Lời mở đầu
Sự nghiệp đổi mới của Đảng ta và nhân dân ta đã triển khai được 20 năm,
lấy điểm đột phá vào năm 1986 là đổi mới chính sách đất đai nhằm phát triển
kinh tế nông nghiệp. Tiếp theo, chính sách đất đai đã được liên tục đổi mới theo
hướng xác lập và hoàn thiện thị trường quyền sử dụng đất mà trọng tâm là khu
vực đất phi nông nghiệp. Bước đi của 20 năm qua đã phản ánh một quá trình
nhận thức về vai trò của đất đai trong phát triển chính trị, kinh tế, xã hội. Đến
nay, nước ta đã đạt được nhiều thành tựu lớn trong chính sách đất đai, nhưng
thực tế đời sống kinh tế xã hội đã chỉ ra vẫn còn nhiều bất cập.
Thu hồi đất là một vấn đề nổi cộm và nhức nhối ở nước ta hiện nay. Thực
tiễn thực hiện quá trình này còn gặp phải rất nhiều khó khăn. ở hầu hết các địa
phương, hàng loạt các đơn thư khiếu nại của người dân liên quan đến bồi thường
giải phóng mặt bằng, tái định cư, ổn định đời sống, giải quyết việc làm khi thu
hồi đất diễn ra rất căng thẳng. Nhiều dự án treo, nhiều công trình xây dựng dang
dở, ngổn ngang vẫn còn đang tiếp tục chờ đợi được tháo gỡ. Trong khi đó nhiều
doanh nghiệp đang mỏi mòn mong đợi có một cơ chế đầu tư thông thoáng, một
hành lang pháp lý an toàn dễ chịu để nhanh chóng có “đất sạch” đầu tư.
Để quá trình thu hồi đất diễn ra trong một trật tự ổn định, vừa đảm bảo lợi
ích và an toàn cho người sử dụng đất, vừa đảm bảo lợi ích cho toàn xã hội, vừa
đảm bảo tốt cho công tác quản lý Nhà nước về đất đai thì cần phải có quy định
về trình tự, thủ tục hành chính trong lĩnh vực này.
Hơn nữa, cải cách thủ tục hành chính đang là một vấn đề thời sự được
Đảng, Nhà nước và toàn dân quan tâm. Bởi lẽ, cải cách thủ tục hành chính
không chỉ là yêu cầu mà còn là điều kiện để chúng ta phát triển bền vững trong
tương lai. Chúng ta không thể phủ nhận vai trò tích cực của các văn bản pháp
luật đối với quá trình thu hồi đất. Hệ thống pháp luật đất đai nước ta ngày một
hoàn thiện, Việt Nam có thể tin tưởng vào sự điều chỉnh của cơ chế pháp luật
đồng bộ, các chế định pháp luật đất đai ngày càng phát triển, hợp lòng dân.
1
Với những lý do trên, tôi chọn đề tài: “Nghiên cứu các quy định về
trình tự, thủ tục thu hồi đất và hướng hoàn thiện các quy định này”.
lý đã sử dụng nhiều biện pháp khác nhau để phân phối và phân phối lại quỹ đất
quốc gia cho nhiều chủ sử dụng. Một trong những biện pháp đó chính là thu hồi
đất.
Thu hồi đất không chỉ hiểu một cách thuần tuý là Nhà nước sẽ tước đi
quyền sử dụng của các chủ sử dụng đất mà qua đó để thiết lập một quan hệ sử
dụng đất mới phù hợp với lợi ích Nhà nước và xã hội. Thực tế thu hồi đất là giai
đoạn kết thúc việc sử dụng đất của chủ thể này nhưng là bước kế tiếp của việc
sử dụng đất của một chủ thể mới. Do vậy các quy định về thu hồi đất cần kết nối
được ba lợi ích của ba chủ thể quan trọng là: Nhà nước - chủ đầu tư - người bị
thu hồi đất.
Giáo trình luật đất đai 2005 - Trường đại học Luật Hà Nội đưa ra định
nghĩa về thu hồi đất như sau: “thu hồi đất là văn bản hành chính của cơ quan nhà
3
nước có thẩm quyền nhằm chấm dứt một quan hệ pháp luật đất đai để phục vụ
lợi ích của Nhà nước của xã hội hoặc xử lý hành chính hành vi vi phạm pháp
luật đất đai của người sử dụng đất”.
