Luận văn thạc sĩ Tư tưởng nho giáo về đạo đức người quân tử với việc giáo dục đạo đức cho thanh niên Việt Nam hiện nay (full) - Pdf 28

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
ĐẠI HỌC ĐÀ NẴNG
NGUYỄN THỊ MAI VÂN TƢ TƢỞNG NHO GIÁO VỀ ĐẠO ĐỨC NGƢỜI
QUÂN TỬ VỚI VIỆC GIÁO DỤC ĐẠO ĐỨC CHO
THANH NIÊN VIỆT NAM HIỆN NAY

LUẬN VĂN THẠC SĨ
KHOA HỌC XÃ HỘI & NHÂN VĂN Đà Nẵng, 2015

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
ĐẠI HỌC ĐÀ NẴNG NGUYỄN THỊ MAI VÂN

Nguyễn Thị Mai Vân MỤC LỤC

MỞ ĐẦU 1
1. Tính cấp thiết của đề tài 1
2. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu 2
3. Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu 3
4. Cơ sở lý luận và phƣơng pháp nghiên cứu 3
5. Bố cục của đề tài 3
6. Tổng quan tình hình nghiên cứu 4
CHƢƠNG 1. TƢ TƢỞNG CỦA NHO GIÁO VỀ ĐẠO ĐỨC NGƢỜI
QUÂN TỬ 7
1.1. QUÁ TRÌNH HÌNH THÀNH NÊN ĐẠO ĐỨC NGƢỜI QUÂN TỬ 7
1.2. NHỮNG NỘI DUNG CƠ BẢN VỀ ĐẠO ĐỨC CỦA NGƢỜI QUÂN
TỬ 14
1.2.1. Khái niệm về quân tử và đạo quân tử 14
1.2.2. Đạo đức ngƣời quân tử 16
Tiểu kết chƣơng 1 28
CHƢƠNG 2. THỰC TRẠNG ĐẠO ĐỨC THANH NIÊN VIỆT NAM
HIỆN NAY 30
2.1. KHÁI NIỆM THANH NIÊN VÀ NHỮNG CHUẨN MỰC ĐẠO ĐỨC
MỚI CỦA THANH NIÊN VIỆT NAM HIỆN NAY 30
2.1.1. Khái niệm thanh niên 30
2.1.2. Những chuẩn mực đạo đức mới của thanh niên Việt Nam hiện
nay 32
2.2. THỰC TRẠNG ĐẠO ĐỨC CỦA THANH NIÊN VIỆT NAM HIỆN
NAY 38

QUYẾT ĐỊNH GIAO ĐỀ TÀI LUẬN VĂN
PHỤ LỤC

1

MỞ ĐẦU

1. Tính cấp thiết của đề tài
Để phát triển bền vững, ngoài yếu tố kinh tế, chúng ta không đƣợc quên
yếu tố văn hóa. Trong đó xây dựng một nền đạo đức mới luôn đƣợc coi là nền
tảng quan trọng cho sự phát triển đó. Xuyên suốt lịch sử phát triển của dân tộc
Việt Nam, dù trong thời gian nào, hoàn cảnh nào thì vấn đề đạo đức luôn là
vấn đề cốt lõi, trọng tâm, là cơ sở để xây dựng và phát triển con ngƣời. Việc
kế thừa và tiếp thu chọn lọc những tinh hoa trong nền văn minh nhân loại, làm
giàu thêm cho đời sống văn hóa và đạo đức dân tộc là hết sức cần thiết, đặc
biệt trong bối cảnh toàn cầu hóa hiện nay.
Trung Hoa là một trong những cái nôi của văn minh nhân loại. Nơi đã
sản sinh ra nhiều học thuyết triết học lớn có ảnh hƣởng đến nền văn minh
Châu Á cũng nhƣ toàn thế giới, kể cả Việt Nam. Một trong số đó phải kể đến
trƣờng phái triết học Nho gia. Trong suốt hơn hai ngàn năm lịch sử tồn tại và
phát triển, Nho giáo đã để lại nhiều giá trị tốt đẹp cả về phƣơng diện chính trị
- xã hội lẫn xây dựng đạo đức con ngƣời. Hồ Chí Minh từng chỉ rõ, ƣu điểm
của Nho giáo là góp phần tu dƣỡng đạo đức cá nhân. Đã biết bao thế hệ với
bao con ngƣời đã học tập và vận dụng giá trị tốt đẹp trong học thuyết của Nho
giáo nhƣ “chính danh”, “nhân”, “lễ”, “nghĩa”, “trí”, “tín” vào việc tu dƣỡng
bản thân cũng nhƣ xây dựng những phƣơng châm sống cho mình. Đặc biệt,
hình mẫu ngƣời “quân tử”, mẫu ngƣời lý tƣởng mà Nho giáo xây dựng nên đã
từng là chuẩn mực cho con ngƣời trong xã hội cũ phấn đấu noi theo trong
bƣớc đƣờng sự nghiệp công danh, cũng nhƣ “tu thân” hoàn thiện bản thân
mình. “Chính tâm- tu thân- tề gia- trị quốc- bình thiên hạ” vẫn là những phẩm

