Nhân vật và cốt truyện trong truyện ngắn Kim Lân ( Luận văn ThS. Văn học ) - Pdf 28


ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƢỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
 NGÔ THỊ THU TRANG NHÂN VẬT VÀ CỐT TRUYỆN
TRONG TRUYỆN NGẮN KIM LÂN

Chuyên ngành: Lý luận văn học
Mã số : 60 22 01 20
LUẬN VĂN THẠC SĨ VĂN HỌC

Ngƣời hƣớng dẫn: PGS.TS Đoàn Đức Phƣơng

Hà Nội – 2014

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƢỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
 NGÔ THỊ THU TRANG

LỜI CẢM ƠN

Trước hết, tôi xin dành lời cảm ơn chân thành và sâu sắc tới thầy giáo
PGS.TS Đoàn Đức Phương, người thầy đã trực tiếp, nhiệt tình hướng dẫn và
giúp đỡ tôi hoàn thành luận văn này.
Tôi xin gửi lời trân trọng cảm ơn tới tất cả các thày giáo, cô giáo trong
trường, các thày giáo, cô giáo trong khoa Văn học, trường Đại học Khoa học Xã
hội và Nhân văn, Đại học Quốc gia Hà Nội đã cho tôi vốn kiến thức và tạo mọi
điều kiện thuận lợi trong suốt khóa học tại trường, giúp tôi hoàn thành luận văn
này.
Tôi xin chân thành cảm ơn các bạn bè, đồng nghiệp đã luôn sẵn sàng giúp đỡ,
chia sẻ với tôi những điều kiện, kiến thức học tập để tôi hoàn thành luận văn này.
Cuối cùng, tôi xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc tới những người thân yêu
trong gia đình đã ủng hộ, động viên để tôi hoàn thành luận văn này.
Xin chân thành cảm ơn!

Hà Nội, ngày 12 tháng 11 năm 2014
Tác giả luận văn
3.1. Tạo dựng chân dung nhân vật ……………………….…………73
3.2. Đặt nhân vật vào những tình huống thử thách, …… ………… 79
3.3. Khắc họa đời sống nội tâm nhân vật …………….……………. 81
3.4. Xây dựng nhân vật mang tính chất tự truyện …….…………….87
Chương 3: Cốt truyện trong truyện ngắn Kim Lân … .……………… ……. 93 1. Cốt truyện trong tác phẩm văn học … ………….……………………. 93
2. Các kiểu cốt truyện trong truyện ngắn Kim Lân …… ….………… 95
2.1. Cốt truyện tuyến tính ………………… …… ……………… 95
2.2. Cốt truyện gấp khúc ………………………….……………… 99
2.3. Cốt truyện khung ……………………….…………… ……. .103
2.4. Cốt truyện tâm lý ……………………….……………………. 106
3. Nghệ thuật tổ chức cốt truyện trong truyện ngắn của Kim Lân … 111
3.1. Trình bày … … ………………………………… ……… 111
3.2. Vận động ………………….………………….…… … …… 116
3.3. Kết thúc………………………………….… …… …………. 124
Kết luận: ………………….…………………… …… ………………… 127
Thư mục tham khảo
1
MỞ ĐẦU

1. Lý do chọn đề tài
Trong đội ngũ nhà văn hiện đại Việt Nam, Kim Lân thuộc nhóm những
nhà văn viết không nhiều nhưng lại tạo được những dấu ấn đặc biệt. Nhắc đến
ông, cả bạn đọc và bạn văn đều cảm nhận một điều gì đó gần gũi, thân thiết mà
cũng rất đáng nể trọng. Cái tên Kim Lân đã được công chúng biết và nhớ đến từ

