MỘT SỐ KINH NGHIỆM DẠY HỌC SINH LỚP 3
VIẾT ĐÚNG CHÍNH TẢ TRONG MÔN TIẾNG VIỆT
I/ ĐẶT VẤN ĐỀ:
Trong quá trình dạy môn Tiếng Việt, nhiệm vụ của GV Tiểu học là hình
thành và phát triển ở học sinh các kĩ năng nghe, nói, đọc, viết. Phân môn Chính tả
có nhiệm vụ rèn kĩ năng viết, nghe, đọc. Qua chữ viết đúng, đẹp GV bồi dưỡng
tình
yêu tiếng Việt, hình thành thói quen giữ gìn sự trong sáng, giàu đẹp của tiếng Việt
cho HS.
Phân môn Chính tả trong nhà trường có nhiệm vụ giúp HS nắm vững các
qui tắc chính tả và hình thành kĩ năng chính tả. Ngoài ra, nó còn rèn cho học sinh
một số phẩm chất như tính cẩn thận, óc thẩm mĩ.
Ngoài việc nắm vững vị trí, nhiệm vụ, tính chất, nội dung, chương trình,
phương pháp giảng dạy phù hợp, GV còn phải nắm vững các nguyên tắc dạy
chính tả Tiếng Việt.
Dạy chính tả theo khu vực phải xuất phát từ tình hình thực tế mắc lỗi chính
tả của học sinh ở từng khu vực, từng vùng miền để hình thành nội dung giảng dạy
khi xác định được trọng điểm chính tả cần dạy cho HS ở từng khu vực, từng địa
phương. Như vậy, trước khi dạy, GV cần tiến hành điều tra cơ bản để nắm lỗi
chính tả phổ biến của HS từ đó lựa chọn nội dung giảng dạy thích hợp với đối
tượng HS lớp mình dạy.
II/ THỰC TRẠNG GIẢNG DẠY MÔN TIẾNG VIỆT Ở LỚP 3
Đơn vị trường Tiểu học nơi tôi ở đa số người dân làm nông . Tình hình
thực tế học sinh lớp 3 ở đây vốn từ của các em còn hạn chế . Các em chỉ hiểu
nghĩa của các từ ngữ ở mức độ đơn giản trong khi từ ngữ tiếng Việt vô cùng
phong phú. Đa số gia đình các em còn nghèo, cha mẹ còn lo đi làm để kiếm sống,
chưa thực sự quan tâm đến việc học tập của các em.
Phân môn Chính tả có một vị trí rất quan trọng ở bậc tiểu học bởi vì giai
đoạn Tiểu học là giai đoạn then chốt trong quá trình hình thành kĩ năng chính tả
cho học sinh. Chính tả được bố trí thành một phân môn độc lập, có tiết dạy riêng
trong khi bậc trung học cơ sở không có.
- Lỗi do phát âm sai ( at - ac, an - ang, iu - iêu…)
- Lỗi do không hiểu nghĩa của từ ( để dành - tranh giành )
- Lỗi do không nắm được qui tắc chính tả ( gh, ngh chỉ đứng trước i, e, ê.
Cách ghi âm đệm )
Qua thống kê các loại lỗi, tôi thấy học sinh thường mắc phải các loại lỗi
sau:
a/ Về thanh điệu: Học sinh không phân biệt được hai thanh hỏi, ngã.
Ví dụ: sữa chữa , suy nghỉ
b/ Về âm đầu:
Học sinh còn viết lẫn lộn một số chữ cái ghi các âm đầu sau đây:
+ g / gh: đua ge
+ ng / ngh : củ ngệ
+ c / k: cây céo
+ ch / tr: con chăn
+ s / x: chim xẻ
+ v / d / gi: dụ lúa
+ r / g: cá gô
Qua thực tế giảng dạy trong nhiều năm tôi nhận thấy lỗi về ch/ tr; s/ x; r/ g ;
v/d/ gi là phổ biến hơn cả.
c/Về âm chính:
Học sinh hay mắc lỗi khi viết chữ ghi các âm chính trong các vần sau đây:
+ ai / ay / ây: mây bai
2
+ ao / au / âu: lao bàn
+ oe/ eo: mạnh khẻo
+ iu/ êu / iêu: chìu chuộng
+ oi/ ôi / ơi: kêu gội
+ ăm/ âm: con tầm
+ im/ iêm :lúa chim
+ ăp/ âp: gập gỡ
Ngoài ra trong qui ước về chữ quốc ngữ, một âm ghi bằng 2 hoặc 3 dạng.
