Thực trạng quản lý cơ sở vật chất trang thiết bị giáo dục trẻ trong trường mầm non xuân lâm tĩnh gia thanh hoá - Pdf 28

Bộ giáo dục và đào tạo
Trường cán bộ quản lý & Đào tạo
Tiểu luận khoa học
Thực trạng quản lý CSVC & TBGD của trường
Mầm non Xuân Lâm - Tĩnh Gia - Thanh Hoá
Giáo viên hướng dẫn: Th.S Nguyễn Thị Hiếu
Sinh viên thực hiện : Nguyễn Thị Hà
Líp : CNKH - QLGDK3
Thanh Hoá 4 / 2010
MỞ ĐẦU
1- Lý do chọn đề tài.
Trong công cuộc đổi mới đất nước giáo dục và đào tạo đang được Nhà nước
quan tâm, đất nước ta đang tiến hành sự nghiệp CNH - HĐH vì mục tiêu “Dân
giầu nước mạnh xã hội công bằng văn minh” vững bước đi lên CNXH. Nghị
quyết TW 2 khoá VIII của Đảng đã khẳng định “Giáo dục là quốc sách hàng
đầu” đầu tư cho giáo dục là đầu tư cho sự phát triển.
Bởi vậy nhìn vào thực tế của giáo dục mầm non có thể khẳng định rằng:
Đây là bậc học đã và đang được Nhà nước và nhân dân quan tâm ủng hộ. Để có
được hệ thống cơ sở vật chất đầy đủ trường líp khang trang đáp ứng với mục
tiêu giáo dục của ngành học mầm non hiện nay.
Kinh phí Nhà nước chưa thể đầu tư được hoàn toàn, 1 phần kinh phí nhỏ
vào sự đóng góp của nhân dân, chính quyền địa phương và phụ huynh học sinh.
Dùa vào sức mạnh cộng đồng nghị quyết TW 2 Khoá XIII đã đề ra “Phải tăng
cường phát triển qua môi trường líp và xây dựng CSVC phù hợp với cơ sở giáo
dục mầm non. Giáo dục mầm non là bậc học rất quan trọng trong hệ thống giáo
dục quốc dân. Nó đặt nền móng vững chắc cho các bậc học tiếp theo.
Để đạt được mục tiêu giáo dục toàn diện cho trẻ mầm non về thể chất trí tuệ
thẩm mỹ, tình cảm nhằm hình thành yếu tố đầu tiên của nhân cách con người.
Trường Mầm non coi công tác chăm sóc và giáo dục trẻ là nhiệm vụ trọng tâm
quyết định đến chất lượng giáo dục.
Song chất lượng giáo dục được nổi lên thực sự ở những trường trọng điểm,

3- Nhiệm vụ của đề tài:
- Nghiên cứu cơ sở lý luận về việc quản lý cơ sở vật chất và trang thiết bị
trong trường mầm non.
- Phân tích thực trạng của việc quản lý cơ sở vật chất và trang thiết bị của
hiệu trưởng trường mầm non Xuân Lâm.
- Đề xuất các biện pháp quản lý cơ sở vật chất và trang thiết bị trong
Trường Mầm non Xuân Lâm.
4- Đối tượng nghiên cứu:
Các biện pháp cơ bản nhằm nâng cao công tác quản lý cơ sở vật chất và
trang thiết bị của trường mầm non Xuân Lâm.
3
5- Phương pháp nghiên cứu:
Phương pháp nghiên cứu tài liệu, các văn bản của Đảng, Nhà nước các cấp
và các ngành có liên quan đến bậc học mầm non.
Phương pháp nghiên cứu thực tế.
Phương pháp so sánh tổng hợp kinh nghiệm, tranh thủ ý kiến chuyên gia.
Phương pháp điều tra khảo sát thực tế cơ sở vật chất của các Trường Mầm
non nói chung và Trường Mầm non Xuân Lâm nói riêng.