Văn 12 thí điểm ban Khoa học Xã hội và Nhân văn, Ngữ Văn 12 thí điểm ban
Khoa học Tự nhiên. Hiện nay, khi chương trình Ngữ Văn phổ thông đã có sự
thống nhất thì Làng và Vợ nhặt vẫn là các tác phẩm được giảng dạy như trước.
Vợ nhặt vẫn có mặt trong hai bộ sách Chương trình chuẩn và Chương trình
nâng cao. Cùng với đó, cái tên Kim Lân và Vợ nhặt cũng xuất hiện khá thường
xuyên trong các đề thi tốt nghệp Trung học Phổ thông và đề thi tuyển sinh Đại
học nhiều năm gần đây. Có thể thấy, Kim Lân là một nhà văn luôn có một vị trí
quan trọng trong đời sống văn học dân tộc.
Trong thế giới tác phẩm của Kim Lân, nhân vật và cốt truyện luôn là yếu
tố tạo dấu ấn đặc biệt với bạn đọc. Đây cũng là hai phương diện không thể tách
rời nhau trong một truyện ngắn nói chung. Nhân vật chính là phương tiện để nhà
văn khái quát hiện thực đời sống một cách hình tượng, cũng là nơi để họ thể
hiện nhận thức của mình về muôn mặt cuộc đời. Và cốt truyện lại là phương
diện để nhân vật ấy bộc lộ những tính cách thông qua một hệ thống các sự kiện
được tạo dựng. Khi viết truyện, Kim Lân luôn có ý thức tạo dựng nhân vật một
cách kỹ lưỡng và xây dựng cốt truyện hợp lý, sao cho vấn đề truyền tải đến bạn
đọc được hiệu quả nhất.
Việc tìm hiểu nhân vật và cốt truyện trong truyện ngắn Kim Lân sẽ giúp
bạn đọc phần nào thấy rõ hơn những thông điệp, tư tưởng của nhà văn về cuộc
sống cũng như tài năng nghệ thuật truyện ngắn bậc thầy của ông. 3
Với những lí do trên, chúng tôi mạnh dạn chọn nhân vật và cốt truyện
trong truyện ngắn của nhà văn Kim Lân làm đề tài nghiên cứu cho mình.
2. Lịch sử vấn đề
Là cây bút truyện ngắn sớm có chỗ đứng vững chãi trên văn đàn dân tộc,
cũng là nhà văn được bạn đọc trân trọng và yêu mến trong suốt thời gian qua,
Kim Lân và tác phẩm của ông đã trở thành đối tượng bàn luận, nghiên cứu của
rất nhiều học giả, độc giả khác nhau. Trong phạm vi giới hạn của đề tài, chúng

Sau này, nhà nghiên cứu Lại Nguyên Ân trong một bài viết đăng trên Tạp
chí Văn học số 6 với nhan đề: Văn xuôi Kim Lân đã nói cụ thể hơn về nội dung
truyện ngắn của tác giả này: “Đọc văn xuôi Kim Lân, ta bắt gặp cái thế giới của
những người thường dân nghèo khổ vốn là hạng “hạ lưu” ở xã hội cũ: Những
người nông dân miền xuôi mất nhà mất đất xiêu dạt lên miền ngược, táp vào
một xóm chợ bến sông, một góc phố núi hay ven một đồn điền, một xóm trai, tiếp
tục vật lộn với miếng sống sơ đẳng hằng ngày. Đã có lúc nhà văn gọi những
nhân vật thân thuộc ấy của ngòi bút mình là “những đầu thừa đuôi thẹo ở khắp
xó xỉnh cuộc sống”. Cách gọi giống như là sự tự mệnh danh đầy đau xót của
chính các nhân vật ấy” [1].
Nhà nghiên cứu Vương Trí Nhàn trong một bài viết: Kim Lân – nhà văn
của những kiếp người đầu thừa đuôi thẹo cũng khẳng định: “Hình như những
mẫu người đầu thừa đuôi thẹo ấy đã gửi một đại diện của họ vào văn học và
Kim Lân đã làm việc này một cách tự nguyện” [67].
Năm 1983, trong bài viết Khải luận cho cuốn Tổng tập văn học Việt Nam,
tập 30A, Nguyễn Đăng Mạnh có viết: “Văn Kim Lân tỏ ra độc đáo, hấp dẫn hơn
khi ông viết về những cái gọi là “thú đồng quê” hay “phong lưu đồng ruộng”.
Ông cũng cho rằng, “Sở dĩ có sự hấp dẫn, không phải vì ở đấy những tập quán
ngộ nghĩnh, kỳ lạ, những thú chơi phiền phức, cầu kỳ được trình bày cặn kẽ, mà
chính là nhờ nhà văn đã thể hiện lên được những con người ở làng quê Việt
Nam độc đáo kia, tuy nghèo khổ thiếu thốn mà vẫn yêu đời” [32, tr. 64]. 5
Như vậy, cái nhìn về nội dung truyện ngắn Kim Lân của Nguyễn Đăng
Mạnh đã có sự mở rộng tới một phạm trù nữa, đó là cái thú “phong lưu đồng
ruộng” như chính từ dùng của nhà văn. Từ đó, tác giả cũng đưa ra cái nhìn tổng
quát về toàn bộ nội dung truyện ngắn Kim Lân trước Cách mạng tháng Tám
1945: “Đó là những trang số phận của các đầu thừa, đuôi thẹo, được đưa từ các
xó xỉnh tối khuất lên mặt trang giấy trắng chứa nhân thế, nhân tình hoặc những

