Giải pháp hạn chế nợ đọng và trốn đóng bảo hiểm xã hội bắt buộc tại tỉnh bắc ninh - Pdf 28


BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO BỘ NÔNG NGHIỆP VÀ PTNT
HỌC VIỆN NÔNG NGHIỆP VIỆT NAM
NGUYỄN VĂN ĐỨC

GIẢI PHÁP HẠN CHẾ NỢ ĐỌNG VÀ TRỐN ĐÓNG
BẢO HIỂM XÃ HỘI BẮT BUỘC TẠI TỈNH BẮC NINH

LUẬN VĂN THẠC SĨ


TS. NGUYỄN QUỐC CHỈNH
HÀ NỘI - 2014
Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Kinh tế
Page i

LỜI CAM ĐOAN Tôi xin cam đoan đây là đề tài nghiên cứu của riêng tôi. Các số liệu được
sử dụng trong luận văn là trung thực, có nguồn gốc rõ ràng. Các kết quả nghiên
cứu trong luận văn được tập hợp tại cơ quan Bảo hiểm xã hội tỉnh Bắc Ninh và
chưa từng được ai nghiên cứu và công bố trong bất cứ công trình khoa học nào.

Người cam
đ
o
an

Nguyễn Văn Đức
Tôi mong nhận được sự quan tâm, đóng góp ý kiến của các thầy giáo,
cô giáo và những độc giả quan tâm đến đề tài này.

Tác giả Nguyễn Văn Đức Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Kinh tế
Page iii

MỤC LỤC
Lời cam đoan i
Lời cảm ơn ii
Mục lục iii
Danh mục chữ viết tắt v
Danh mục bảng vi
Danh mục sơ đồ viii
1 MỞ ĐẦU 1
1.1 Tính cấp thiết của đề tài 1
1.2 Mục tiêu nghiên cứu 2
1.3 Đối tượng nghiên cứu và phạm vi nghiên cứu 2
2 TỔNG QUAN TÀI LIỆU NGHIÊN CỨU 3
2.1 Cơ sở lý luận 3
2.1.1 Khái niệm, vai trò và bản chất của BHXH bắt buộc 3
2.1.2 Chức năng và tính chất của BHXH bắt buộc 8

4.3.1 Tính tuân thủ pháp luật của đơn vị sử dụng lao động về BHXH 64
4.3.2 Công tác thanh tra, kiểm tra chưa thường xuyên 67
4.3.3 Nhận thức của đơn vị sử dụng lao động và người lao động chưa cao 68
4.3.4 Tình hình SXKD và quy mô lao động của DN 69
4.3.5 Công tác tuyên truyền 71
4.3.6 BHXH tỉnh Bắc Ninh 73
4.3.7 Chế tài xử phạt đối với các đơn vị nợ BHXH bắt buộc chưa đủ mạnh 73
4.3.8 Sự phối hợp giữa các ngành liên quan chưa thường xuyên 74
4.4 Một số giải pháp hạn chế nợ đọng và trốn đóng BHXH bắt buộc ở tỉnh
Bắc Ninh trong thời gian tới 75
4.4.1 Các giải pháp hạn chế nợ đọng, trốn đóng BHXH bắt buộc đã thực
hiện tại Bắc Ninh 75
4.4.2 Quan điểm, định hướng và một số giải pháp hạn chế nợ đọng và trốn
đóng BHXH bắt buộc ở tỉnh Bắc Ninh trong thời gian tới 76
5 KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 88
5.1 Kết luận 88
5.2 Kiến nghị 89
TÀI LIỆU THAM KHẢO 90
Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Kinh tế
Page v

DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT

ASXH An sinh xã hội
BHXH Bảo hiểm xã hội
BHXH huyện Bảo hiểm xã hội huyện, thị xã, thành phố
BHYT Bảo hiểm y tế
CB,CC,VC Cán bộ, công chức, viên chức
CHLB Cộng hoà Liên Bang
DN Doanh nghiệp