trò của việc giáo dục đạo đức trong quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa
3

đất nƣớc.
- Vận dụng những ƣu điểm của Nho giáo về đạo đức ngƣời quân tử vào
việc giáo dục đạo đức cho thanh niên và đề ra một số giải pháp giáo dục đạo
đức cho thanh niên Việt Nam hiện nay.
3. Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu của đề tài là những giá trị tích cực trong tƣ tƣởng
Nho giáo về đạo đức ngƣời quân tử và tình hình đạo đức thanh niên Việt Nam
hiện nay, hƣớng tới các giải pháp nhằm giáo dục đạo đức cho thanh niên Việt
Nam hiện nay.
Phạm vi nghiên cứu là một số nội dung về đạo đức ngƣời quân tử trong
tƣ tƣởng Nho giáo ở Trung Quốc; tình hình đạo đức thanh niên Việt Nam
trong quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nƣớc; thực tiễn công tác
giáo dục đạo đức ở gia đình, nhà trƣờng, xã hội cho thanh niên Việt Nam hiện
nay.
4. Cơ sở lý luận và phƣơng pháp nghiên cứu
Cơ sở lý luận: đề tài dựa trên cơ sở lý luận của chủ nghĩa duy vật biện
chứng - chủ nghĩa duy vật lịch sử, tƣ tƣởng Hồ Chí Minh và đƣờng lối của
Đảng ta về vấn đề đạo đức. Ngoài ra, còn có các quan điểm của Đảng Cộng
sản Việt Nam về xây dựng con ngƣời Việt Nam xã hội chủ nghĩa và các nghị
quyết về thanh niên.
Phương pháp nghiên cứu: luận văn sử dụng nhiều phƣơng pháp nghiên
cứu nhƣ logic - lịch sử, phân tích - tổng hợp, quy nạp - diễn dịch, đối chiếu,
so sánh.
5. Bố cục của đề tài
Ngoài phần mở đầu, phần kết luận và danh mục tài liệu tham khảo, luận
văn gồm 3 chƣơng 9 tiết.