Như vậy, mặc nhiên, các nhà nghiên cứu đều đồng nhất một quan điểm
về thế giới nhân vật cũng như đề tài trong truyện ngắn Kim Lân là thế giới của
nông thôn, thế giới của người nông dân thuần hậu, chất phác. Có lẽ, cái không
khí náo nhiệt chốn Hà thành, nơi một thời gian dài nhà văn gắn bó cho tới cuối
đời, đã không hề lan chiếm góc nhỏ nào trong tâm thế sáng tạo nghệ thuật của
ông. Tác phẩm của ông, con người ông vẫn quyết làm một đốm lửa khác biệt
giữa cuộc đời để lưu giữ cái hồn quê – hồn Việt cho bạn đọc. Ngay chính Kim
Lân là người cũng đã từng khẳng định điều đó: “Đó là những câu chuyện về bản
thân tôi, tâm tư và số phận của tôi cũng như những người gần gũi trong làng
xóm của tôi”[63].
Bất cứ bạn đọc nào khi tiếp cận tác phẩm của Kim Lân cũng đều cảm
nhận được một không khí gần gũi, bình dị mà tinh tế, tài hoa của một cây bút
truyện ngắn bậc thầy, ẩn sau đó là dáng dấp của một con người lịch lãm, hào hoa
xứ Kinh Bắc. Mỗi trang văn của ông đều là thành quả của một cái nhìn kỹ
lưỡng, tỉ mỉ, say sưa về cuộc sống và con người vùng Bắc Bộ và một lối diễn đạt
đặc thù của “đứa con đẻ của đồng ruộng” (Nguyên Hồng). Nhận xét về phương
diện này, Lại Nguyên Ân đã có những đánh giá xác đáng: “Chất giọng thường
xuyên trong truyện ngắn của Kim Lân là chất giọng thật sự văn xuôi. Nó không
thích hướng vào chất trữ tình, không thích rống lên thống thiết. Nó thích phô
bày cái nôm na thật thà, đáng yêu nhưng cũng đáng tức cười của những sự thật
xung quanh chứ không thích phủ lên các sự thật ấy một sự cảm động đến rưng
rưng. Chính là do thích phô bày nôm na thật thà của những con người và sự vật
xung quanh nên văn xuôi của con người này đã chú trọng khai thác các khả 7
năng miêu tả của các ngôn ngữ (…). Nhà văn rất chú ý miêu tả lời ăn tiếng nói
của họ và đã biến thứ ngôn ngữ sống của những cư dân sống thực đó thành một
đối tượng nghệ thuật rất đáng lắng nghe, nếu ta biết nghiệm ra cái vẻ đẹp đích
thực của lời ăn tiếng nói ấy” [1].