[1]
Theo khoản 5 Điều 4 Luật đất đai năm 2003 thì thu hồi đất được hiểu: “là
việc Nhà nước ra quyết định hành chính để thu lại quyền sử dụng đất hoặc thu
lại đất đã giao cho tổ chức, Uỷ ban nhân dân (UBND) xã, phường, thị trấn quản
lý theo quy định của luật này”.
Từ các định nghĩa trên, thu hồi đất được hiểu dưới hai góc độ cơ bản, đó
là:
Thứ nhất, Thu hồi đất là một biện pháp pháp lý làm chấm dứt quan hệ
pháp luật đất đai được thể hiện dưới hình thức là một quyết định hành chính của
cơ quan nhà nước có thẩm quyền về giao đất, cho thuê đất. Đây là quyết định thể
hiện quyền lực nhà nước nhằm thực thi một trong những nội dung của nhà nước
về quản lý đất đai. Vì vậy, thẩm quyền thu hồi đất phải tuân thủ Điều 44 Luật
đất đai năm 2003. Một quyết định thu hồi đất không đúng thẩm quyền hoặc trái
thẩm quyền không làm chấm dứt quan hệ pháp luật đất đai, ví dụ như quyết định
luật đất đai để phục vụ lợi ích của Nhà nước, của xã hội hoặc xử lý hành chính
hành vi vi phạm pháp luật đất đai của người sử dụng đất”.
Thực chất, trình tự, thủ tục thu hồi đất chính là một dạng của trình tự, thủ
tục hành chính. Việc thiết lập trình tự, thủ tục hành chính để thực hiện các công
việc của cơ quan nhà nước có thẩm quyền về thu hồi đất một cách khoa học sẽ
tạo điều kiện bảo đảm cho tiến trình quản lý được thông suốt và có hiệu quả,
đảm bảo hoạt động thu hồi đất được diễn ra trong một khuôn khổ pháp lý, một
trật tự ổn định.
Trên thực tế khi giải quyết một công việc nhất định, các cơ quan nhà nước
cần phải thực hiện theo những nguyên tắc pháp lý được xác định một cách cụ
thể - các quy phạm thủ tục. Cho nên, thủ tục có thể được hiểu là những quy tắc,
chế độ, phép tắc hay quy định chung phải tuân theo khi làm những việc nhất
định. Như vậy, trình tự, thủ tục hành chính là thứ tự thực hiện thẩm quyền trong
quản lý nhà nước, là cách thức Nhà nước áp dụng để làm cho các quy định của
pháp luật có được sự đảm bảo thống nhất trong quá trình thực thi. Đây là một bộ
2
[2]. Từ điển tiếng Việt – NXB Đà Nẵng, 2004, tr.960.
3
[3]. Từ điển tiếng Việt – NXB Đà Nẵng, 2004, tr.1037.
5
phận cấu thành thể chế hành chính giúp cho các cơ quan nhà nước thực hiện
chức năng của mình, đồng thời giúp cho các cá nhân, tổ chức thực hiện các
quyền của mình một cách dễ dàng.
Từ những điều trên, có thể hiểu trình tự, thủ tục thu hồi đất là “tổng hợp
các quy phạm pháp luật do cơ quan nhà nước có thẩm quyền ban hành nhằm xác
lập (quy định) trình tự về không gian, về thời gian, là cách thức giải quyết công
việc của cơ quan có thẩm quyền phát sinh trong quá trình thu hồi đất”.
Trình tự thủ tục thu hồi đất có một số đặc thù sau:
Thứ nhất, trình tự, thủ tục thu hồi đất là trình tự, thủ tục giải quyết công
việc của Nhà nước và công việc của các chủ thể có liên quan. Theo Luật đất đai
tiếp theo của khoá luận.
