nghiện, phục hồi sức khoẻ, nhân cách cho người
nghiện ma tuý:
Cai nghiện, phục hồi sức khoẻ, nhân cách cho người nghiên ma tuý bao gồm
những hoạt động: y học, tâm lý, xã hội. Sau khi người nghiện được cai
nghiện, phục hồi sức khoẻ, nhân cách sẽ không sử dụng lại ma tuý và hoà
nhập cộng đồng. Quy trình cai nghiện được chia thành 5 giai đoạn sau:
Tiếp nhận phân loại;
Điều trị cắt cơn, giải độc;
Giáo dục phục hồi hành vi, nhân cách;
Lao động trị liệu, chuẩn bị tái hoà nhập cộng đồng, chống tái nghiện:
11
Quản lý lâu dài dựa vào cộng đồng.
1.5.1 Điều trị cắt cơn, giải dộc
- Áp dụng đúng bài thuốc và phác đồ Bộ Y tế đã ban hành.
- Thực hiện các biện pháp tâm lý, vật lý trị liệu, giúp cho người nghiện bớt
lo âu, làm giảm hội chứng cai.
động hàng ngày như dọn vệ sinh, nấu ăn, trồng cây nhằm giúp người
nghiện hiểu được giá trị của sức lao động.
Tổ chức thể dục thể thao, vui chơi giải trí: Cơ sở chữa bệnh phải tổ chức cho
người nghiện tham gia thể dục thể thao, vui chơi giải trí như: đá bóng, bóng
chuyền, văn hoá văn nghệ, xem tivi
Những hoạt động trị liệu trên được lặp lại hàng ngày, xen kẽ với lao động trị
liệu, duy trì hàng ngày từ 6 giờ đến 22 giờ.
1.5.3 Lao dộng trị liệu, chuẩn bị hoà nhập cộng đồng chống tái nghiện
- Lao động trị liệu:
Sự phân công lao động phải phù hợp với tuổi, sức khoẻ, giới tính, trình độ,
nghề nghiệp của từng người và theo đúng quy định tại Nghị định số 20/CP
ngày 1314/1996 của Chính phủ.
Tổ chức, quản lý, phân công lao động một cách hợp lý, lao động từ nhẹ đến
nặng, từ đơn giãn đến phức tạp, đảm bảo an toàn lao động,
- Dạy nghề, tạo việc làm:
Tuỳ theo cơ sở vật chất, kinh phí, nhu cầu của người nghiện, cơ sở chữa
bệnh có thể mở các lớp dạy nghề, tạo việc làm cho người nghiện, hoặc gửi
đến các Trung tâm xúc tiến việc làm để học nghề; đặc biệt chú trọng đến các
nghề truyền thống, đơn giản để thực hành lao động sản xuất tại cơ sở chữa
bệnh.
13
- Chuẩn bị tái hoà nhập cộng đồng:
Kiểm tra lại sức khoẻ, tổng kết bệnh án, lập sổ theo dõi sau cai nghiện.
Biên bản bàn giao người nghiện về cộng đồng gồm những nội dung cơ bản:
tlnh hình sức khoẻ, nhân cách, tâm lý.
Giai đoạn giáo dục, phục hồi hành vi, nhân cách và giai đoạn lao động trị
liệu phải được hoạt động xen kẽ, trong ngày làm việc (8 giờ) phải có 30%
thời gian giáo dục, phục hồi hành vi nhân cách, 70% thời gian lao động trị
liệu. Nghiêm cấm các 1 cơ sở cai nghiện chỉ sử dụng người nghiện vào việc
lao động trị liệu mà không thực hiện nội dung giáo dục phục hồi nhân cách.
dục 05-06 TP Đà Nẵng.
- Chọn ngẫu nhiên 30 học viên để tham gia điều trị và 30 thành viên trong
nhóm đối chứng.
- Chuẩn bị tài liệu và viết cho các đối tượng
2.2.2. Các bước tiến hành điều trị bằng phương pháp SMART VN
2.2.2.1. Số lượng các buổi họp
Trong chương trình có 24 buổi, nhưng để có thời gian ôn lại các kiến thức
đã thu nhận được chúng tôi bổ sung thêm 4 buổi ôn tập. Mỗi tuần chúng tôi
tiến hành một buổi sinh hoạt.
2.2.2.2. Thời gian của mỗi buổi sinh hoạt: Mỗi buổi sinh hoạt được tiến
thành trong thời gian 1 giờ 30 phút.
2.2.2.3. Nội dung của các buổi họp
- Chào hỏi (05 phút)
- Kiểm tra và thảo luận về các bài tập của buổi trước (20 phút)
- Hướng dẫn các nội dung mới (25 phút)
- Thảo luận, áp dụng các nội dung mới (25 phút)
- Tổng kết lại các kiến thức đã trình bày trong buổi họp (10 phút)
- Hướng dẫn làm các bài tập (05 phút)
2.2.2.4. Người điều hành: mỗi nhóm có 2 bác sĩ chuyên khoa Tâm thần đã
tập huấn chương trình sẽ thực hiện chức năng điều hành nhóm.
2.3. PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
- Đây là phương pháp nghiên cứu cắt dọc có đối chứng.