đầu cho các độc giả. Đó là phong cách giản dị mà độc đáo của Kim Lân” [42].
Ngoài ra, vấn đề nghệ thuật truyện ngắn Kim Lân cũng được các nhà
nghiên cứu chú tâm ở các phương diện. Lại Nguyên Ân đã từng có những tổng
kết rất xác đáng về các kiểu truyện ngắn của nhà văn: “Bằng vào hai tập Vợ
nhặt và Nên vợ nên chồng, có thể kể được khoảng ba kiểu truyện chính. Kiểu
phổ biến hơn cả có thể gọi là những truyện ngắn tính cách. Nhiệm vụ nghệ thuật
mà nhà văn vẽ ra ở đó là vẽ ra một con người (…) Hơi khác chút ít với kiểu
truyện tính cách này, Vợ nhặt là truyện ngắn không chú tâm hẳn vào nhân vật
nào (…) Diễn biến của truyện không nhằm khám phá một nét tính cách nào của
một trong số các nhân vật. Cái được chủ yếu ở đây là miêu tả một tình huống.
Đây có thể gọi là ước lệ là truyện ngắn tình huống (…) Có một kiểu truyện nữa
mà Kim Lân viết rất ít. Tôi muốn nói truyện ngắn Con chó xấu xí từng được đặt
làm cái tên chung cho tập truyện Vợ nhặt hồi in lần đầu thành sách. Đây là
truyện có hơi hướng ngụ ý” [1]. Trong bài viết này, ông cũng bày tỏ điều ông
tâm đắc ở Kim Lân chính là cách nhà văn dụng công xây dựng các chi tiết: “Ông
là một nhà văn kỹ lưỡng, tinh tế trong việc lựa chọn chi tiết, kỳ khu và tài hoa
trong việc lựa chọn ngôn từ, hình ảnh”. Nhận định này cũng đã được chính nhà
văn thừa nhận. Năm 1994 trong bài Nghĩ về nghề văn, Kim Lân bộc bạch: “Khi
sáng tác truyện ngắn, đối với tôi chi tiết vô cùng quan trọng. Trong truyện ngắn
của tôi đầy ắp chi tiết. Tôi nói bằng chi tiết. Truyện của tôi viết ra không ai kể
lại được .(…) Truyện Làng, Vợ nhặt, Bố con ông gác máy bay trên núi Côi-kê,
Ông lão hàng xóm nếu kể cốt truyện ra thì tẻ nhạt không có gì đáng chú ý cả.
Chi tiết lấn át cốt truyện, chi tiết thể hiện một cách tinh tế nhất và rõ ràng nhất
tính cách nhân vật cũng như hoàn cảnh sống của nhân vật”. 9
Với những gì đã thể hiện trên trang văn của mình, Kim Lân đã sớm được
đánh giá cao trên văn đàn dân tộc. Khẳng định về tài năng viết truyện ngắn của
Kim Lân, Hà Minh Đức viết trong Nhà văn nói về tác phẩm: “Kim Lân là một

làm chuẩn”. Thậm chí, khi đọc Làng, Vợ nhặt, ông còn cho rằng: “Đó là thần
viết, thần mượn tay người để viết nên những trang sách bất hủ” [19, tr. 21].
Có thể thấy rằng, Kim Lân là một trong số các nhà văn có chỗ đứng trang
trọng trong con mắt của độc giả. Tác phẩm của ông, dù không nhiều, luôn được
bạn đọc và giới nghiên cứu quan tâm. Càng ngày, các bài viết về Kim Lân càng
đa dạng, phong phú. Những năm gần đây, sáng tác của Kim Lân cũng được lựa
chọn nghiên cứu trong nhà trường qua nhiều công trình luận văn công phu, tỉ mỉ.
Đơn cử một số công trình tiêu biểu như:
Nguyễn Quốc Thanh khi nghiên cứu Cảm hứng chủ đạo và nghệ thuật
trần thuật trong truyện ngắn Kim Lân, (Đại học Sư phạm TP Hồ Chí Minh) đã
rút ra được nhiều ý kiến xác đáng: “Đọc truyện Kim Lân, người đọc luôn cảm
nhận được ở tác phẩm của ông thường toát lên cảm hứng ca ngợi những giá trị
tốt đẹp của cuộc sống, cảm hứng yêu thương trân trọng con người và cuộc sống
của con người. Nguồn mạch cảm hứng ấy xuất phát từ cái tâm của con người
nhân ái, cái tâm của người cầm bút. Cái tâm ấy bình dị, chất phác mà sâu sắc
như con người ông” [53, tr. 98]. Tác giả nghiên cứu cũng cho rằng, nghệ thuật
trần thuật trong truyện ngắn Kim Lân có những nét rất đặc thù:“vận dụng các
kiểu trần thuật trong phương thức trần thuật khách quan (với kiểu trần thuật
lạnh lùng) và phương thức trần thuật chủ quan (với kiểu người trần thuật xưng
tôi đóng vai trò dẫn truyện và kiểu người trần thuật xưng tôi vừa là người dẫn
truyện vừa là một nhân vật).
Nguyễn Thị Nha Trang cũng đã đưa ra những nhận định rất sâu sắc trong
công trình Phong cách văn xuôi nghệ thuật Kim Lân (Đại học Sư phạm Thành
phố Hồ Chí Minh). Ở đây, người viết đã khái quát được những nội dung và
phương thức tự sự chủ đạo trong văn xuôi nghệ thuật Kim Lân: “Thế giới và
cuộc sống con người trong văn xuôi nghệ thuật Kim Lân về căn bản là thế giới 11
được nhìn từ quê hương, hay mang hình bóng quê hương đồng bằng Bắc Bộ vốn