4
NỘI DUNG
Chương I
CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ CƠ SỞ PHÁP LÝ
I- Cơ sở lý luận.
1- Một số khái niệm cần thiết.
Cơ sở vật chất kỹ thuật trường học là những hệ thống các phương tiện vật
chất và kỹ thuật khác nhau, được sử dụng để phục vụ cho việc giáo dục và các
hoạt động trong nhà trường.
2- Vị trí của cơ sở vật chất, trang thiết bị trong Trường mầm non:
Cơ sở vật chất, trang thiết bị giáo dục là điều kiện cần thiết để thực hiện,
phục vụ công tác nuôi dưỡng chăm sóc và giáo dục của trường mầm non, là

nội dung giáo dục, đảm bảo bền đẹp, an toàn, sáng tạo. Trong quá trình sử dụng
người giáo viên phải khai thác đầy đủ các chức năng sử dụng,đồng thời có kế
hoạch bảo quản tốt để làm gương cho trẻ và củng cố lòng tin với nhân dân và
các bậc phụ huynh.
Đối với người giáo viên: Khi thực hiện lao động phải dùa vào cơ sở vật chất
và trang thiết bi kỹ thuật mới nâng cao được năng xuất lao động hiệu quả giáo
dục. Cơ sở vật chất, trang thiết bị giáo dục cung cấp thông tin chính xác, đầy đủ
về sự vật hiện tượng, tăng cường nhịp điệu, trình độ, trình bày thoả mãn.
Đối với trẻ: Cơ sở vật chất, trang thiết bị giáo dục là điều kiện giúp trẻ nắm
vững kiến thức tự nhiên, xã hội, tham gia các hoạt động một cách tích cực, góp
phần phát triển tư duy, trí nhớ. Đồng thời hình thành yếu tố nhân cách đầu tiên,
mặt khác do đặc điểm về tâm sinh lý của trẻ mâm non là hiếu động, ham hiểu
biết thích khám phá, các chức năng trong cơ thể đang hoàn thiện dần, hoạt động
chủ đạo của trẻ là hoạt động vui chơi “Học mà chơi, chơi mà học” Khi tham gia
vào các trò chơi trẻ cần có nơi chơi, đồ chơi trong điều kiện cơ sở vật chất đáp
ứng yêu cầu đẩy đủ phù hợp với nội dung, khi được chơi trẻ sẽ thoải mái, hứng
thó khám phá những bí Èn trong thế giới vật chất. Khi được học tập trong phòng
học, có đủ nhiệt độ, ánh sáng đảm bảo Êm về mùa đông, thoáng mát mùa hè,
bàn ghế đúng quy cách đầy đủ, đồ dùng dạy học đa dạng phong phó. Giúp trẻ
6
tiếp thu kiến thức nhanh và khắc sâu hơn tăng sự say mê lĩnh hội kiến thức, bởi
vì lứa tuổi mầm non tư duy của trẻ là tư duy trực quan sinh động.
Khi dạy trẻ không thể dạy chay, chất lượng tiết học còn phụ thuộc vào khả
năng sử dụng đồ dùng của giáo viên có linh hoạt, sáng tạo hay không, vì vậy
trong giê học, giê chơi của trẻ không thể thiếu về cơ sở vật chất, trang thiết bị
được. Môi trường tự nhiên trong nhà trường như: Cây xanh, cây cảnh, vườn hoa,
vườn rau, bể cá Đều góp phần phát triển giáo dục cho trẻ, khi trẻ được thăm
quan, tìm hiểu về môi trường xung quanh như cỏ cây, hoa lá trẻ được mở rộng
hiểu biết về thế giới xung quanh, cảm nhận được cái đẹp trong thiên nhên.
Trên cơ sở thực tiễn để khẳng định cơ sở vật chất, là yếu tố quan trọng đến

2
/một trẻ đối với khu vực thành phố, thị xã
(trong đó 50% diện tích là sân vườn).