2.3.1. Công cụ đánh giá
2.3.1.1 Bảng tự đánh giá nhân cách "năm mục lớn" (Big-five) : "năm mục
lớn" được 2 nhóm nghiên cứu (Paul Costa và Robert McCrae của viện sức
khoẻ Quốc gia Mỹ và Werran Norman đại học Michigan) sử dụng đầu tiên
16
vào những năm 1970. Họ đi đến kết luận phần lớn các nét nhân cách của con
người có thể xếp vào thành 5 nhóm chính, không phân biệt ngôn ngữ và văn
hoá[11]. Chúng tôi dịch các các đánh giá này qua tiếng Việt và đã áp dụng
2.3.1.3. Thang đánh giá trầm cảm rút gọn của Beck-13 mục
Đây là bảng câu hỏi tự trả lời dành cho bệnh nhân. Yêu cầu bệnh nhân đánh
dấu vào chữ số tương ứng với câu trả lời mà bệnh nhân lựa chọn (0,1,2 hoặc
3). Mỗi mục bao gồm 4 câu trả lời, tương ứng với 4 độ tăng dần của một
triệu chứng. Tổng điểm được tính bằng cách cộng điểm của toàn bộ 13 mục.
0-3 điểm: không có trầm cảm
4-7: Trầm cảm nhẹ
8-15: Trầm cảm mức độ trung bình
16 hoặc hơn: Trầm cảm nặng
2.3.1.4 Bảng câu hỏi về niềm tin trong các tình huống (Situational
confidence questionnaire-Heroin SCQ-H)
Đây là bảng câu hỏi tự trả lời của James G Barber, có 22 mục. Mỗi mục đề
ra các tình huống và đối tượng tưởng tượng bản thần mình tin tưởng có khả
năng chống lại thúc giục sử dụng lại ma tuý đến mức độ nào. Được đánh giá
theo thang 5 điểm: từ 0% (Không tin tưởng) đến 100% (rất tin tưởng) có
thêm các mức tin tưởng 20%, 50% và 80%. Nó đánh giá ở các lãnh vực:
- Các trạng thái cảm xúc tiêu cực
- Các trạng thái cơ thể tiêu cực
- Các trạng thái cảm xúc tích cực
- Đánh giá sự kiểm soát cá nhân
- Thúc giục
18
- Xung đột giữa người và người
- Áp lực xã hội
- Các tình huống xã hội tích cực
Nó được phân thành hai nhóm chính:
- Các trạng thái cá nhân: bao gồm Các trạng thái cảm xúc tiêu cực- Các
trạng thái cơ thể tiêu cực- Các trạng thái cảm xúc tích cực- Đánh giá sự
kiểm soát cá nhân- Thúc giục
- Các tình huống liên quan đến người khác: bao gồm Xung đột giữa người
Bảng 3.1. Phân bố giới của hai nhóm
Nhóm
Giới
Can thiệp Chứng Tổng cộng
n % n % n %
Nam
Nữ
Tổng cộng
Bảng 3.2 Trình độ học vấn của hai nhóm
Nhóm
Học vấn
Can thiệp Chứng Tổng cộng
n % n % n %
chưa hết tiểu học
Xong tiểu học,
chua hết THCS
Xong THCS,
chưa hết THPT
Xong THPT
Bảng 3.3 Tuổi trung bình của hai nhóm
Chỉ số thống kê
Nhóm
Tuổi trung
bình
SD p
Can thiệp
Chứng
3.2. Tiền sử sử dụng ma tuý:
Bảng 3.4. Mức độ nặng nề của việc sử dụng ma tuý của hai nhóm
Chỉ số thống kê
trung
bình
T
0
Điểm
trung
bình
T
1
mức độ
thay đổi
SD p
Can thiệp
Chứng
Bảng 3.7 Điểm tính dễ chịu của 2 nhóm theo thời gian
Chỉ số thống kê
Nhóm
Điểm
trung
bình
T
0
Điểm
trung
bình
T
1
mức độ
thay đổi
SD p
trung
bình
T
1
mức độ
thay đổi
SD p
Can thiệp
Chứng
Bảng 3.10 Điểm trí tuệ của 2 nhóm theo thời gian
Chỉ số thống kê
Nhóm
Điểm
trung
bình
T
0
Điểm
trung
bình
T
1
mức độ
thay đổi
SD p
Can thiệp
Chứng
Bảng 3.11 Điểm lo âu thang Beck của 2 nhóm theo thời gian
Chỉ số thống kê
Nhóm
SD p
Can thiệp
Chứng
23
3.4. Đánh giá nhận thức về các vấn đề liên quan đến ma tuý
Bảng 3.13 Điểm SCQ-H của 2 nhóm theo thời gian
Chỉ số thống kê
Nhóm
Điểm
trung
bình
T
0
Điểm
trung
bình
T
1
mức độ
thay đổi
SD p
Can thiệp
Chứng
Bảng 3.14 Điểm về động cơ ngừng sử dụng ma tuý của 2 nhóm theo thời
gian
Chỉ số thống kê
Nhóm
Điểm
trung
bình
Bảng 3.16 Điểm về lập kế hoạch cho tương lai của 2 nhóm theo thời gian
Chỉ số thống kê
Nhóm
Điểm
trung
bình
T
0
Điểm
trung
bình
T
1
mức độ
thay đổi
SD p
Can thiệp
Chứng
24
Chương 4
BÀN LUẬN
25
KẾT LUẬN