4.10 Tỷ trọng số tiền nợ BHXH bắt buộc theo loại hình DN, tổ chức (2009-2013) 60
4.11 Tỷ lệ DN nợ BHXH bắt buộc ở Bắc Ninh (2009-2013) 61
4.12 Số lượng DN trốn đóng BHXH bắt buộc ở Bắc Ninh (2009-2013) 62
4.13 Số tiền trốn đóng BHXH bắt buộc tại tỉnh Bắc Ninh 63
4.14 Lao động trốn đóng BHXH bắt buộc tại tỉnh Bắc Ninh 64
4.15 Tình hình tuân thủ pháp luật BHXH của các DN 65
4.16 Tình hình tuân thủ pháp luật BHXH của các DN 66
4.17 Tình hình chấp hành luật BHXH tại một số DN năm 2013 66
4.18 Tình hình thanh tra, kiểm tra việc thực hiện Luật BHXH tại 100 DN
điều tra năm 2013 68
4.19 Mức độ hiểu biết của đơn vị SDLĐ về BHXH bắt buộc tại các DN
điều tra năm 2013 69
4.20 Mức thu nhập của NLĐ tại các DN điều tra năm 2013 70
Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Kinh tế
Page vii

4.21 Tổng hợp điều tra số lao động tại các DN điều tra năm 2013 71
4.22 Mức độ tuyên truyền về BHXH tại các DN điều tra năm 2013 71
4.23 Mức độ tiếp cận thông tin về BHXH của Chủ SDLĐ tại các DN điều
tra năm 2013 72
4.24 Tình hình phối hợp giữa BHXH tỉnh BN với các sở, ngành năm 2013 74 Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Kinh tế
Page viii

DANH MỤC SƠ ĐỒ

vị, số người, số tiền tham gia BHXH ngày càng tăng, quyền lợi của người lao động
khi tham gia BHXH bắt buộc được đảm bảo.
Tuy nhiên, quá trình tổ chức thu BHXH bắt buộc ở Bắc Ninh vẫn còn một số
hạn chế đang được quan tâm cần giải quyết như có nhiều đơn vị, doanh nghiệp còn
chưa nghiêm túc trong việc thực hiện pháp luật về BHXH, tình trạng nợ đọng, trốn
đóng BHXH bắt buộc ngày càng phổ biến, gia tăng ở hầu hết các địa phương trong
toàn tỉnh. Dẫn đến hệ quả là số lượng lớn người lao động không được đóng BHXH
bắt buộc hoặc đơn vị sử dụng lao động đóng BHXH bắt buộc không đầy đủ, lợi ích
của người lao động bị xâm phạm, mọi chế độ của người lao động không được giải
quyết. Tình trạng trên đã ảnh hưởng xấu đến chính sách BHXH nói riêng và hệ thống
an sinh xã hội nói chung. Vì vậy, thực hiện tốt công tác quản lý thu, giảm nợ đọng,
Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Kinh tế
Page 2

trốn đóng BHXH bắt buộc có ý nghĩa sâu sắc về lý luận và thực tiễn, góp phần đảm
bảo an sinh xã hội của cả nước nói chung cũng như tại tỉnh Bắc Ninh nói riêng.
Xuất phát từ thực tế trên, chúng tôi tiến hành nghiên cứu đề tài “Giải pháp
hạn chế nợ đọng và trốn đóng bảo hiểm xã hội bắt buộc tại tỉnh Bắc Ninh”.
1.2. Mục tiêu nghiên cứu
1.2.1. Mục tiêu chung
Nghiên cứu, đánh giá thực trạng tình hình nợ đọng và trốn đóng BHXH bắt
buộc trên địa bàn tỉnh Bắc Ninh thời gian qua; đề xuất các giải pháp và kiến nghị
nhằm hạn chế tình trạng nợ đọng và trốn đóng BHXH bắt buộc trong thời gian tới.
1.2.2. Mục tiêu cụ thể
- Góp phần hệ thống hoá cơ sở lý luận về BHXH, quản lý thu BHXH, nợ
đọng và trốn đóng BHXH bắt buộc.
- Phân tích, đánh giá thực trạng nợ đọng và trốn đóng BHXH bắt buộc;
những khó khăn vướng mắc trong quá trình thực hiện thu BHXH bắt buộc trên địa
bàn tỉnh Bắc Ninh trong thời gian qua.
- Đề xuất một số giải pháp và kiến nghị để hạn chế tình trạng nợ đọng và trốn