Thứ ba, trình tự, thủ tục hành chính thực hiện thu hồi đất đã và đang góp
phần là bước tiếp theo của chủ trương cải cách thủ tục hành chính theo cơ chế
“một cửa”, rút ngắn thời gian thực hiện các thủ tục. Tạo điều kiện thuận lợi cho
các chủ thể đầu tư thuận lợi dễ dàng trong việc tìm kiếm địa điểm đầu tư và
nhanh chóng có “đất sạch” thực hiện đầu tư, không phải tốn thời gian, công sức
một cách khó khăn và không có hướng đúng đắn hoặc lại phải thông qua những
“cò đất” không mấy tin cậy. Nhằm chủ động xây dựng quỹ đất cho đầu tư phát
triển, Luật đất đai năm 2003 quy định nhà nước thực hiện việc thu hồi đất, bồi
thường giải phóng mặt bằng sau khi quy hoạch kế hoạch sử dụng đất được công
bố hoặc khi dự án đầu tư có nhu cầu sử dụng đất phù hợp với quy hoạch kế
hoạch sử dụng đất được cơ quan nhà nước có thẩm quyền xét duyệt. Luật đất đai
năm 2003 quy định Nhà nước thực hiện thu hồi đất để sử dụng vào mục đích
phát triển kinh tế trong trường hợp đầu tư xây dựng khu công nghiệp, khu công
nghệ cao, khu kinh tế và các dự án đầu tư lớn. Đối với các trường hợp khác mà
việc sử dụng đất phù hợp với quy hoạch sử dụng đất thì nhà đầu tư được tự thoả
thuận với chủ đang sử dụng để nhận chuyển nhượng, thuê quyền sử dụng đất
hoặc nhận góp vốn bằng quyền sử dụng đất với tổ chức kinh tế và cá nhân khác.
Điều đó có nghĩa là, nhà đầu tư có thể chủ động lựa chọn hình thức phù hợp để
7
có quyền sử dụng đất mà không nhất thiết cứ chờ đợi từ Nhà nước. Hơn nữa,
không nhất thiết cứ phải thông qua các quyết định hành chính trong khi họ có
thể thiết kế với nhau các quan hệ dân sự. Thời gian là tiền bạc, các nhà đầu tư có
thể đi bằng con đường nhanh nhất và ngắn nhất có thể để có quyền sử dụng đất
như mong muốn. Đó chính là lý do Nhà nước cho phép nhà đầu tư tự tìm kiếm
mặt bằng trong kinh doanh mà không phải thực hiện quy trình thu hồi.
1.2. Hậu quả pháp lý của việc thu hồi đất
Xuất phát từ lý do thu hồi đất là một trong những nội dung của quản lý
Nhà nước về đất đai vì vậy sự can thiệp của Nhà nước dựa trên những chính
sách quy định cụ thể của pháp luật có một vai trò vô cùng quan trọng. Hậu quả
sát đủ kiểu dáng… Thế nhưng, nhiều người chưa có việc làm mới, trong khi
không còn đất sản xuất; họ đang “ăn mòn” khoản tiền bồi thường mà đáng lẽ để
đầu tư cho tương lai. Người dân bao năm chỉ biết cấy cày, giờ không còn ruộng
thực sự lúng túng khi phải tìm nghề khác để kiếm sống. Tình trạng này tập trung
ở lứa tuổi từ 30 đến 50, còn sức lao động nhưng khó đào tạo tiếp để có việc làm
tại các khu công nghiệp, điều kiện sống và sản xuất của họ bị thay đổi hoàn
toàn. Thực hiện chuyển đổi cơ cấu kinh tế, Đảng và Nhà nước ta đã đặt ra mục
tiêu phấn đấu tới năm 2020 đưa đất nước trở thành một quốc gia công nghiệp,
nhưng thực tiễn hiện nay đang có quá nhiều bất cập trong việc thu hồi đất, khó
khăn trong việc chuyển đổi cơ cấu ngành nghề, giải quyết việc làm cho nông
dân. Khi đặt vấn đề cho nông dân góp vốn bằng đất đai để hưởng lợi lâu dài;
đồng thời cũng góp phần tháo gỡ khó khăn về vốn cho doanh nghiệp trong giai
đoạn đầu? Theo ý kiến của ông Giang Anh Đức, Phó giám đốc công ty dệt may
Hà Nam: “Ai cũng nghĩ như vậy, nhưng do sự hiểu biết của người nông dân về
kinh doanh còn hạn chế, nên rất dễ dẫn đến sự hiểu lầm, bởi trong những năm
đầu chẳng có doanh nghiệp nào có lãi, thậm chí còn phải chịu thua lỗ; hơn nữa,
doanh nghiệp cũng chưa quen và cũng không muốn “gánh thêm phần tính toán
lỗ lãi, chia cổ tức cho những người góp vốn bằng đất”.
[6]
Luật đầu tư năm 2005 ra đời với những chính sách đầu tư thông thoáng
nhằm thu hút vốn đầu tư phát triển kinh tế đất nước. Trong bối cảnh đó, nhiều
4
[4]. www.hoinongdan.org.VN, Đất đai phải được coi là hàng hoá đặc biệt, thứ ba ngày 10/4/2007.