Ví dụ : / k / ghi bằng c, k, q, âm gờ ghi bằng / g /, gh; âm / ng / ghi bằng ng, ngh.
Do sự phức tạp của chữ quốc ngữ, ví dụ: / ă / lại được ghi bằng chữ a trong
các vần ay, au. Các nguyên âm đôi iê, ươ, uô lại được ghi bằng các dạng iê, yê, ia,
3
ya, ươ, ưa, uô, ua (chia-khuya; chiến-tuyến; lương- lửa; buôn-mua).Âm đệm lại
được ghi bằng hai con chữ o và u ( ví dụ: hoa - huệ ).
III- MỘT SỐ BIỆN PHÁP KHẮC PHỤC LỖI CHÍNH TẢ:
1- Biện pháp :
Trước tình hình HS viết còn sai nhiều lỗi chính tả, tôi đã áp dụng một số
biện pháp khắc phục như sau :
1.1/ Luyện phát âm:
Muốn học sinh viết đúng chính tả, trước hết giáo viên phải chú ý luyện phát
âm cho mình và cho học sinh để phân biệt các thanh, các âm đầu, âm chính, âm
cuối vì chữ quốc ngữ là chữ ghi âm, giữa cách đọc và cách viết thống nhất với
nhau. Do đó có đọc đúng và ghi nhớ âm đúng thì khi giáo viên đọc, học sinh sẽ tái
hiện và viết đúng. Giáo viên phải cố gắng phát âm rõ ràng, tốc độ vừa phải mới có
thể giúp học sinh viết đúng.
1.2/ Phân tích so sánh:
-Với những tiếng khó, giáo viên áp dụng biện pháp phân tích cấu tạo tiếng,
so sánh với những tiếng dễ lẫn lộn, nhấn mạnh những điểm khác nhau để học sinh
ghi nhớ.
Ví dụ: Khi viết tiếng “nặng” học sinh dễ lẫn lộn với tiếng “nặn” giáo viên
yêu cầu học sinh phân tích cấu tạo hai tiếng này.
- Nặng = N + ăng + thanh nặng
- Nặn = N + ăn + thanh nặng
So sánh để thấy sự khác nhau, tiếng “nặng”có âm cuối là “ng”,tiếng “nặn”
có âm cuối là “n”. Học sinh ghi nhớ cách phát âm và cách viết sẽ không viết sai.
1.3/ Giải nghĩa từ:
Do phương ngữ của từng miền khác nhau, cách phát âm đôi khi chưa thống
ngã thì yếu tố đứng sau sẽ mang thanh ngã. Nếu yếu tố đứng trước mang thanh
ngang, sắc, hỏi thì yếu tố đứng sau sẽ mang thanh hỏi (hoặc ngược lại ).
Có thể cho học sinh thuộc hai câu thơ sau:
Chị huyền mang nặng ngã đau
Anh sắc không hỏi bị đau chỗ nào.
Ví dụ: Bổng:
Ngang + hỏi : vui vẻ, trong trẻo…
Sắc + hỏi : mát mẻ, vất vả…
Hỏi + hỏi : lỏng lẻo, thủ thỉ…
Trầm:
Huyền + ngã : sẵn sàng, vững vàng…
Nặng + ngã : mạnh mẽ, vội vã…
Ngã + ngã : nhõng nhẽo, dễ dãi…
1. 5/ Làm các bài tập chính tả:
Giáo viên có thể đưa ra các dạng bài tập chính tả khác nhau để giúp học
sinh tập tận dụng các kiến thức đã học, làm quen với việc sử dụng từ trong văn
cảnh cụ thể. Sau mỗi bài tập, giáo viên giúp các em rút ra các qui tắc chính tả để
ghi nhớ.
1- Bài tập trắc nghiệm :
Khoanh tròn chữ cái trước từ ngữ viết đúng :
a- căn dặn b- căng nhà c- kiêu căng
d- nhọc nhằn e- lằng nhằng g- cằng nhằng
h- vắng mặt i- vắn tắt k- vuông vắng
2- Điền chữ Đ vào ô trống trước những chữ viết đúng chính tả và chữ
S vào ô trống trước những chữ viết sai chính tả.
chung sức chung thành
5
chim xẻ xẻ ván
nghèo đói ngoằn ngoèo
3- Nối các tiếng ở cột A với các tiếng ở cột B để tạo thành những từ viết
* Tìm các từ chứa có vần “ ươt ” hoặc “ ươc ”có nghĩa như sau;
Dụng cụ để đo, vẽ, kẻ: …………
Thi không đỗ : ……………
Người chuyên nghiên cứu, bào chế thuốc chữa bệnh : ……………
* Tìm từ ngữ có thanh hỏi hoặc thanh ngã có ý nghĩa như sau:
Cây trồng để làm đẹp : …….