2.2- Cơ cấu công trình gồm:
a. Các phòng cho lứa tuổi nhà trẻ.
b. Các phòng cho lứa tuổi mẫu giáo
c. Phòng hoạt động âm nhạc
d. Phòng rèn luyện thể chất.
đ. Hội trường.
e. Văn phòng trường.
g. Khối phòng tổ chức ăn
h. Sân vườn
i. Hệ thống cấp thoát nước vệ sinh.
2.3- Yêu cầu về thiết kế và xây dựng:
a. Trường được xây dựng theo mẫu thiết kế do bộ Giáo dục và Đào tạo quy
định.
b. Nhà phải được xây dựng kiên cố.
c. Nhà phải đảm bảo Êm về mùa đông, thoáng mát về mùa hè.
d. Có đủ ánh sáng tự nhiên và thoáng.
đ. Nền nhà phải lát gạch men.
Điều 41: Thiết bị đồ dùng đồ chơi:
- Trường phải có đủ thiết bị, đồ chơi, đồ dùng cá nhân theo quy định của bộ
giáo dục và đào tạo đảm bảo yêu cầu của việc nuôi dưỡng chăm sóc, giáo dục trẻ.
8
- Trường phải có kế hoạch bảo quản, sửa chữa, thay thế, bổ xung nâng cấp
thiết bị đồ dùng đồ chơi.
Tiêu chuẩn trường mầm non chuẩn quốc gia.
Theo điều 13. Tiêu chuẩn 4. Tổ chức trường líp cơ sở vật chất và thiết bị.
2.4- Quy mô trường líp:
a) Trường tập trung tại một điểm, tất cả các (nhóm líp) đều chia theo độ tuổi

thoáng mát về mùa hè, ấm áp mùa đông, có đủ giường nằm, chăn gối và đồ dùng
phục vụ an toàn phù hợp.
* Phòng líp mẫu giáo.
- Phòng học: Diện tích tối thiểu 55m
2
, là phòng hoạt động chính của trẻ học
tập, vui chơi, có hiên chơi phía trước, phía sau hoặc xung quanh, diện tích tối
thiểu mỗi hiên chơi là 12m
2
hiên chơi sử dụng là nơi cho trẻ ăn (nếu trẻ ăn trong
9
phòng học thì không đảm bảo vệ sinh sẽ ảnh hưởng đến môi trường vui chơi học
tập của trẻ). Các líp có đủ đồ dùng đồ chơi và các trang thiết bị phục vụ cho hoạt
động chăm sóc, giáo dục trẻ theo tiêu chuẩn trường trọng điểm.
- Phòng ngủ của trẻ: Diện tích tối thiểu 40m
2
đảm bảo yên tĩnh, thoáng mát
về mùa hè, ấm áp về mùa đông, có giường nằm, chăn gối và đồ dùng phục vụ
cho trẻ an toàn phù hợp.
* Các phòng chức năng phục vụ chăm sóc giáo dục trẻ.
- Phòng hiệu trưởng và các phó hiệu trưởng: Là phòng làm việc của Hiệu
trưởng và các phó hiệu trưởng có diện tích tối thiểu là 20m
2
có đầy đủ các
phương tiện làm việc, có bảng thống kê, kế hoạch theo dõi hoạt động của
trường.
- Văn phòng nhà trường: Là phòng họp của ban giám hiệu và hoạt động của
tổ chuyên môn, có diện tích tối thiểu là 25m
2
có bàn ghế và tủ văn phòng.

có trang thiết bị máy tính và phương tiện làm việc.