5
[5]. Giáo trình Luật Đất Đai, Trường Đại học Luật Hà Nội 2006, Tr. 140.
6
[6] Thông tấn xã Việt Nam, Giải pháp nào cho nông dân không còn đất, ngày 24/09/2007.
9
doanh nghiệp muốn tìm kiếm đất để thực hiện dự án của mình. Việc đẩy mạnh
phát triển các khu công nghiệp trong thời gian qua đã tạo ra những bước đột phá
trình phòng thủ quốc gia bảo vệ tổ quốc… Qua đó, Nhà nước có thể thực hiện
các mục tiêu, kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội đề ra. Sau nữa, nếu thực hiện
tốt chính sách điều tiết, việc thu hồi đất sẽ mang lại nguồn thu đáng kể cho ngân
sách nhà nước.
Như vậy, thu hồi đất có ý nghĩa cực kỳ quan trọng trong quá trình phát
triển kinh tế đất nước, hậu quả của nó đã tác động không nhỏ đến lợi ích của ba
chủ thể: Nhà nước – người có nhu cầu sử dụng đất – người có đất. Vấn đề cần
đặt ra ở đây là cần đảm bảo hài hoà lợi ích giữa họ, tạo nên sự đồng thuận với
chính sách của Đảng và Nhà nước. Để giải quyết mối quan hệ này cho hài hoà,
theo quan điểm của tôi nhà nước cần đồng thuận với dân, coi quyền sử dụng đất
là một tài sản của dân. Đối với người được hưởng lợi từ việc thu hồi đất bao
gồm các doanh nghiệp, nhà đầu tư, các tổ chức sử dụng đất của Nhà nước và
một bộ phận dân cư trong xã hội cũng cần có sự điều tiết về việc hưởng lợi này.
Cụ thể, đối với các doanh nghiệp, nhà đầu tư, Nhà nước cần áp dụng chính sách
buộc họ cam kết thực hiện việc thu hút con em của người nông dân bị mất đất
vào làm việc, coi đó như là sự “trả công” về sự “hy sinh” đất canh tác cho các
liên doanh sử dụng làm mặt bằng sản xuất kinh doanh. Đối với một bộ phận dân
cư hưởng lợi từ việc Nhà nước thu hồi đất, cần nhanh chóng áp dụng chính sách
Nhà nước điều tiết phần giá trị tăng thêm từ đất đai mà không do người sử dụng
đất đầu tư nhằm đảm bảo công bằng về lợi ích giữa các đối tượng này. Nếu Nhà
nước giải quyết được hài hoà và công bằng về lợi ích kinh tế giữa người bị thu
hồi đất với các đối tượng được hưởng lợi từ việc thu hồi đất thì việc bồi thường
giải phóng mặt bằng không quá khó khăn, phức tạp và gây nhiều khiếu kiện kéo
dài như hiện nay.
Trên thực tế, đất là rất quan trọng và người dân muốn phải được bồi
thường về giá trị đất gắn liền với tài sản. Đây là một trong những vấn đề mà khi
chúng ta bồi thường giải phóng mặt bằng thì người dân khiếu kiện. Như vậy,
11
nhà nước cần làm rõ và xác định thời điểm bồi thường cho chính xác để địa
phương có cơ sở triển khai. Xác định giá đất bồi thường sát giá thị trường hiện
lạm dụng quyền trong quản lý của các cơ quan nhà nước trong quá trình thực
hiện, góp phần giảm thiểu các vi phạm pháp luật đất đai.
Thực tiễn cho thấy, trong nhiều trường hợp, nguyên nhân chủ yếu phát
sinh các tranh chấp, khiếu kiện khi thu hồi đất là do cơ quan nhà nước có thẩm
quyền thu hồi không công khai, minh bạch nên không nhận được sự đồng tình
của người dân. ở nhiều nơi, thu hồi đất diễn ra không rõ ràng, cơ quan nhà nước
có thẩm quyền không thực hiện đúng các quy định của pháp luật về thông báo
cho người sử dụng đất biết lý do thu hồi, thời gian và kế hoạch di chuyển,
phương án tổng thể về bồi thường, giải phóng mặt bằng, tái định cư. Có nhiều
trường hợp, người bị thu hồi đất không nhận được quyết định thu hồi đất mà chỉ
có thông báo, không xây dựng khu tái định cư trước khi thu hồi hoặc tiến hành
thu hồi đất mà chưa có quyết định thu hồi đất của cơ quan nhà nước có thẩm
quyền… Chính những điều này đã gây nên sự nghi ngờ về sự công tâm của các
cán bộ thực thi, trong một số trường hợp quá trình thu hồi đất không công khai,
minh bạch là nguyên nhân làm phát sinh tham nhũng, tiêu cực, bớt xén làm “xói
mòn” lòng tin của người dân đối với Đảng và Nhà nước.