Khung gỗ để dệt vải : ………
Trái nghĩa với từ thật thà : ……
6
Đoạn đường nhỏ hẹp trong thành phố : ………
*Tìm các từ ngữ chỉ đồ vật có thanh hỏi: ………
*Tìm các từ ngữ chỉ đồ vật có thanh ngã: ………
8- Bài tập phân biệt:
Đặt câu để phân biệt từng cặp từ sau:
chúc - chút nắng - nắn
no - lo sáu - sáo
dành-giành chiên - chuyên
9- Bài tập giải câu đố:
- Chọn dấu “ hỏi ” hay dấu “ ngã ” để đặt trên những chữ nghiêng rồi giải
câu đố sau:
Mặt tròn như một chiếc nong
Lưng lưng bụng nước, mát trong suốt đời
Chăng bao giờ nói một lời
Săn sàng giúp đơ mọi người cần em.
(Là cái gì? )
* Ngoài ra giáo viên phải kết hợp cho học sinh biết xây dựng cái đúng, loại
bỏ cái sai.Bên cạnh việc cung cấp cho học sinh những qui tắc chính tả, hướng dẫn
học sinh thực hành luyện tập nhằm hình thành các kĩ xảo chính tả cần đưa ra
những trường hợp viết sai để hướng dẫn học sinh phát hiện sửa chữa rồi từ đó
hướng học sinh đi đến cái đúng.
Giỏi Khá Trung bình Yếu
Đầu năm 29 5 9 10 5
Cuối năm 29 10 12 7
V/ BÀI HỌC KINH NGHIỆM:
Việc phát hiện lỗi chính tả, thống kê, tìm nguyên nhân mắc lỗi, từ đó đưa ra
các biện pháp khắc phục là rất cần thiết không thể thiếu trong quá trình dạy học
Tiếng Việt. Nhưng không phải chỉ đưa ra các biện pháp khắc phục là có thể thực
hiện một cách có hiệu quả. Sửa chữa, khắc phục lỗi chính tả là cả một quá trình
lâu dài, đòi hỏi người giáo viên phải kiên trì, bền bỉ, không đựơc nôn nóng. Bởi vì
có những học sinh tiến bộ ngay trong vài tuần nhưng cũng có những học sinh sự
tiến bộ diễn ra rất chậm, không phải vài tuần, có khi vài tháng, thậm chí cả một
học kỳ. Nếu giáo viên không biết hướng dẫn, chờ đợi thì kết quả sẽ không cao.
Để việc dạy học chính tả đạt hiệu quả ngay từ khi các em mới bắt đầu “làm
quen” với Tiếng Việt giáo viên cần hướng dẫn các em thật tỉ mỉ về các quy tắc
chính tả, quy tắc kết hợp từ, quy tắc ghi âm chữ quốc ngữ….tránh trường hợp học
sinh vì thiếu hiểu biết dẫn đến sai sót.
Để dạy tốt người giáo viên cần phải không ngừng học hỏi, tự tìm hiểu,
nghiên cứu để nâng cao trình độ, tay nghề, có kiến thức cơ bản về ngữ âm học, từ
vựng học, ngữ nghĩa học… có liên quan đến chính tả.
Nắm vững phương pháp đặc trưng của phân môn chính tả. Kết hợp linh
hoạt các phương pháp giảng dạy sao cho sát hợp với đối tượng học sinh của lớp
mình.
- Phải dùng nhiều hình thức rèn luyện, khen thưởng và động viên học sinh
kịp thời. Hạn chế không nên trách phạt, chê các em trước lớp làm cho các em có
mặc cảm và bạn bè có ấn tượng không tốt về các em. Bên cạnh đó giáo viên phải
khích lệ, động viên học sinh phải kiên trì, chăm chỉ rèn luyện mới đạt được kết
quả tốt.
- Giáo viên phải điều tra cơ bản để nắm được những lỗi chính tả mà học
sinh lớp mình viết sai để từ đó có cơ sở giúp học sinh viết đúng chính tả. Thường
xuyên chấm, chữa bài chỉ ra tất cả lỗi chính tả để kịp thời sửa chữa, uốn nắn.