- Khu vực nhà bếp phục vụ trẻ bán trú: Bao gồm nơi chế biến thực phẩm,
nhà bếp và nơi chia thức ăn. Tất cả khu vực này xây dựng theo quy trình mét
chiều và được sắp xếp ngăn nắp, sạch sẽ, thuận tiện. Nhà trường có đầy đủ đồ
dùng phục vô việc chăm sóc trẻ hợp vệ sinh, đúng quy cách theo quy định của
Bộ GĐ & ĐT, khu thực phẩm luôn sạch sẽ, có phân chia khu vực để các loại
thực phẩm riêng biệt không ảnh hưởng đến thức ăn của trẻ.
- Phòng vệ sinh: Phòng vệ sinh của trẻ được xây dựng khép kín, bên trong mỗi
(nhóm líp) thuận tiện để trẻ sử dụng, có chỗ cho trẻ trai, gái riêng, đảm bảo luôn
sạch sẽ không có mùi hôi, có đủ nước sạch để dùng, có vòi nước cho trẻ rửa tay.
Diện tích một phòng vệ sinh cho trẻ tối thiểu là 12m
2
. Các thiết bị vệ sinh
được trang bị bằng đồ men sứ, kích thước phù hợp trẻ. Nhà trường có khu vệ
sinh riêng cho người lớn.
* Sân chơi, tường rào bao quanh và cổng trường.
- Sân chơi: Diện tích sân chơi quy hoạch, thiết kế bố cục thuận tiện hợp lý tạo
được khung cảnh sư phạm đẹp hài hoà, phù hợp tỷ lệ trẻ, với diện tích mặt bằng
quy định ở điều lệ trường mầm non. Khu vực trẻ chơi lát gạch, láng xi măng hoặc
trồng thảm cỏ, có cây che thoáng mát hoặc dàn che nắng, có Ýt nhất 10 loại đồ
chơi ngoài trời. Các đồ chơi ngoài trời phải phù hợp với trẻ có hình dáng, màu sắc
đẹp.
- Trường bao quanh và cổng trường: Trường bao quanh ngăn cách phía bên
ngoài (xây bằng gạch làm bằng bê tông, bằng kim loại, gỗ hoặc trồng cây xanh
cắt tỉa thành tường rào) cổng trường trang trọng, có biển tường rõ ràng theo quy
định của điều lệ trường mầm non.
* Các yêu cầu khác
Trong khu vực trường có vườn cây xanh, có nguồn nước sạch đáp ứng phục
vụ mọi sinh hoạt của trường, có hệ thống cống rãnh tiêu thoát nước nhanh đảm
bảo vệ sinh.

và đào tạo.
Được sù quan tâm, chỉ đạo sát sao của chính quyền địa phương các ban
ngành đoàn thể trong xã và đặc biệt là của nhân dân và phụ huynh học sinh
trong toàn xã đã đóng góp hỗ trợ xây dùng cho Trường mầm non Xuân Lâm mét
khu trung tâm 8 phòng và mỗi phòng được trang bị hệ thống đèn quạt bàn ghế
đúng quy cách. Đúng chuẩn mỗi phòng được trang bị tủ giá đựng đồ dùng đồ
13
chơi. Khối phòng chức năng gồm nhà ăn, nhà bếp, phòng âm nhạc, khuôn viên
sân trường sạch sẽ.
1- Khái quát tình hình cơ sở vật chất của trường.
Trường mầm non Xuân Lâm được thành lập từ năm 1980 từ những năm học
đó tình hình cơ sở vật chất trang thiết bị của trường còn rất nghèo nàn, thiếu
thèn, trường chưa ra trường, líp chưa ra líp. Thời gian đó trường chưa có khu
trung tâm các nhà trẻ líp mẫu giáo phải học tạm bợ ở nhà kho, nhà dân, rồi học
nhà phòng học của trường tiểu học. Đồ dùng dạy học của cô và trẻ còn thiếu
thốn nhiều, thiếu về bàn ghế, đồ dùng, đồ chơi hầu như không có.