thuẫn. Sự can thiệp này một mặt làm tăng vai trò của nhà nước, mặt khác buộc các
giới chủ và giới thợ phải đóng một khoản tiền nhất định hàng tháng được tính toán
chặt chẽ dựa trên cơ sở xác suất rủi ro xảy ra đối với người làm thuê. Số tiền đóng
góp của các chủ và thợ hình thành một quỹ tiền tệ tập trung trên phạm vi quốc gia.
Quỹ này còn được bổ sung từ ngân sách nhà nước khi cần thiết nhằm đảm bảo đời
sống cho người lao động khi gặp phải những biến cố bất lợi. Chính những mối quan
hệ ràng buộc đó mà rủi ro, bất lợi của người lao động được dàn trải, cuộc sống của
người lao động và gia đình họ ngày càng được đảm bảo ổn định. Giới chủ cũng thấy
mình có lợi và được bảo vệ, sản xuất kinh doanh diễn ra bình thường, tránh được
những xáo trộn không cần thiết. Vì vậy, nguồn quỹ tiền tệ tập trung được thiết lập
ngày càng lớn và nhanh chóng, khả năng giải quyết các phát sinh lớn của quỹ ngày
càng đảm bảo. Đó chính là nguồn gốc sự ra đời của BHXH.
Ở Việt Nam, BHXH đã bắt đầu có từ thời phong kiến Pháp thuộc. Sau cách
mạng tháng 8/1945 thành công, trên cơ sở Hiến pháp năm 1946 của nước Việt Nam
dân chủ cộng hòa, Chính phủ đã ban hành một loạt các sắc lệnh quy định về các chế
độ trợ cấp ốm đau, tai nạn, hưu trí cho công nhân viên chức Nhà nước. Đến năm
1986, nước ta tiến hành cải cách kinh tế và chuyển đổi nền kinh tế từ cơ chế kế
Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Kinh tế
Page 4

hoạch hóa tập trung sang cơ chế thị trường, sự thay đổi về cơ chế kinh tế đòi hỏi có
những thay đổi tương ứng về chính sách xã hội nói chung và chính sách BHXH nói
riêng. Tại Hiến pháp năm 1992 có nêu: “Nhà nước thực hiện chế độ BHXH đối với
công chức Nhà nước và người làm công ăn lương, khuyến khích phát triển các hình
thức BHXH khác đối với người lao động” [18]. Văn kiện Đại hội VII của Đảng
Cộng sản Việt Nam cũng đã chỉ rõ: “Cần đổi mới chính sách BHXH theo hướng
mọi người lao động và các đơn vị kinh tế thuộc các thành phần kinh tế đều có nghĩa
vụ đóng góp BHXH, thống nhất tách quỹ BHXH ra khỏi ngân sách” [13]. Như vậy,
các văn bản trên của Đảng và Nhà nước là những cơ sở pháp lý quan trọng cho việc
đổi mới chính sách BHXH nước ta theo cơ chế thị trường. Ngay sau khi Bộ Luật lao