Nam thì đó là ngƣời có tài, có đức. Kẻ sĩ cần phải có những phẩm chất và bổn
phận đó là ngƣời tài, là nguyên khí của quốc gia. Chức phận của kẻ đại trƣợng
phu trong vũ trụ là trên thì vì đức lớn, dƣới thì vì lợi ích của ngƣời dân, phải
theo đạo vua tôi, dùng tài kinh luân của mình để gánh vác trọng trách trị quốc
an dân.
- Nhóm thứ hai: Vấn đề đạo đức của thanh niên đƣợc đề cập trong Xây
dựng đạo đức mới trong nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa
của Trịnh Duy Huy, Nhà xuất bản Chính trị quốc gia, (2009); Ý thức đạo đức
trong điều kiện kinh tế thị trường ở Việt Nam hiện nay của Lê Thị Tuyết Ba,
Nhà xuất bản Khoa học xã hội, (2010), Đề tài Đạo đức của sinh viên trong
điều kiện kinh tế thị trường hiện nay ở Việt Nam – thực trạng và giải pháp
của Vũ Thanh Hƣơng (Luận văn thạc sĩ triết học, Học viện Chính trị quốc gia
Hồ Chí Minh, Hà Nội, 2004) , Báo cáo tổng hợp đề tài khoa học cấp nhà nƣớc
thực trạng và xu hướng biến đổi lối sống của thanh niên Việt Nam trong quá
trình đổi mới và hội nhập quốc tế của Phạm Hồng Tung Mã số:KX.03.16/06-
10, Hà Nội, (2010), Đề tài khoa học cấp bộ Sự lựa chọn các giá trị đạo đức và
nhân văn trong định hướng lối sống của sinh viên, của Huỳnh Văn Sơn
(2009),…Các tác giả đã phân tích các yếu tố trong mối quan hệ đạo đức, thực
trạng đạo đức của thanh niên và nêu ra một số cách giải quyết. Cuộc Điều tra
quốc gia về Vị thành niên và Thanh niên Việt Nam lần thứ 2 (SAVY 2) vừa
đƣợc Tổng cục Dân số - Kế hoạch hóa Gia đình thực hiện với hơn 10.000
mẫu khảo sát ở 63 tỉnh thành, tiến hành từ năm 2008, và công bố vào tháng
6/2010, đã cung cấp những số liệu về gia đình, điều kiện sống, giáo dục, việc
làm, sức khỏe, giải trí, thói quen, hành vi, hoài bão… của vị thành niên và
thanh niên Việt Nam ngày nay.
Với tinh thần cầu thị, tiếp bƣớc các công trình nghiên cứu trƣớc về Nho
giáo, luận văn tiếp tục đi sâu vào nghiên cứu những phạm trù cơ bản của Nho
6


cạnh những phát minh, phát triển về khoa học, văn minh Trung Hoa còn là
nơi sản sinh ra nhiều học thuyết triết học lớn có ảnh hƣởng đến nền văn minh
Châu Á cũng nhƣ nền văn minh trên toàn thế giới. Trong số các học thuyết
triết học lớn đó, phải kể đến trƣờng phái triết học Nho gia.
Nho gia, Nho giáo là những thuật ngữ bắt nguồn từ chữ “Nho”. Theo
Hán tự “Nho”là chữ “Nhân” (ngƣời) đứng cạnh chữ “Nhu” (cần, chờ đợi).
Nho gia còn gọi là nhà nho, ngƣời đã học thấu sách thánh hiền đƣợc thiên hạ
cần để dạy bảo ngƣời đời ăn ở cho hợp luân thƣờng đạo lý. Trƣớc thời Xuân
thu, nhà nho đƣợc gọi là “Sỹ” chuyên học văn chƣơng và lục nghệ góp phần
trị vì đất nƣớc. Đến đời mình, Khổng Tử đã hệ thống hóa những tƣ tƣởng và
tri thức trƣớc đây trở thành học thuyết, gọi là Nho gia hay Nho học. Ngƣời ta
cũng gắn học thuyết này với tên tuổi ngƣời đã sáng lập nên nó, gọi là Khổng
học. Khổng Tử tên là Khâu, tự là Trọng Ni, ngƣời làng Xƣơng Bình, huyện
Khúc Phụ, nay thuộc Phủ Duyện Châu, Tỉnh Sơn Đông, Trung Quốc. Ông
sinh vào năm 551 TCN. Đó là lúc xã hội Trung Hoa cổ đại loạn lạc triền
miên, các vua chúa chỉ lo hƣởng thụ và chém giết lẫn nhau để xƣng hùng,
xƣng bá. Đạo lý nhân luân xáo trộn, vinh nhục không rõ ràng, thiện ác khó
phân biệt. Học thuyết của Khổng Tử lập thành hệ thống lấy nhân, nghĩa, lễ, trí
mà dạy ngƣời. Lấy đạo cƣơng thƣờng mà hạn chế nhân dục để giữ trật tự ở
8