Thu hồi đất là một quá trình diễn ra trong một thời gian tương đối dài và
ảnh hưởng không nhỏ tới các chủ thể có liên quan. Quá trình này bao gồm nhiều
thủ tục, trải qua nhiều giai đoạn. Thủ tục nào pháp luật quy định trước thì thực
hiện trước, nó là cơ sở để tiến hành những bước tiếp sau. Trong quá trình thực
hiện, không được bỏ qua, lãng quên hay đốt cháy giai đoạn. Bởi vì chính bản
thân các thủ tục này sẽ tạo nên một khung pháp lý, một trật tự ổn định trong quá
trình thực hiện chức năng quản lý của cơ quan nhà nước. Ví dụ: trước khi ra
quyết định thu hồi, cơ quan nhà nước có thẩm quyền cần phải xác định và công
bố chủ trương thu hồi đất, chuẩn bị hồ sơ địa chính cho khu đất bị thu hồi; lập,
thẩm định và xét duyệt phương án tổng thể về bồi thường hỗ trợ tái định cư và
cần phải thông báo về quyết định thu hồi. Đồng thời, các giai đoạn này cũng
được quy định cụ thể về chủ thể tiến hành, cần những công việc gì, thời gian cụ
thể cho quá trình thực hiện. Chỉ khi có một trình tự, thủ tục hành chính tốt thì
13
tục cụ thể, vấn đề bồi thường thiệt hại hầu như chưa được dự liệu để giải quyết
những phát sinh thực tế. Vì vậy, thực tiễn thi hành ở các địa phương cho thấy
hầu hết các cán bộ quản lý đều làm theo sự nhận thức chủ quan và thói quen lâu
ngày. Điều này khiến cho quan hệ pháp luật đất đai trở nên phức tạp, rơi vào
tình trạng lộn xộn, thiếu công bằng, công tâm trong quản lý sử dụng đất. Người
dân không thể hiểu hết quyền và nghĩa vụ, trong quá trình thực hiện nảy sinh
tranh chấp phải liên hệ đơn từ gây tốn kém lãng phí mà vẫn không đúng cơ quan
nhà nước có thẩm quyền. Chính sách bồi thường, giải phóng mặt bằng thực hiện
chưa thống nhất, không chỉ ở các địa phương mà ngay cả ở trong cùng một địa
phương nên đã nảy sinh nhiều vụ khiếu kiện đông người.
Trước những tồn tại và bất cập nêu trên, luật đất đai năm 2003 được quốc
hội thông qua ngày 26/11/2003 có hiệu lực ngày 01/7/2004 đã quy định thu hồi
đất thành một mục riêng (Mục 4 chương II điều 38-45), cùng với các văn bản
hướng dẫn thi hành:
- Nghị định 181/2004/NĐ-CP ngày 29/10/2004 hướng dẫn thi hành luật
đất đai năm 2003.
- Nghị định 197/2004/NĐ-CP ngày 3/12/2004 của Chính phủ về bồi
thường hỗ trợ tái định cư khi nhà nước thu hồi đất.
- Nghị định 17/2006/NĐ-CP ngày 27/01/2006 về việc sửa đổi bổ sung
một số điều của các Nghị định của Chính phủ về thi hành Luật đất đai.