đóng, hưởng phù hợp theo các quy định của pháp luật.
2.1.1.2. Bản chất của BHXH bắt buộc
BHXH bắt buộc là phạm trù kinh tế xã hội tổng hợp, là một trong những
chính sách kinh tế xã hội cơ bản nhất của mỗi quốc gia. Nó thể hiện trình độ văn
minh, tiềm lực và sức mạnh kinh tế, khả năng tổ chức và quản lý của mỗi quốc gia.
BHXH bắt buộc có bản chất từ tính người của con người trong xã hội công
xã nguyên thuỷ, những khó khăn, rủi ro, bất trắc của cá nhân hay một nhóm người
nào đó đã được cộng đồng san sẻ và gánh vác. Khi xã hội phát triển, do sự tiến bộ
của khoa học công nghệ, với các cuộc cách mạng công nghiệp và sự khủng hoảng
kinh tế thiên tai, dịch bệnh đã làm cho đời sống của NLĐ bấp bênh, con người đã
tự giác nhận ra cần có các quỹ dự trữ tiền tệ nhằm mục đích chia sẻ khó khăn khi
NLĐ không may gặp rủi ro như mất việc, hết tuổi lao động, ốm đau và tử vong.
Cho đến nay, BHXH bắt buộc trong hệ thống ASXH của các quốc gia trên thế giới
phát triển một cách đa dạng, nhiều loại hình và nhiều chế độ khác nhau.
Ở Việt Nam, BHXH là một trong những công cụ của chính sách xã hội được
Đảng và Nhà nước ta thực hiện nhằm góp phần ổn định và đảm bảo sự công bằng
trong xã hội. Cũng như bản chất chung của BHXH trên thế giới, ở Việt Nam hiện
nay bản chất của BHXH bắt buộc được thể hiện ở những nội dung chủ yếu sau đây:
- Mối quan hệ giữa các bên của BHXH bắt buộc phát sinh trên cơ sở quan hệ
lao động và diễn ra giữa 03 bên: Bên tham gia BHXH bắt buộc, bên BHXH và bên
được BHXH. Bên tham gia BHXH bắt buộc là NLĐ và người SDLĐ. Bên BHXH
thông thường là cơ quan chuyên trách do Nhà nước lập ra và bảo trợ. Bên được
BHXH là NLĐ và gia đình họ khi có đủ các điều kiện ràng buộc cần thiết.
Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Kinh tế
Page 6

- Những biến cố làm giảm hoặc mất khả năng lao động, mất việc làm trong
BHXH bắt buộc có thể là những rủi ro ngẫu nhiên trái với ý muốn chủ quan của
con người như: ốm đau, tai nạn lai động, bệnh nghề nghiệp Hoặc cũng có thể là
những trường hợp xảy ra không hoàn toàn ngẫu nhiên như: Tuổi già, thai sản v.v

BHXH bắt buộc còn thu hút một lực lượng lao động đáng kể và tạo thêm công ăn
việc làm cho họ. Điều này làm giảm bớt tình trạng lao động bị thất nghiệp trong xã
hội. Về phương diện tâm lý, bảo hiểm còn là chỗ dựa tinh thần cho những người
tham gia bảo hiểm, giúp họ yên tâm trong cuộc sống, trong lao động và hoạt động
sản xuất kinh doanh, góp phần đảm bảo an sinh xã hội.
Là thành phần cơ bản và quan trọng nhất trong hệ thống ASXH, BHXH bắt
buộc là cơ sở để phát triển các bộ phận ASXH khác. Chính phủ các nước thường
căn cứ vào mức độ bao phủ của chính sách BHXH để xác định những đối tượng nào
còn gặp khó khăn, cần cộng đồng chia sẻ nhưng chưa được tham gia BHXH để thiết
kế những mạng lưới khác của ASXH như: cứu trợ xã hội, ưu đãi xã hội… Trên cơ
sở đó, BHXH là căn cứ để đánh giá trình độ quản lý rủi ro của từng quốc gia và
mức độ đảm bảo ASXH đạt được ở mỗi nước.
b) Đối với người lao động
BHXH bắt buộc có vai trò ổn định thu nhập, cuộc sống cho NLĐ và gia đình
họ. Khi tham gia BHXH, NLĐ phải trích một khoản kinh phí nộp vào quỹ BHXH
từ tiền lương, tiền công để khi ốm đau, thai sản hoặc tai nạn lao động họ được nhận
một khoản tiền trợ cấp để đảm bảo ổn định thu nhập, ổn định đời sống.
Ngoài việc đảm bảo đời sống kinh tế, BHXH bắt buộc còn là nguồn động
viên tinh thần to lớn đối với mỗi cá nhân khi gặp khó khăn, giảm bớt lo lắng khi ốm
đau, tai nạn, tuổi già, tạo được tâm lý an tâm, tin tưởng. Tham gia BHXH góp phần
nâng cao đời sống tinh thần, đem lại cuộc sống bình yên, hạnh phúc cho nhân dân
lao động.
c) Đối với người sử dụng lao động.
Mặc dù người sử dụng lao động phải đóng góp vào quỹ BHXH một khoản
tiền nhất định, điều đó ít nhiều cũng ảnh hưởng đến thu nhập của người sử dụng lao
động, song về lâu dài, BHXH bắt buộc giúp họ ổn định sản xuất kinh doanh. Nếu
không có BHXH bắt buộc, các đơn vị sử dụng lao động trả tiền bảo hiểm cùng với
tiền lương hàng tháng để người lao động tự lo thì nguồn tiền này có thể bị sử dụng
vào những mục đích khác. Đến khi người lao động ốm đau, tai nạn không có nguồn
Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Kinh tế