Đội ngò giáo viên chưa được quan tâm, chưa được đào tạo chuẩn về chuyên
môn. Đời sống của đa số cán bộ giáo viên trong trường gặp rất nhiều khó khăn,
chỉ trông vào đến mùa xã trả cho mỗi cô 300kg thóc/1 năm.
Năm học 1998 - 2000 Bộ giáo dục và đào tạo ban hành chương trình đổi
mới nội dung, phương pháp chăm sóc giáo dục, mầm mon.
Có quyết định 161/2002/QĐ - CP và thông tư liên tịch số 03/2003 - TTLT
Bộ giáo dục và đào tạo - Bé nội vô - Bộ tài chính về mét số chính sách phát triển
giáo dục mầm non (2002 - 2010) là năm đầu tiên thực hiện quyết định 1640 -
QĐ.
Quyết định 1717 - UBND Tỉnh Thanh Hoá và QĐ 215 của UBND Huyện
Thiệu Hóa về chính sách khuyến khích đối với giáo viên mầm non ngoài biên
chế - UBND Tỉnh liên tục bổ sung các chính sách cho cán bộ giáo viên mầm
non. Đặc biệt từ UBND Tỉnh đã biên chế cho hiệu trưởng, 2004 biên chế cho
phó hiệu trưởng các trường mầm non - mẫu giáo. Từ những vấn đề trên, tôi đã

- Về cơ sở vật chất, trang thiết bị trường học: Trường được xây dựng tại khu
trung tâm thôn 2 Dự Quần.
Công trình của trường được xây dựng đảm bảo chất lượng tốt, quét sơn màu
sáng, nền nhà được lát gạch hoa. Líp học có hành lang rộng 2,3m, phòng học:
mỗi phòng rộng 6,8m dài 8,4m bằng 57,48m.
Toàn bộ các thiết kế xây dựng và trang thiết bị đồ dùng đồ chơi đảm bảo an
toàn tuyệt đối cho trẻ.
Trên cơ sở thực tiễn của nhà trường cơ sở vật chất, trang thiết bị của trường
mầm non Xuân Lâm vẫn còn thiếu nhiều. Vì vậy chưa đáp ứng với mục tiêu
chăm sóc giáo dục trẻ.
15
Qua những thực trạng trên so với cơ sở pháp lý. Theo quy định của điều lệ
trường mầm non chuẩn quốc gia. Trường mầm non Xuân Lâm còn thiếu phòng
hiệu phó, phòng hoạt động chức năng, phòng truyền thống, phòng hội trường,
phòng ngủ cho trẻ và một số đồ chơi ngoài trời.
2- Thực trạng về xây dựng trang bị mua sắm cơ sở vật chất, trang thiết bị
- Được sự quan tâm của chính quyền địa phương của nhân dân trong xã và các
bậc phụ huynh đã đóng góp vốn xây dùng cho nhà trường được 1 khu trung tâm
khang trang sạch đẹp. Có phòng học có bàn ghế đúng quy cách, có đồ chơi
ngoài trời. Qua khảo sát thực tế về cơ sở vật chất, trang thiết bị hiện có của nhà
trường trong 2 năm qua.