trong xã hội cho bền vững. Trong thập niên 70 của thế kỷ 20, một học giả
ngƣời Mỹ đã xếp Khổng Tử ở ngôi vị thứ 5, chỉ sau chúa Zê - xu, Thích - ca -
mầu – ni trong 100 nhân vật có ảnh hƣởng trong lịch sử. Khổng Tử là ngƣời
sáng lập ra học thuyết Nho giáo ở Trung Quốc. Hơn 2000 năm qua, tƣ tƣởng
Nho giáo ảnh hƣởng đến với Trung Quốc không chỉ là chính trị, văn hóa mà
còn trong sinh hoạt, ứng xử của con ngƣời.
Khổng Tử sống trong thời Xuân thu. Thời kỳ này, thể chế thống nhất của
quốc gia bị phá vỡ, sản sinh ra nhiều chƣ hầu lớn nhỏ. Học thuyết của Khổng
Tử mới xuất hiện không trở thành tƣ tƣởng chủ yếu ngay lập tức mà mãi đến

năm. Nho giáo thời kỳ này còn đƣợc gọi là Hán Nho. Nhân vật nổi trội đó là
Đổng Trọng Thƣ (179-104 TCN), ngƣời đƣợc coi là tập đại thành của Nho
giáo. Ông đã bổ sung vào học thuyết Khổng - Mạnh phần nói về trời đất, quỷ
thần, âm dƣơng, ngũ hành mà Khổng Tử, Mạnh Tử cố né tránh hoặc nói sơ
qua. Đồng thời hệ thống hóa học thuyết này một cách tƣơng đối hoàn chỉnh,
vừa làm cho quân quyền và thần quyền quyện chặt vào nhau, mang tính thần
học duy tâm với các luận đề “trời ngƣời hợp nhất”, “trời ngƣời cảm ứng”,
“trời không biến đổi đạo cũng không biến đổi” nhằm đề cao quyền lực của
giai cấp thống trị, thiên tử là con trời, dùng “lễ trị” để che đậy “pháp trị”.
Đến đời nhà Tống, các vua rất sùng bái Nho học, Nho giáo thời kỳ này
đƣợc gọi là Tống Nho, với các tên tuổi Thiệu Ung, Chu Đôn Di, Trƣơng Tái
với học thuyết lý học. Rồi hai anh em họ Trình là Trình Hạo và Trình Di. Nho
học thời Nguyên không đƣợc thịnh hành nhƣ thời Tống nhƣng vẫn có nhiều
danh nho nhƣ Triệu Phục, Hứa Hành và Hứa Khiêm. Nho giáo đời nhà
Nguyên tuy so với đời trƣớc thì không bằng, nhƣng cũng rất thịnh đạt. Những
học giả nhƣ Triệu Phục, Hứa Hành và Hứa Khiêm đều là ngƣời có đức hạnh,
rất xứng đáng là danh nho một thời. Tuy nhiên, Nho học trong thời Nguyên
10

chỉ bó hẹp trong phạm vi Trình Chu mà thôi, bởi ai cũng cho rằng Nho học
đến đó là cùng cực rồi. Bởi vậy, Nho học thời Nguyên chỉ nhằm giữ lấy cái
danh tiết cho trong sạch chứ không ai phát triển thêm đƣợc điều gì cao minh
hơn nữa. Đến thời nhà Minh, sau khi Chu Nguyên Chƣơng lấy đƣợc đất Kim
Lăng, đón mời các nho sĩ, mở nhà quốc tử học và làm miếu thờ Khổng Tử thì
nền Nho học có nhiều bƣớc phát triển. Xét ra, Nho học đời Minh không ra
ngoài phạm vi Tống học dù có phái Diêu Giang chuyên về mặt tâm học hay
phái Hà Đông tôn sùng cái học của Trình Chu. “Cái học ấy từng chia ra chi
nọ, phái kia nhƣng kết cục vẫn theo cái tôn chỉ thiên địa vạn vật nhất thể, và
về đƣờng thiết thực vẫn cố giữ cái khí tiết của học giả” [26; 669]. Triều đại
nhà Thanh gắn với sự tiếp xúc văn hóa phƣơng Tây đã đặt ra những vấn đề