chặt chẽ, sử dụng đúng mục đích. Mức đóng góp của các bên phải được tính toán rất
cụ thể dựa trên xác suất phát sinh thiệt hại của NLĐ tham gia BHXH. Quỹ BHXH
Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Kinh tế
Page 9

chủ yếu dùng để trợ cấp cho NLĐ theo các điều kiện của BHXH. Thực chất, phần
đóng góp của mỗi NLĐ là không đáng kể, nhưng quyền lợi nhận được là rất lớn khi
gặp rủi ro. Đối với người SDLĐ, việc tham gia đóng góp vào quỹ BHXH là để bảo
hiểm cho NLĐ. Xét về góc độ kinh tế, họ cũng có lợi vì không phải bỏ ra một
khoản tiền lớn để trang trải cho những NLĐ bị mất hoặc giảm khả năng lao động.
Với Nhà nước, BHXH bắt buộc góp phần làm giảm gánh nặng cho ngân sách đồng
thời quỹ BHXH còn là nguồn đầu tư đáng kể cho nền kinh tế quốc dân.
BHXH bắt buộc là bộ phận chủ yếu của hệ thống ASXH, vì vậy tính xã hội
của nó thể hiện rất rõ. Xét về lâu dài, mọi NLĐ trong xã hội đều có quyền tham gia
BHXH bắt buộc. Và ngược lại, BHXH bắt buộc phải có trách nhiệm bảo hiểm cho
mọi NLĐ và gia đình họ, kể cả khi họ còn đang trong độ tuổi lao động, tính xã hội
của BHXH bắt buộc luôn gắn chặt với tính dịch vụ của nó (Nguyễn Văn Định, năm
2001) [17].
2.1.3. Thu và quản lý thu BHXH bắt buộc
2.1.3.1. Thu BHXH bắt buộc
a) Khái niệm và vai trò của thu BHXH bắt buộc
- Khái niệm thu BHXH bắt buộc:
Thu BHXH bắt buộc là việc Nhà nước dùng quyền lực của mình bắt buộc
các đối tượng tham gia phải đóng BHXH bắt buộc theo mức phí quy định để tập
trung một phần nguồn tài chính quốc gia hình thành nên quỹ BHXH, nhằm đảm bảo
chi trả các chế độ BHXH và hoạt động của tổ chức BHXH.
- Vai trò của thu BHXH bắt buộc:
+ Thu BHXH bắt buộc là nhân tố có tính chất quyết định đến sự tồn tại và
phát triển của quỹ BHXH. Thu BHXH bắt buộc giúp hình thành nên quỹ BHXH,
quy mô của quỹ BHXH phụ thuộc vào kết quả hoạt động thu BHXH. Thu BHXH