Các thủ tục hành chính về thu hồi đất đã được bổ sung và khá hoàn thiện,
giải quyết được nhu cầu về mặt pháp lý mà trước đó vấn đề này còn bị “buông
lỏng”, “thả trôi”. Điều đặc biệt là Nghị định 84/2007/NĐ-CP ngày 25/5/2007
của Chính phủ đã chính thức quy định về một chu trình hành chính trong thu hồi
đất làm cơ sở cho các địa phương trong cả nước triển khai đúng quy định của
pháp luật khi thu hồi đất, thực hiện các dự án đầu tư, lợi ích công cộng, lợi ích
quốc gia. Các văn bản quy phạm pháp luật như vậy đã tạo ra một hệ thống pháp
luật tương đối đầy đủ, giải quyết khá tốt mối quan hệ đất đai ở khu vực nông
thôn, bước đầu đã đáp ứng được các mối quan hệ đất đai mới hình thành trong
15
chậm, nhiều địa phương chưa có giải pháp cụ thể thiết thực, tình trạng đất bỏ
hoang gây lãng phí nguồn tài nguyên của đất nước; nhiều quyết định thu hồi đất
của các cơ quan ban ngành đã “thất hẹn và thất hứa” với lý do chưa có nguồn
kinh phí để giải phóng mặt bằng, việc bồi thường đã không tuân thủ phương án
tổng thể và phương án cụ thể về bồi thường. Năng lực tổ chức yếu kém nhất là ở
chính quyền cơ sở, hàng loạt các sai phạm và tiêu cực xảy ra trên thực tế như
định giá đất sai, phân loại đất không sát theo luật định, khai tăng diện tích đất,
tăng hộ để lấy tiền đền bù, bớt xén tiền đền bù… vấn đề này đâu phải do người
dân mà chính từ phía những người quản lý.
Bên cạnh các sai phạm từ phía chính quyền, những hành vi vi phạm của
người dân gây cản trở quá trình thu hồi đất diễn ra không ít. ở nhiều nơi, người
sử dụng đất không bàn giao mặt bằng khi đã có quyết định thu hồi đất, nhiều hộ
dân cản trở tiến độ thi công công trình, “chây ì” không chịu nhận tiền bồi
thường, không chịu di dời đến nơi ở mới. Một số trường hợp người dân biểu thị
sự không đồng tình và yêu cầu đòi bồi thường giá cao hơn bằng cách gây áp lực
với chính quyền và doanh nghiệp thông qua các hành động mang tính tiêu cực,
thái quá như rào cổng ra vào gây cản trở hoạt động sản xuất kinh doanh, đầu tư
của doanh nghiệp; đập phá chống lại người thi hành công vụ, đòi bồi thường quá
đáng gây mất ổn định xã hội đã và vẫn đang xảy ra gây căng thẳng cho các cấp
chính quyền cũng như những cán bộ trực tiếp quản lý.
Những vi phạm kể trên trong quá trình thực hiện các thủ tục về thu hồi đất
là một trong những cơ sở cần thiết giúp chúng ta đánh giá được thực trạng pháp
luật hiện hành, những ưu điểm cũng như bất cập đang tồn tại, thông qua đó bài
viết có đề cập đến một số giải pháp góp phần hoàn thiện pháp luật về trình tự,
thủ tục thu hồi đất.
17
Chương 2
thực trạng pháp luật về trình tự, thủ tục
thu hồi đất
2.1. Trình tự, thủ tục thu hồi đất đối với các trường hợp quy định tại khoản
đất và giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đến Sở Tài nguyên và Môi trường
(TN&MT) nơi có đất, ngoài ra quyết định giải thể, phá sản của cơ quan nhà
nước có thẩm quyền cũng được nộp tại đây. Trường hợp chủ thể sử dụng đất là
hộ gia đình, cá nhân, cộng đồng dân cư thì gửi đến Phòng TN&MT nơi có đất.
Cần lưu ý rằng, trong trường hợp không có hoặc chưa được cấp giấy chứng nhận
quyền sử dụng đất thì chủ thể sử dụng đất cần có một trong các loại giấy tờ quy
định tại khoản 1, 2, 5 Điều 50 Luật đất đai năm 2003.
Pháp luật có quy định rõ thời gian cơ quan TN&MT thẩm tra xác minh
thực địa khi cần thiết và trình UBND cùng cấp quyết định thu hồi là hai mươi
(20) ngày làm việc kể từ ngày nhận văn bản trả lại đất, hoặc kể từ ngày nhận
được quyết định giải thể, phá sản của cơ quan nhà nước có thẩm quyền. Trên cơ
sở đó, kể từ ngày nhận được tờ trình, UBND cấp có thẩm quyền có trách nhiệm
xem xét, ký và gửi cho cơ quan TN&MT trực thuộc quyết định thu hồi trong
khoảng thời gian là 15 ngày làm việc.
Quy định cụ thể về thẩm quyền giải quyết, về thời gian nộp hồ sơ và ra
quyết định thu hồi giúp cho cơ quan nhà nước chủ động trong quá trình thu hồi
đất, tránh tình trạng “ì ạch” kéo dài thời gian gây ách tắc, ảnh hưởng đến quyền
lợi cũng như nghĩa vụ của các chủ thể liên quan. Có thể nói rằng các thủ tục
pháp lý trên đã được đơn giản hoá; tất cả những khâu, những đầu mối những
19
công đoạn phức tạp hầu như đã được loại bỏ. Đảm bảo giải quyết các vụ việc
được nhanh chóng.