Trong nƣớc không ai oán mình, trong nhà một đại phu không ai oán mình.
Ông từng nói “Tài trí đủ để trị dân (có ngƣời hiểu là đủ để biết mọi lẽ) mà
không biết dùng đức nhân để giữ dân, thì sẽ mất dân” [30;266].
Sau “nhân” Khổng tử quan tâm nhiều đến “lễ” bởi lễ cần thiết để duy trì
trật tự xã hội và có trật tự xã hội thì vua mới đƣợc tôn, nƣớc mới đƣợc trị. Mặt
khác, lễ có nội dung luân lý của nó, trong mối quan hệ chặt chẽ không tách rời
với nhân. Khổng Tử xem điều lễ là hình thức của nhân, là chính đạo mà mọi
ngƣời nên thi hành, còn nếu con ngƣời chạy theo dục vọng của mình mà trái
ngƣợc với chính đạo tức là trái ngƣợc với điều nhân. Vì vậy, ngƣời cầm
quyền phải giữ lễ: “Vua khiến bề tôi phải giữ lễ, bề tôi thờ vua phải trung (hết
lòng)” [30;65]. Đáng chú ý là trong quan niệm của Khổng Tử lễ chỉ quan
trọng khi gắn bó với điều nhân, là biểu hiện của nhân. Nếu tách rời nhân thì lễ
chỉ là vô nghĩa. “Ngƣời không có đức nhân thì lễ mà làm gì?” [30;56]. Thật
vậy không có lòng nhân thì lễ mà làm gì? Nhà cầm quyền không có đức nhân
thì lễ chỉ càng làm thủ cựu, càng làm nghiệt ngã và tàn khốc. Khổng Tử đề
12

xƣớng “lễ trị” nhằm ổn định xã hội, thực hiện đúng lễ vừa là biểu hiện của
nhân đồng thời cũng thể hiện con ngƣời làm đúng bổn phận, thân phận của
mình, tức Chính danh. Trong công việc chính trị theo Khổng Tử “chính danh”
phải đặt lên trƣớc nhất, bởi:
“Nếu danh không chính thì lời nói không thuận, lời nói không thuận thì
sự việc chẳng thành, sự việc không thành thì lễ nhạc chế độ không kiến lập
đƣợc, lễ nhạc chế độ không kiến lập đƣợc thì hình phạt không trúng, hình phạt
không trúng thì dân không biết đặt tay chân vào đâu (không biết làm thế nào
cho phải” [30;213].
Để thực thi đƣờng lối đức trị đƣơng nhiên cần phải có mẫu ngƣời cầm
quyền thích hợp, đó là mẫu ngƣời quân tử. Mẫu ngƣời quân tử với những tiêu
chuẩn về tài đức xứng đáng nhất nắm quyền trị dân. Đức của ngƣời quân tử là
lấy nghĩa làm gốc thọ lễ mà làm, nói năng khiêm tốn, nhờ thành tín mà nên