Luật BHXH số 71/2006/QH11 ngày 29 tháng 6 năm 2006;
Nghị định số 152/2006/NĐ-CP ngày 22 tháng 12 năm 2006 của Chính phủ
hướng dẫn một số điều của Luật BHXH về BHXH bắt buộc; Nghị định số
68/2007/NĐ-CP ngày 19 tháng 4 năm 2007 quy định chi tiết và hướng dẫn một số
điều của Luật BHXH về BHXH bắt buộc đối với quân nhân, công an nhân dân và
người làm công tác cơ yếu hưởng lương như đối với quân nhân, công an nhân dân;
Nghị quyết số 49/NQ-CP ngày 09/12/2010 của Chính phủ về việc đơn giản
hóa thủ tục thuộc thẩm quyền giải quyết của BHXH Việt Nam;
Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Kinh tế
Page 11

Quyết định số 04/2011/QĐ-TTg ngày 20 tháng 01 năm 2011 của Thủ tướng
Chính phủ về quản lý tài chính đối với BHXH Việt Nam;
Quyết định số 1111/QĐ BHXH ngày 25 tháng 10 năm 2011 về việc ban
hành quy định quản lý thu BHXH, BHYT, quản lý sổ BHXH, thẻ BHYT.
* Đối tượng thu BHXH bắt buộc
Tùy vào điều kiện phát triển kinh tế - xã hội của mỗi nước mà thu BHXH
bắt buộc có thể là tiền lương, tiền công ghi trong hợp đồng lao động hoặc toàn bộ
thu nhập của NLĐ. Tuy nhiên, đối tượng thu BHXH bắt buộc phải mang tính ổn
định để thuận tiện cho công tác quản lý BHXH. Ở những nước có nền kinh tế phát
triển, việc ứng dụng công nghệ thông tin phổ biến trong quản lý thì đối tượng thu
BHXH bắt buộc là mức thu nhập của NLĐ. Theo pháp luật Việt Nam, đối tượng
thu BHXH bắt buộc gồm NLĐ và người SDLĐ, cụ thể:
“Cán bộ, công chức, viên chức theo quy định của pháp luật về cán bộ, công
chức; NLĐ làm việc theo hợp đồng lao động có thời hạn từ đủ 03 tháng trở lên và
hợp đồng lao động không xác định thời hạn theo quy định của pháp luật về lao động
kể cả người lao động, xã viên, cán bộ quản lý làm việc và hưởng tiền công theo
HĐLĐ từ đủ 3 tháng trở lên trong các hợp tác xã, Liên hiệp hợp tác xã thành lập,
hoạt động theo Luật hợp tác xã; Người quản lý doanh nghiệp hưởng tiền lương, tiền
công thuộc các chức danh quy định tại Luật Doanh nghiệp hưởng tiền lương, tiền

được xác định theo tỷ lệ phần trăm trên tiền lương.
* Điều kiện phát triển kinh tế - xã hội
Mức đóng góp BHXH của từng nước phụ thuộc nhiều vào sự phát triển của
xã hội và khả năng kinh tế. Các nước phát triển thường có tỷ lệ đóng góp BHXH bắt
buộc khá cao, tổng số có khi lên tới 40-50% tổng quỹ lương. Các nước đang phát
triển có tổng mức đóng góp 15-25%. Có một số nước mức đóng rất thấp, tổng số
khoảng 6-10% tổng quỹ lương. Nhà nước chỉ giảm thuế đối với các khoản đóng
BHXH hoặc hỗ trợ nhỏ về tiền lương đối với những lao động khó khăn. Các điều
kiện về kinh tế - xã hội như: Cơ sở vật chất cho công tác quản lý, thị trường lao
động việc làm, tình hình dân số, tăng trưởng kinh tế là những yếu tố quan trọng làm
cơ sở thu BHXH bắt buộc.
c) Mục đích thu
- Tạo lập quỹ BHXH được hình thành trên cơ sở đóng góp của người SDLĐ,
NLĐ và Nhà nước, tách quỹ độc lập với ngân sách Nhà nước và thực hiện nguyên
Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Kinh tế
Page 13