Trên tinh thần tiếp thu và vận dụng những thành quả nghiên cứu của lớp
người đi trước, luận văn của chúng tôi xin tiếp tục nghiên cứu một cách toàn
diện hơn về Nhân vật và cốt truyện trong truyện ngắn Kim Lân, với mong muốn
góp thêm chút tiếng nói nhỏ thể hiện tấm lòng yêu quý và trân trọng những sáng
tạo nghệ thuật của nhà văn.
3. Đối tƣợng, mục đích, phạm vi nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu của đề tài là đặc điểm nhân vật và cốt truyện trong
truyện ngắn Kim Lân. Từ đó tìm hiểu nghệ thuật xây dựng nhân vật và cách
thức tổ chức cốt truyện của nhà văn.
Mục đích của luận văn khi nghiên cứu Nhân vật và cốt truyện trong
truyện ngắn Kim Lân, chúng tôi mong muốn sẽ góp thêm vài ý kiến trong việc
tìm hiểu tác phẩm cũng như phong cách nghệ thuật của nhà văn từ hai phương
diện nhân vật và cốt truyện. Qua đó, góp thêm phần khẳng định vị trí của ông
trong nền văn xuôi Việt Nam hiện đại, khắc sâu thêm tấm lòng yêu quý của bạn
đọc với nhà văn.
Trong chương trình dạy học Ngữ Văn hiện hành, Kim Lân cũng là tác giả
có tác phẩm được đưa vào giảng dạy ở hai cấp học: Trung học Cơ sở và Trung
học Phổ thông. Vì vậy, khi thực hiện công trình này, chúng tôi cũng mong muốn
đóng góp thêm một vài ý kiến vào công việc học tập và giảng dạy truyện ngắn
Kim Lân ở nhà trường.
Phạm vi nghiên cứu của đề tài: các truyện ngắn của Kim Lân đã được
xuất bản:
Làng, truyện ngắn, Tạp chí Văn nghệ, 1948, NXB Văn nghệ, Hà Nội, 1955.
Nên vợ nên chồng, tập truyện ngắn, NXBVăn nghệ, Hà Nội, 1955.
Ông lão hàng xóm (cùng Nguyên Hồng, Nguyễn Văn Bổng), NXB Văn nghệ,
Hà Nội, 1957. 13
Anh chàng hiệp sĩ gỗ, NXB Kim Đồng, Hà Nội, 1958 .