nhất, thứ đến mới là quốc gia (xã tắc) vua là thứ bậc xem nhẹ nhất. Với các
nhà cầm quyền, theo Mạnh Tử chỉ có một phƣơng pháp nên theo: “Dân muốn
việc chi, nhà cầm quyền nên cung cấp cho họ. Dân ghét việc chi nhà cầm
quyền đừng thi thố cho họ”[70;19]. Phân chia ruộng đất hợp lý và khuyến
khích làm giàu cho dân. Nếu Khổng Tử coi trọng việc dƣỡng dân hơn cả việc
bảo vệ xã tắc thì Mạnh Tử quan tâm nhiều hơn đến các biện pháp kinh tế cụ
thể nhằm tạo ra cho dân số một sản nghiệp no đủ. “Thánh nhân cai trị thiên
hạ, phải làm cho dân có đậu thóc nhiều nhƣ nƣớc lửa, khi đậu thóc nhiều nhƣ
nƣớc lửa thì dân chẳng còn ai bất nghĩa nữa” [13;246]
Mạnh tử còn chủ trƣơng giảm nhẹ hình phạt và tăng cƣờng giáo hóa dân.
Ông nói: Vua cần phải thi hành phép cai trị nhân - đức đối với dân: “Giảm
hình phạt, bớt thuế - liễm, khiến dân siêng lo việc cày sâu cuốc bẫm, làm
vƣờn làm tƣợc”[70;170]. Theo Mạnh Tử cần phải nhẹ hình phạt bởi nếu “dân
14

khờ khạo mà phạm luật nƣớc, đó không phải là tội của họ, mà chính là tội của
nhà cầm quyền chẳng biết giữ gìn, giáo hoá họ” [70;179]. Mạnh Tử cũng xem
trọng giáo hoá nhƣ Khổng Tử, nhƣng cái mới ở ông là rất quan tâm đến việc
quảng bá giáo dục, thông qua việc xây dựng hệ thống trƣờng học rộng khắp.
Ông chủ trƣơng hình thành một mạng lƣới trƣờng học đa dạng từ làng xã đến
kinh đô, từ trƣờng hƣơng học đến trƣờng quốc học. Nhƣ vậy, so với Khổng
Tử chủ trƣơng giáo hoá của Mạnh Tử có tính quảng bá và phổ cập hơn. Ngoài
việc chú ý đề cao giáo dục đạo đức nhân luân nhƣ Khổng Tử, Mạnh Tử còn
thấy đƣợc trách nhiệm của ngƣời trị dân là phải dạy dân cấy gặt, chăn nuôi,
trồng dâu nuôi tằm, dệt vải nhằm tạo ra nhiều của cải vật chất hơn. Ông chỉ
rõ: “Vua Thuấn đã cho ông hậu tắc việc dạy dân cấy gặt và gieo trồng năm
giống lúa chín, nhân dân nhờ đó mà sống” [70;169]. Có thể thấy rõ quan điểm
giáo dục và giáo hóa dân của Mạnh Tử thể hiện một bƣớc tiến mới so với
Khổng Tử trƣớc đó và là một nội dung quan trọng hợp thành đƣờng lối chính
trị nhân nghĩa mà Mạnh Tử đã suốt đời cổ vũ. Nhƣ vậy, đƣờng lối đức trị của

quốc giả, tiên tề kỳ gia. Dục tề kỳ gia giả, tiên tu kỳ thân. Dục tu kỳ thân giả,
tiên chính kỳ tâm. Dục chính kỳ tâm giả, tiên thành kỳ ý. Dục thành kỳ ý giả,
tiên trí kỳ tri. Trí tri tại cách vật”[69;8].
Có nghĩa là: ngƣời xƣa muốn làm sáng tỏ đức sáng trong thiên hạ thì
trƣớc phải trị quốc, muốn trị quốc thì trƣớc phải tề gia, muốn tề gia thì trƣớc
phải tu thân, muốn tu thân thì trƣớc phải chính tâm, muốn chính tâm thì trƣớc
phỉ thành ý, muốn thành ý thì trƣớc phải trí tri, trí tri là ở cách vật.
Nói xuôi quá trình trên là: cách vật, trí tri, thành ý, chính tâm, tu thân, tề
gia, trị quốc, minh minh đức. Có nghĩa là: muốn cho sự hiểu biết của ta thấu
đáo thì phải nghiên cứu sự vật (trí tri tại cách vật). Khi đã nghiên cứu sự vật,
cái trí đƣợc thấu đáo, cái ý mình mới thành thật. Cái ý mình đã thành thật,
16