stt Thiết bị cơ sở vât chất
Làm
mới
Còn thiếu so
với yêu cầu
1 Phòng học kiên cố 8 2
2 Phòng ban giám hiệu 1 2
3 Phòng âm nhạc 1 0
4 Phòng ăn lớn của toàn trường 1 0

34 Hồ sơ nhà trường đủ 0
35 Các loại vở - đồ dùng học tập cho trẻ mỗi loại 250 0
36 Đu quay 1 2
37 Nhà chòi 1 2
38 Vạc giường 60 20
39 Chăn 60 20
40 Chiếu 60 20
41 Gối 200 50
42 Đồ chơi nấu ăn 30 10
43 Đồ chơi bán hàng 30 10
44 Đồ chơi bác sỹ 30 10
45 XD lắp ghép 25 5
46 Khăn trải bàn ăn cho trẻ 100 50
47 Êm điện 2 0
48 Nồi cơm điện 1 1
49 Bếp ga - bình ga 1bé 0
50 xoong to 6 4
51 xoong nhá 20 0
52 xoong vừa 16 4
53 Bát to - bát nhỏ 300 0
54 môi to - môi nhỏ 290 0
55 Xô to - xô nhỏ 40 10
56 Chậu to - chậu nhỏ 20 10
57 Khăn của trẻ 2100 10
58 Chổi lau nhà 15 0
59 Biểu bảng tuyên truyền của các líp 10 0
60 Biểu bảng tuyên truyền của trường 3 0
61 Gương phòng âm nhạc 2 0
62 Đồng hồ treo tường to 2 10
63 Bàn ghế đá 1bé 3bé

trường tuy chưa được tốt nhưng bước đầu đã được quan tâm. Đó là điều kiện
thuận lợi để từng bước nâng cao hiệu quả công tác Quản lý CSVC và TBGD ở
trường.
2.2. Tuyên truyền phối hợp các đoàn thể phụ huynh học sinh trong công tác
quản lý cơ sở vật chất và quản lý giáo dục.
18
Quản lý CSVC và TBGD là một trong những công việc của người cán
bộ quản lý,người quản lý không những nâng cao nhận thức cho mình mà còn
phải có biện pháp nâng cao cho đội ngò giáo viên.
Đối với đội ngò giáo viên khi bước vào năm học mới hiệu trưởng cần tổ
chức cho giáo viên học tập các nghị quyết,luật giáo dục,điều lệ trường mầm
non,quy chế thiết bị giáo dục trong trương mầm non để nắm vững quan điểm
đường lối vể giáo dục của đảng và nhà nước ta. 100% cán bộ và giáo viên tham
gia dự líp bồi dưỡng chính trị hè do phòng giáo dục và ban tuyên giáo huyện ủy
tổ chức. Tăng cường công tác tuyên truyền giúp đội ngò giáo viên nhận thức
đúng chức năng của cơ sở vật chất và thiết bị giáo dục.
Trong thời gian bồi dưỡng chuyên môn người quản lý chỉ đạo thực hiện
2 tiết cùng một bài học trong đó có một tiết sử dụng thiết bị giáo dục một tiết
không sử dụng thiết bị giáo dục cho toàn thể giáo viên tham dù sau dó cùng
phân tích trao đổi thảo luận về tầm quan trọng của thiết bị giáo dục cách sử dụng
hiệu quả của việc sử dụng thiết bị giáo dục.
Người cán bộ quản lý cần động viên khích lệ giáo viên tự học tự ngiên
cứu để nâng cao trình độ cho bản thân. Ngoài ra cần độn viên đội ngò giáo viên
cùng tham gia sinh hoạt cùng chị em phụ nữ ở các thôn,hội phụ nữ xã qua đó
lồng ghép chương trình chăm sóc trẻ từ 0-6 tuổi,tuyên truyền kiến thức giáo dục
trong cộng đồng như : động viên đặt vấn đề để chị em cùng tham gia hỗ trợ
thêm nguồn kinh phí để tạo thêm cho nhà trường mua sắm CSVC và TBGD.
Để làm tốt công tác này trong năm học cần tổ chức chỉ đạo hội thi “bé
khỏe bé ngoan”, “bé với môi trường”, “bé làm quen với văn học và chữ viết”,
“bé hát dân ca” và năm học này chúng tôi tổ chức hội thi “bé thông minh nhanh

kiện nhất là điều kiện về CSVC, trang thiết bị cụ thể như: Sân chơi, phòng học,
bàn ghế, phòng âm nhạc, phòng chức năng, trang thiết bị đồ dùng đồ chơ mà
muốn có được các điều kiện đó đòi hỏi phải được quan tâm, đầu tư thích đáng
của các cấp các nghành đặc biệt là sự đóng góp hỗ trợ của phụ huynh học sinh.