2.2. Trình tự thu hồi đất đối với các trường hợp do vi phạm pháp luật của
người sử dụng đất
Trong quá trình sử dụng đất, người sử dụng do vô ý hoặc cố ý vi phạm
pháp luật đất đai. Các vi phạm này là nghiêm trọng và dẫn tới hậu quả pháp lý là
Nhà nước thu hồi đất với tính cách là một biện pháp chế tài nhằm tước đi quyền
sử dụng đất của người vi phạm. Nhà nước tiến hành thu hồi đất đối với các
trường hợp quy định tại khoản 3, 4, 5, 6, 9, 11, 12 Điều 38 Luật đất đai năm
2003 như sau:
cư song lại không được giao, mà giao cho người khác không đủ tiêu chuẩn,
không thuộc diện tái định cư. Những việc giao đất tái định cư tại Vụng Hương,
Vạn Sơn của thị xã Đồ Sơn thành phố Hải Phòng hoặc tại thị xã Phú Thọ tỉnh
Phú Thọ có nhiều cán bộ công chức không thuộc diện được giao đất mà công
luận đã lên tiếng nhiều lần là những ví dụ điển hình. Việc thu hồi đất trong các
trường hợp này để khắc phục việc làm sai trái của cơ quan nhà nước, nhằm lập
lại trật tự kỷ cương trong quản lý đất đai. Theo báo cáo tổng kết 10 năm thi hành
Luật đất đai (1993-2003) của Bộ TN&MT, cả nước có 217.009 trường hợp giao
đất, cho thuê đất trái thẩm quyền với diện tích 10.260 ha. Trong đó chủ yếu là
cấp xã, thôn có 174.100 trường hợp vi phạm (chiếm 80,2%) với diện tích 4795
ha; cấp huyện có 5800 trường hợp với diện tích 778ha; cơ quan tổ chức khác của
Nhà nước có 853 trường hợp với diện tích 248 ha.
Thứ tư, đất bị lấn chiếm bao gồm đất chưa sử dụng bị lấn chiếm và đất
không được chuyển quyền sử dụng đất theo quy định của Luật đất đai năm 2003
mà người sử dụng đất do thiếu trách nhiệm để bị lấn chiếm.
Kết quả kiểm tra tại 61 tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương đã phát hiện
trên 101.400 trường hợp lấn chiếm đất trái phép với diện tích trên 27.916 ha.
Đối tượng vi phạm chủ yếu là hộ gia đình, cá nhân. Loại đất lấn chiếm chủ yếu
21
là đất công, đất hành lang bảo vệ an toàn công trình, đất di tích lịch sử văn hoá,
đất đã giao nhưng chưa đi vào sử dụng.
Các tổ chức, cá nhân, hộ gia đình sử dụng đất đúng mục đích, có hiệu quả
luôn được Nhà nước khuyến khích, tạo điều kiện giúp đỡ. Tuy nhiên, mọi hành
vi lấn chiếm sẽ bị thu hồi để trả lại cho Nhà nước hoặc người bị lấn chiếm.
Thứ năm, người sử dụng đất cố ý không thực hiện nghĩa vụ đối với nhà
nước.