Chƣơng 1
HÀNH TRÌNH SÁNG TÁC VÀ QUAN NIỆM NGHỆ THUẬT
CỦA KIM LÂN

2.1. Hành trình sáng tác của Kim Lân
Nhà văn Kim Lân tên thật là Nguyễn Văn Tài, sinh ngày 01 tháng 08 năm
1920 tại một miền quê giàu truyền thống văn hóa, làng Phù Lưu, xã Tân Hồng,
huyện Từ Sơn, tỉnh Bắc Ninh. Xứ Kinh Bắc quê hương ông vốn là đất nghìn
năm văn hiến, nơi từng phát tích vương triều, nơi có bề dày lịch sử, có truyền
thống văn hóa lâu đời với những hội hè, đình đám… cũng là nơi có những làn
điệu dân ca quan họ ngọt ngào, sâu lắng đắm mê lòng người. Cậu bé Tài đã
được nuôi dưỡng tài năng trong một không gian sinh thành đậm chất văn hóa
nghệ thuật như thế. Và chính cái bút danh của ông cũng phần nào là hệ quả tất
yếu từ không gian đó. Kim Lân chính là sự lựa chọn rút ngắn từ tên một nhân vật
trong vở tuồng nổi tiếng mà ông đam mê từ những buổi hội làng thuở bé: Đổng
Kim Lân trong vở tuồng Sơn Hậu.
Là con của một người vợ lẽ trong một gia đình bình dân, hồi nhỏ, cậu bé
Tài chỉ được học hết bậc Tiểu học. Rồi cụ thân sinh mất, cậu phải đi phụ việc
cho các lớp thợ đàn anh để giúp gia đình kiếm sống bằng rất nhiều nghề khác
nhau. Những tháng ngày lang bạt này cũng chính là một nguồn tư liệu dồi dào
về muôn mặt cuộc sống, thôi thúc một anh Tài với lòng ham viết, thích viết cầm
bút để khẳng định một điều gì đó với cuộc đời, với xung quanh.
Kim Lân đến với Cách mạng khá sớm. Năm 1944, ông đã được giác ngộ
và tham gia Hội Văn hóa cứu quốc. Cách mạng tháng Tám thành công, ông tiếp
tục cống hiến tích cực cho đất nước. Môi trường sống mới này cũng giúp ông có
cái nhìn dày dặn và sâu sắc hơn về con người trong cuộc sống.
Và bản sắc văn hóa quê hương, trải nghiệm cuộc đời cùng với niềm yêu
thích văn chương đã hun đúc nên một con người, một nhà văn Kim Lân khá kín

16
sĩ của những con người làm nên thú chơi ấy. Câu chuyện đã nhanh chóng lọt vào
“mắt xanh” của nhà văn, nhà báo Vũ Bằng. Ông khuyến khích Kim Lân: “hãy
viết về thú chơi và phong tục nông thôn thì một mình ông một chiếu” và mời ông
cộng tác với Tiểu thuyết thứ bảy. Thành quả là hàng loạt tác phẩm đã ra đời,
đóng đinh nhà văn Kim Lân trên “chiếu” phong tục tập quán làng quê Bắc Bộ:
Đuổi tà, Con Mã Mái, Người kép già, Thượng tướng Trần Quang Khải –
Trạng Vật, …
Dù không có những lời tuyên chiến mạnh mẽ như những nhà văn cùng
thời, song đọc tác phẩm của Kim Lân giai đoạn này, chúng ta vẫn có thể thấy
chất hiện thực hiện lên rất rõ nét và sâu sắc. Ông không có những trang văn phê
phán, những thái độ lên án, đả kích gay gắt như những Giông tố của Vũ Trọng
Phụng, Tắt đèn của Ngô Tất Tố, Chí Phèo của Nam Cao…, cũng không có
những tiếng cười trào phúng kiểu Số đỏ (Vũ Trọng Phụng). Nhà văn gần như
không đi sâu khai thác mâu thuẫn xã hội đặc thù của thời đại, mâu thuẫn giữa
người nông dân với tầng lớp thực dân, địa chủ phong kiến như các bạn văn thời
ấy. Trang văn của ông nhẹ nhàng, bình lặng mà vẫn đầy ắp những vấn đề nhức
nhối, đầy ắp những trái ngang do xã hội đương thời đẩy xô tới số phận những
con người nghèo khổ.
Ngay từ tác phẩm đầu tay Đứa con người vợ lẽ, người đọc đã cảm nhận
được cái không khí cuộc sống đầy bức bối thuở đương thời. Cái lề thói phong
kiến, cái hủ tục đa thê đã đẻ ra cái phận người bị hắt hủi: phận người làm lẽ. Vợ
lẽ, tất yếu sẽ sinh ra những “đứa con lẽ”, nếu có thể gọi như vậy. Bi kịch của con
người đôi khi lại bắt nguồn từ chính cái xuất thân ấy. Tư, nhân vật trong câu
chuyện đã có một tuổi thơ thua thiệt của phận “con vợ ba”, một chuỗi ngày dài
mẹ con lâm vào cảnh thất nghiệp khi thày và mẹ cả mất, nhà không làm ruộng
nữa, cũng đồng nghĩa với người “vợ ba” lấy về “không phải đôi bên bác mẹ gả
bán, không phải nhà hiếm hoi, cũng không phải tình yêu”, chỉ đơn thuần là
“cáng đáng việc đồng” kia trở nên vô dụng. Mẹ con phận lẽ thua thiệt ấy giờ lại