Những năm trước đây nhận thức của cán bộ cũng như của nhân dân về bậc học
mầm non còn hạn chế, sai lệch, họ quan niệm rằng: Trường mẫu giáo chỉ là nơi
20
trông trẻ để bè mẹ in tâm đi làm, buôn bán, các cháu đến líp chỉ cần trải chiếu
ngồi chơi với cô giáo, hay múa hát mấy bài rồi về, chứ cần gì phải bàn ghế,
phòng học cũng không cần phải rộng rãi, làm gì, thậm chí chỉ cần tận dụng nhà
kho bỏ không hay nhà cũ sửa tạm lại là được, miễn là các cháu có chỗ ngồi chơi.
Từ nhận thức sai lệch đó, sự quan tâm đầu tư của chính quyền địa phương
đối với trường mầm non còn hạn chế, họ mới chỉ đầu tư một phần nào đó vào
làm mới tu sửa chữa nhỏ để khắc phục chỗ ngồi cho các cháu tạm thời .
Xuất phát từ hình thức thực tế trên, chúng tôi suy nghĩ rằng muốn có cơ
sở vật chất, trang thiết bị cho nhà trường đầy đủ. Điều trước tiên phải làm
chuyển biến nhận thức cán bộ lãnh đạo địa phương. Để làm tốt công tác tham
mưu này trước khi làm việc với chủ tịch xã, cần phân công cho giáo viên đi
xuống từng thôn làm công tác điều tra độ tuổi, nắm chắc tình hình các cháu
trong độ tuổi từ 0 - 6 rà soát xem còn bao nhiêu cháu trong độ tuổi chưa đến
trường đi học. Với tình hình như hiện nay, với số líp hiện có nhà trường không
thể tiếp nhận hết các cháu vào học vì số lượng quá tải, nên dự kiến phải mở bao
nhiêu líp? đặt địa điểm ở khu vực nào là hợp lý? Thì mới tiếp nhận được hết các
cháu. Sau khi điều tra xong BGH làm tham mưu với CB lãnh đạo xã báo cáo xin
được mở thêm một số líp mẫu giáo, nhà trẻ tại khu trung tâm của xã.
2.4. Làm tốt công tác xã hội hoá giáo dục, xây dựng và củng cố mối quan hệ
giữa nhà trường gia đình và các lực lượng xã hội khai thác nguồn đầu tư để
xây dựng cơ sở vật chất, trang thiết bị cho trường mầm non Xuâm Lâm.
Muốn đẩy mạnh công tác xây dựng cơ sở vật chất, trang thiết bị cho nhà
trường một điều kiện không thể thiếu được, đó là cần huy động mọi lực lượng

dục trẻ ở trường qua các đợt họp phụ huynh báo cáo toàn bộ kết quả đạt được về
mọi mặt của từng cháu ở trường, nhận xét ưu, khuyết điểm, báo cáo về quá trình
xây dựng cơ sở vật chất kỹ thuật trong nhà trường, phương hướng kế hoạch
trưng cầu ý kiến của phụ huynh, cuối cùng đi đến thống nhất phương pháp giáo
dục trẻ phát triển một cách toàn diện. Ban giám hiệu nhà trường đã tổ chức tốt
các hội thi “Bé làm nội trợ”; hội thi “Gia đình dinh dưỡng”; hội thi “Bé khoẻ,bé
ngoan, bé thông minh nhanh trí” ; Các ngày hội ngày lễ, “ngày 20/11, ngày 8/3”.
Xây dựng tiết dạy mẫu các hội thi giáo viên giỏi cấp trường, nhà trường đều mời
22
lãnh đạo địa phương như Phụ nữ, khuyến học, mặt trận tổ quốc xã, tất cả đoàn
thể về dự hội thi và toạ đàm.