Nhà nước thu hồi đất trong các trường hợp tổ chức, hộ gia đình, cá nhân,
cộng đồng dân cư sử dụng đất không thực hiện các nghĩa vụ tài chính theo quy
định của pháp luật như: không nộp tiền sử dụng đất, tiền thuê đất, thuế sử dụng
đất, thuế thu nhập từ chuyển quyền sử dụng đất, tiền thu từ phạt vi phạm pháp
hành chính này ra sao? Có những sai phạm nào? Ngày 3/3/2004 Sở TN&MT
tỉnh Nam Định trình UBND tỉnh về việc thu hồi và cho Công ty cổ phần Đầu tư
– xây dựng phát triển đô thị Sammy thuê đất xây dựng Tổng kho chứa và nhà
máy sản xuất phân bón chế biến thức ăn gia súc tại Mỹ Tân, huyện Mỹ Lộc. Rất
nhanh chóng, ngay trong ngày 3/3/2004 UBND tỉnh đã có quyết định về việc thu
hồi trên 153.000m
2
đất của hàng trăm hộ dân để cho công ty Sammy thuê trong
vòng 50 năm. Dự án với tổng vốn đầu tư hơn 450 tỷ đồng được quyết định trong
1 ngày, nhưng đã để treo gần 4 năm. Trong giấy chứng nhận quyền sử dụng đất
cấp cho công ty cổ phần Sammy có ghi rõ, diện tích đất trên có mục đích sử
dụng “xây dựng tổng kho và nhà máy phân bón, chế biến thức ăn gia súc”. Thế
nhưng, đáng lý các cơ quan chức năng phải tiến hành các thủ tục thu hồi đất vì
dự án này đã không được khởi công trong vòng 24 tháng thì ngay sau đó, công
ty Cổ phần quốc tế năm sao – một doanh nghiệp thay thế Công ty cổ phần
Sammy lại phát đi một thiệp mời lễ khởi công dự án Trung tâm thương mại du
lịch quốc tế đồng bằng sông Hồng, lúc này mục đích của dự án đã thay đổi,
không như quyết định ban đầu của UBND tỉnh Nam Định nữa. Rất nhiều bà con
sinh sống ở quanh khu đất đều xót xa bởi gần 20ha đất (chủ yếu là đất hai lúa) bị
thu hồi để hoang hoá nhiều năm liền không hề được triển khai đầu tư xây dựng,
23
thiệt hại là không hề nhỏ, bởi nhiều hộ dân bị thu hồi đất, mất tư liệu sản xuất đã
phải tha phương làm thuê kiếm sống. Đã có rất nhiều đợt thanh tra kiểm tra các
công trình trọng điểm của Nam Định trong năm 2007 vừa qua, song khu đất này
không nằm trong danh sách bị kiểm tra, thanh tra, xem xét xử lý.
[8]
Qua vụ việc cụ thể tại tỉnh Nam định chúng ta có thể hình dung được
rằng, quá trình thực hiện các quy định của pháp luật nói chung cũng như thực
hiện thủ tục thu hồi đất nói riêng diễn ra trên thực tế rất phức tạp. Trong một dự
án mà sai phạm nối tiếp sai phạm, những người thực hiện hầu như làm ngơ trước
Nhà nước giao, cho thuê có thời hạn mà không được gia hạn khi hết thời hạn”.
trình tự, thủ tục cũng được thiết kế logic theo các bước tương tự như trên, cụ thể
là: kể từ khi hết hạn sử dụng đất, cơ quan TN&MT trình UBND cùng cấp quyết
định thu hồi, thời gian đảm bảo để thực hiện các công việc này là 30 ngày.
Trong thời hạn 10 ngày kế tiếp, kể từ khi nhận được tờ trình UBND cấp có thẩm
quyền xem xét và ra quyết định thu hồi đất.
Có thể nhận thấy trong hai trường hợp quy định tại khoản 7 và 10 Điều 38
Luật Đất đai như đã trình bày, thời gian thực hiện các công việc của cơ quan
TN&MT có khác nhau. Việc quy định khoảng thời gian dài ngắn không trùng
nhau như vậy nhằm tạo điều kiện cho cơ quan này đạt được hiệu quả cao nhất,
thực hiện các công việc theo đúng tiến độ vừa đảm bảo thực thi đầy đủ các quy
định của pháp luật.
Như vậy, căn cứ vào các thủ tục hành chính về thu hồi đất ở các trường
hợp kể trên, vấn đề thời gian thực hiện và thẩm quyền thực hiện các công việc là
hai điểm nhấn thực sự đáng lưu tâm trong quá trình triển khai thực tế. Thẩm
quyền thu hồi đất là một vấn đề rất quan trọng, nó ảnh hưởng đến hiệu lực của
một quyết định thu hồi đất, nó thể hiện được trách nhiệm trực tiếp của từng cấp
chính quyền. Về nguyên tắc, cơ quan nào có thẩm quyền giao đất, cho thuê đất
thì có thẩm quyền thu hồi đất. Theo báo Tiền Phong năm 2007, câu chuyện về
6000m
2
đất do Thủ tướng Chính phủ giao cho công ty tàu thuỷ Sài Gòn xây
dựng nhà máy sửa chữa và đóng mới tàu thuỷ (từ ngày 1/8/1992) đã bị UBND
Thành phố Hồ Chí Minh ra quyết định thu hồi là một dẫn chứng khá điển hình
về quá trình thu hồi đất sai thẩm quyền của các cơ quan chức năng. Ngày
25