Kim Lân cũng nhẹ nhàng như chính con người ông vậy. 18
Bên cạnh đó, Kim Lân cũng viết khá nhiều tác phẩm ngợi ca những thú
chơi văn hóa cổ truyền đầy tự hào của vùng quê Kinh Bắc văn vật của ông. Đọc
những chùm truyện ngắn này, người đọc như được đắm mình vào một nhịp sống
náo nức, sôi động của một miền nông thôn trù phú. Đó là nhịp sống của một
vùng miền triền miên hội hè đình đám những ngày xuân năm mới, là không khí
ngọt ngào của những câu hát quan họ giao duyên, là không gian tưng bừng nhộn
nhịp của những trò chơi dân gian ngày hội. Ngay cả những nghi thức cúng tế
dân gian cũng được ông đề cập trên trang viết với một sự hiểu biết cặn kẽ và
một niềm yêu thích tự hào. Đuổi tà là một câu chuyện như thế. Nhà văn đã giúp
cho bạn đọc hiểu được một tập tục rất quen thuộc trong đời sống làng xã Việt
xưa: trừ tà ma đầu năm và đón lộc xuân năm mới. Dưới ngòi bút của ông,
chuyện cúng tế trừ tà không còn là chuyện dị đoan mê tín, nó là chuyện của ước
mơ, của hi vọng, của niềm tin thiêng liêng cho một năm mới thịnh đạt, bình an
mà người dân nông thôn quê ông đã gửi gắm.
Cũng với một tâm thế ấy, những thú chơi trong ngày hội trên quê hương
ông đã nghiễm nhiên đi vào trang sách như một nét đẹp văn hóa cổ truyền lâu
đời cần gìn giữ: thú thả chim trong Đôi chim thành, thú đấu vật trong Thượng
tướng Trần Quang Khải – Trạng Vật, thú chọi gà trong Con Mã Mái… Đời
sống của người nông dân xưa như đã bớt nghèo, bớt khổ bởi những thú chơi tao
nhã ấy.
Viết về đề tài này, nhà văn như đã bộc lộ trọn vẹn con mắt tinh tường và
sự am hiểu sâu sắc về chúng, cũng bộc lộ một niềm yêu, niềm tự hào sâu sắc và
một ý thức gìn giữ truyền thống văn hóa quê hương. Những tâm huyết này giúp
Kim Lân tạo được một dấu ấn rất riêng không trộn lẫn trên văn đàn: nhà văn của
những thú phong lưu đồng ruộng.
Cho dù viết ở mảng đề tài nào, bạn đọc vẫn thấy từ truyện ngắn Kim Lân

hào, hãnh diện về làng Chợ Giầu của mình trong kháng chiến, nhà văn đã dựng
lên được chân dung người nông dân trong thời đại mới bình đẳng, tự tin, trách
nhiệm trong từng việc làm, từng nếp nghĩ. Đến Vợ nhặt, câu chuyện lại gợi ra

Trích đoạn Sáng tác của Kim Lân sau Cách mạng tháng Tám 1945 Quan niệm của Kim Lân về con người Quan niệm của Kim Lân về cái đẹp Quan niệm của Kim Lân về việc viết văn Nhân vật trong tác phẩm văn học
Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status