lòng dạ mình mới ngay thẳng. Lòng dạ mình đã ngay thẳng mới tu tập lấy
mình đƣợc. Đã tu tập lấy mình đƣợc thì mới sắp đặt nhà cửa cho tỉnh tề. Nhà
cửa đã sắp đặt cho tỉnh tề thì nƣớc mới trị đƣợc, thiên hạ mới bình an. Sách
đại học đã chỉ ra rằng cách vật, trí tri, thành ý, chính tâm là các điều kiện và tề
gia, trị quốc, minh minh đức là các mục đích ngày càng cao hơn của tu thân.
Tu thân là điều kiện tất yếu mà quân tử nhất thiết phải thực hiện để làm tỏa
đức sáng trong khắp gia đình và đất nƣớc. Nhƣ vậy, cái con đƣờng tổng quát
để thực hiện đạo của ngƣời quân tử bắt đầu từ tu thân và cái đích đến là để
giúp ích cho đất nƣớc, cho xã hội.
1.2.2. Đạo đức ngƣời quân tử
Nho giáo đã xây dựng nên hình mẫu ngƣời quân tử lý tƣởng với rất
nhiều giá trị tốt đẹp. Các phẩm chất đạo đức, trí tuệ cùng với cách ứng xử của
quân tử là biểu hiện tập trung, tinh lọc của các quan điểm triết lí, chính trị đạo
đức và xã hội của Khổng giáo. Quân tử, không chỉ thuần túy chỉ địa vị xã hội
mà chủ yếu chỉ phẩm chất đạo đức mà ngƣời đó đã đạt đƣợc. Ông dạy rằng:
“ngƣời ta gọi một con ngựa nào đó là ngựa ký (loại ngựa tốt đã đƣợc thuần
hóa), đâu phải vì sức mà vì đức của nó”[69;231]. “ngay nhƣ ở đời vua Cảnh

đối đãi xử sự với ngƣời, ngƣời quân tử với tấm lòng nhân ái, thể hiện rõ rệt
đức tính nội tại của mình, theo yêu cầu ứng xử thích hợp với sự vật, dám kiên
trì quan điểm đúng đắn của mình, đề ra ý kiến bất đồng, xúc tiến sự phát triển
hài hòa của sự vật. Liên quan với điều đó, trong quan hệ xử lý giữa ngƣời với
ngƣời, quân tử chú trọng đến sự hợp lý, nhấn mạnh đến đoàn kết, hiệp tác của
chỉnh thể mà không kéo bè kéo cánh tƣ lợi. Tiểu nhân chỉ biết nhắm mắt mà
làm bừa theo ý cấp trên, mà không thể từ thực tế xuất phát, đề ra ý kiến bất
đồng mà chính xác. Họ không chú trọng đến đoàn kết, hiệp tác của chỉnh thể,
họ chỉ thích kéo bè kéo cánh vì tƣ lợi mà thôi.
18

(4) Quân tử thì nói đến khuôn phép, tiểu nhân thì tự ý làm bừa: quân tử
bởi có tự giác và nhân ái nên có sự tuân thủ, lời nói và việc làm đều có quy củ
nhất định. Nhƣ vậy quân tử lúc nào cũng nghĩ đến tiết tháo, họ không bởi một
lúc yếu mềm mà tƣ lợi làm bừa, trái lại tiểu nhân lúc mà họ khốn cùng thì họ
tự ý làm bừa.
(5) Quân tử thì thanh thản thư thái, tiểu nhân thì kiêu ngạo mà lo âu :
biểu hiện ra ở thái độ sống, quân tử do có nhân đức, có hiểu biết dẫu nghèo
mà vui với đạo, bởi thế trong lúc nguy khốn cũng vẫn bình thản, thƣ thái, có ở
địa vị cao cũng không kiêu ngạo, khinh rẻ ngƣời khác. Tiểu nhân thì chăm
chăm ở sự cầu lợi, bởi thế không đƣợc yên ổn, phải luôn luôn lo nghĩ. Một khi
ngồi ở địa vị cao, lại lo đƣợc lo mất, chỉ thích tận hƣởng xa hoa, với ngƣời thì
ngạo mạn, khinh rẻ ngƣời khác.
(6) Người quân tử làm thì dễ mà nói ra thì khó, kẻ tiểu nhân nói giỏi mà
làm chẳng được việc gì: ngƣời quân tử làm công việc của mình thƣờng rất dễ
dàng, song để họ vừa ý thật thì khó, bởi ngƣời quân tử biết sử dụng ngƣời,
thƣờng là căn cứ vào tài năng của ngƣời ta mà phân phối công việc, bởi thế
mà những ngƣời dƣới quyền đều làm xong công việc một cách vui vẻ còn đối
với kẻ tiểu nhân thì chỉ muốn làm cho xong công việc là đƣợc ví nhƣ lấy
phƣơng thức không chính đáng để làm vừa lòng ngƣời ta thì hắn cũng tỏ ra