Có thể nói rằng công tác XH hoá giáo dục là một việc làm vô cùng quan
trọng và cần thiết trong công tác giáo dục mầm non,việc làm cho mọi người cho
mọi nhà,mọi nghành hiểu được vị trí chức năng của nghành học, hiểu được nhu
cầu bức thiết của việc xây dựng CSVC trang thiết bị trong công tác giáo dục và
chăm sóc trẻ. Trong khi làm công tác tuyên truyền vận động đòi hỏi phải có
phương pháp thích hợp,có nghệ thuật giao tiếp khi hiểu vấn đề thì các ban nghành
đoàn thể XH sẽ tìm mọi cách để ủng hộ về CSVC trang thiết bị cho trường.
3. Nguyên nhân thực trạng trên:
Đất nước ta thực hiện công cuộc đổi mới đã được 20 năm, đời sống kinh
tế xã hội đã có nhiều khởi sắc. Tuy nhiên nền kinh tế nước ta vẫn là nền kinh tế
chậm phát triển, còn nghèo nàn, lạc hậu. Chính vì thế, mặc dù đã rất cố gắng
nhưng khả năng đầu tư kinh phí cho giáo dục của nhà nước còn hạn chế, không
đủ để đáp ứng yêu cầu để nâng cấp CSVC của các nhà trường.
Công tác TBGD chưa được sự quan tâm đúng mức của các cấp QLGD địa
phương do chưa thấy hết tầm quan trọng của TBGD trong quá trình dạy học
nhất là trong quá trình đổi nội dung, PPDH.
Một nguyên nhân chủ yếu và rất quan trọng là sự nhận thức chưa đúng của
đội ngò CBQL, GV,HS trong nhà trường về CSVC và TBGD. CBQL và giáo viên
chưa nhận thức được CSVC và TBGD là tiền đề quan trọng, là mét bộ phận cấu

TBGD với phương pháp giáo dục đào tạo thì người CBQL phải là người đầu
tiên nhận thức đúng, đầy đủ về ý nghĩa, vị trí vai trò của của CSVC và TBGD
trong mọi quá trình sư phạm của nhà trường, phải hiểu rõ đòi hái của chương
trình giáo dục và những điều kiện CSVC để thực hiện chương trình. Muốn vậy
người CBQL phải không ngừng học tập, rèn luyện nâng cao trình độ chuyên
môn nghiệp vụ quản lý có một số hiểu biết và kĩ năng chuyên ngành phụ trách.
Vì thế, người CBQL cần phải tham gia các líp bồi dưỡng CBQL, các líp
tập huấn chuyên đề, chuyên nghành, hội thảo về CSVC và TBGD. Người quản
lý phải thu thập và xử lý thông tin có liên quan đến CSVC và TBGD thông qua
tài liệu, sách báo, các phương tiện truyền thông. Người CBQL cũng cần nghiên
cứu kĩ năng và nắm vững các văn bản hướng dẫn, chỉ đạo những quyết định,
thông tư về CSVC và TBGD như: các quyết định của Bộ giáo dục và Đào tạo về
việc ban hành các danh mục TBDH tối thiểu, quy chế TBGD trường Mầm non,
trường Phổ thông, quyết định số 1221/ 2000 QĐ - BYT của Bộ Y tếngày
18/04/2000về việc ban hành về vệ sinh trường học Tham quan và học tập các
trường trong huyện có CSVC và phương pháp quản lý hiệu quả.
Quản lý CSVC và TBGD là một trong nhiều công việc của người quản lý,
người quản lý không những phải nâng cao nhận thức cho mình mà còn phải có
biện pháp nâng cao nhận thức cho ĐNGV và học sinh.
25

Trích đoạn MỘT SỐ BIỆN PHÁP QUẢN LÝ CSVC VÀ TBGD TRƯỜNG MẦM NON XUÂN LÂM
Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status