tắc hạch toán cân đối thu - chi và được Nhà nước bảo hộ. Quỹ BHXH được quản lý
và sử dụng theo chế độ tài chính của Nhà nước, bảo đảm chi ổn định, lâu dài các
chế độ BHXH, giảm dần sự cấp phát từ ngân sách Nhà nước.
- Đảm bảo cho yếu tố "đầu vào" (tiền nộp BHXH bắt buộc) đủ khả năng thực
hiện quá trình tái sản xuất xã hội, tức là có thu đúng, thu đủ, thu kịp thời mới đảm
bảo chi trả chế độ cho người lao động.
- Xác lập lập rõ ràng quyền và trách nhiệm của các bên tham gia BHXH bắt
buộc, đó là: NLĐ, người SDLĐ và cơ quan BHXH.
- Thực hiện nguyên tắc “có đóng, có hưởng”, đảm bảo sự công bằng giữa
cống hiến và hưởng thụ. Góp phần khắc phục các tiêu cực trong giải quyết chế độ
chính sách BHXH.
d) Phương thức thu: Có thể phân loại ra 03 phương thức:
- Thu trực tiếp từ NLĐ: Được áp dụng ở những nước sử dụng hệ thống tài

định số 1111/QĐ-BHXH ngày 25/10/2011) [25].
e) Các chủ thể liên quan đến thu BHXH bắt buộc
- Người lao động khi tham gia BHXH bắt buộc có quyền và trách nhiệm sau:
Được cấp sổ BHXH, nhận sổ BHXH khi không còn làm việc, nhận lương
hưu và trợ cấp BHXH, hưởng thẻ bảo hiểm y tế (BHYT) khi ốm đau, nằm viện,
phẫu thuật; ủy quyền cho người khác nhận lương hưu, trợ cấp, khiếu nại tố cáo về
BHXH và các quyền lợi khác theo quy định của pháp luật. Có trách nhiệm kê khai
trung thực, đúng sự thật thông tin theo mẫu của cơ quan BHXH và chịu hoàn toàn
trách nhiệm về sự kê khai này.
- Người SDLĐ có quyền và trách nhiệm:
Từ chối thực hiện những yêu cầu không đúng quy định của pháp luật về
BHXH; khiếu nại, tố cáo về BHXH. Có trách nhiệm: Đóng BHXH cho NLĐ hàng
tháng; lập hồ sơ để NLĐ được cấp sổ, thẻ BHYT, đóng và hưởng BHXH; bảo quản
sổ BHXH, cấp thẻ BHYT cho NLĐ trong thời gian NLĐ làm việc và trả sổ, thu hồi
thẻ BHYT của người lao động khi NLĐ không làm việc; hàng tháng đối chiếu quỹ
lương với cơ quan BHXH để làm căn cứ trích nộp BHXH.
- Cơ quan BHXH có quyền tổ chức quản lý nhân sự, tài chính và tài sản như
mọi cơ quan Nhà nước. Khiếu nại và kiến nghị với Nhà nước các vấn đề về BHXH;
kiểm tra việc đóng BHXH và chi trả các chế độ BHXH; kiến nghị với cơ quan Nhà
nước có thẩm quyền xử lý vi phạm pháp luật về BHXH cũng như về chế độ, chính
sách BHXH. Có trách nhiệm: Tuyên truyền, phổ biến chế độ, chính sách pháp luật
Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Kinh tế
Page 15

của Nhà nước về BHXH; hướng dẫn thủ tục thực hiện chế độ BHXH đối với người
lao động, người sử dụng lao động thuộc đối tượng tham gia BHXH; thực hiện thu
BHXH, quản lý và sử dụng quỹ BHXH; tiếp nhận hồ sơ và giải quyết chế độ
BHXH; trả lương hưu và trợ cấp BHXH cho các đối tượng được hưởng…
- Cơ quan quản lý khác: Chính phủ thống nhất quản lý Nhà nước về BHXH;
Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội chịu trách nhiệm trước Chính phủ thực hiện


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status