nhân tính trời phú làm loạn (những ngƣời này Khổng Tử gọi là hạng tiểu
nhân), nói cách khác ngăn chặng sự vi phạm ý trời của họ thì ngƣời đó là bậc
quân tử. Có thể nói rằng ngƣời quân tử đƣợc Khổng Tử nói đến là cách gọi
chung cho những ngƣời làm điều “nhân”, ở đó còn có thể chia thành tầng thứ
cao thấp nữa. Trên một ý nghĩa nhất định kẻ sĩ mà Khổng Tử nói đến cũng
tƣơng tự nhƣ khái niệm quân tử. Sĩ là một tiêu chí về đẳng cấp thân phận; ở
thời đại Xuân Thu của Khổng Tử đã thấy nói đến Sĩ, Nông, Công, Thƣơng,
20

tức là xem sĩ là đứng đầu trong bốn hạng ngƣời. Theo Khổng Tử, thân phận
của kẻ sĩ ở mức độ nhất định cũng liên quan tới tu dƣỡng đạo đức. Vì thế kẻ sĩ
có thể đƣợc xem là phần tử trí thức có chí lớn hành đạo. Nhƣ kẻ sĩ hay ngƣời
quân tử là những ngƣời có đức hạnh cao quý, có nhân cách ngời sáng. Vậy
theo quan điểm của Nho giáo, đạo đức ngƣời quân tử bao gồm những phẩm
chất và yêu cầu gì? Theo Khổng Tử thì ngƣời quân tử cũng là một ngƣời nhƣ
dân thƣờng nên cũng phải có đủ những đức làm ngƣời: nhân, lễ, nghĩa, trí, tín.
Ngoài ra ngƣời quân tử còn phải có những yêu cầu nhƣ: Đề cao và coi trọng
nghĩa, xem thƣờng lợi. Phải có tam úy tức 3 điều sợ: sợ mệnh trời, sợ đại
nhân, sợ lời nói của thánh hiền. Phải biết mệnh trời. Phải có tam đức: Nhân,
trí, dũng. Phải hòa nhi bất đồng (hòa hợp với mọi ngƣời nhƣng không theo
đuôi họ)
Nho giáo luôn khẳng định, đã là ngƣời quân tử thì đức nhân phải là yếu
tố hàng đầu. Nhân theo nghĩa hẹp là một phẩm chất đạo đức cơ bản, là chuẩn
mực đạo đức để con ngƣời tự tu dƣỡng và hoàn thiện nhân cách của mình.
Theo nghĩa rộng, thì những đức cần có khác của con ngƣời nhƣ nghĩa - lễ - trí
- tín - hiếu - trung đều là biểu hiện cụ thể của đức nhân. Nhân là đạo làm
ngƣời, là cách cƣ xử của mình với ngƣời, là yêu ngƣời, bác ái. Theo Khổng
Tử nhân không chỉ là riêng một đức tính nào mà chỉ chung mọi đức tính.
Ngƣời có nhân đồng nghĩa với ngƣời hoàn thiện nhất, nên nhân là nghĩa của
đạo làm ngƣời.


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status