BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO BỘ NÔNG NGHIỆP VÀ PTNT
HỌC VIỆN NÔNG NGHIỆP VIỆT NAM
=====******=====
NGUYỄN THỊ NGÀ
NÂNG CAO KHẢ NĂNG CẠNH TRANH
SẢN PHẨM THỨC ĂN CHĂN NUÔI CÔNG NGHIỆP
CỦA CÔNG TY CỔ PHẦN CHĂN NUÔI C.P. VIỆT NAM
TRÊN THỊ TRƯỜNG VÙNG ĐỒNG BẰNG SÔNG HỒNG
Chuyên ngành : QUẢN LÝ KINH TẾ
Mã số : 60.34.04.10 NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC:
PGS.TS. TRẦN ĐÌNH THAO
HÀ NỘI – 2014
Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Kinh tế
Page i
Page ii
LỜI CẢM ƠN
Để hoàn thành luận văn tốt nghiệp này, ngoài sự cố gắng nỗ lực của
bản thân, tôi đã nhận được sự quan tâm tạo điều kiện giúp đỡ của Ban giám
đốc, Ban chủ nhiệm Khoa và các thầy cô khoa Kinh tế & PTNT, Học viện
Nông nghiệp Việt Nam đã trang bị cho tôi những kiến thức quý báu trong quá
trình học tập và nghiên cứu để giúp cho tôi ngày càng trưởng thành.
Đặc biệt tôi xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc tới thầy giáo PGS.TS Trần
Đình Thao đã dành nhiều thời gian tận tình giúp đỡ, chỉ bảo và có những
đóng góp quý báu cho cải thiện chất lượng luận văn.
Tôi cũng gửi lời cảm ơn chân thành tới toàn thể các cán bộ, nhân viên
trong Công ty cổ phần chăn nuôi C.P Việt Nam - Chi Nhánh Xuân Mai Hà
Nội đã tạo điều kiện thuận lợi, giúp đỡ tôi trong suốt quá trình thực hiện luận
văn.
Cuối cùng, tôi xin cảm ơn gia đình, bạn bè, đồng nghiệp đã giúp đỡ tôi
trong thời gian học tập vừa qua.
Tôi xin chân thành cảm ơn!
Hà Nội, ngày tháng năm 2014
Học viên
Nguyễn Thị Ngà
Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Kinh tế
Page iii
Page iv
3.1.3 Điều kiện sản xuất kinh doanh của công ty CP 36
3.2 Phương pháp nghiên cứu 38
3.2.1 Phương pháp chọn điểm và chọn mẫu nghiên cứu 38
3.2.2 Phương pháp thu thập số liệu 40
3.2.3 Phương pháp xử lý số liệu 41
3.2.4 Phương pháp phân tích số liệu 41
3.3 Hệ thống các chỉ tiêu nghiên cứu 43
PHẦN IV KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN 44
4.1 Tình hình sản xuất – kinh doanh TACN công nghiệp của công ty
cổ phần chăn nuôi CP 44
4.1.1 Quy trình sản xuất TACN công nghiệp của công ty CP 44
4.1.2 Kết quả sản xuất sản phẩm TACN của công ty CP 46
4.1.3 Tình hình tiêu thụ sản phẩm TACN của công ty CP 48
4.1.4 Kết quả sản xuất kinh doanh TACN của công ty CP 51
4.2 Thực trạng khả năng cạnh tranh của sản phẩm thức ăn chăn nuôi
công nghiệp của công ty C.P 52
4.2.1 Cạnh tranh bằng chất lượng sản phẩm 52
4.2.2 Cạnh tranh bằng giá cả 58
4.2.3 Cạnh tranh bằng nhãn hiệu, chủng loại và mẫu mã bao bì sản phẩm 60
4.2.4 Tổ chức thị trường tiêu thụ sản phẩm 70
4.2.5 Chính sách xúc tiến và hỗ trợ kinh doanh 76
4.3 Đánh giá về khả năng cạnh tranh sản phẩm TACN của công ty 81
4.3.1 Phân tích ma trận SWOT 81
4.3.2 Đánh giá khả năng cạnh tranh sản phẩm của CP 83
4.4 Một số định hướng và giải pháp nâng cao khả năng cạnh tranh
sản phẩm của công ty C.P 85
4.4.1 Định hướng 85
4.4.2 Giải pháp nâng cao khả năng cạnh tranh sản phẩm của công ty 86
DANH MỤC BẢNG
STT Tên bảng Trang
2.1 Top các doanh nghiệp sản xuất TACN năm 2012 29
3.1 Số lượng và chất lượng nguồn lao động của công ty năm 2013 36
3.2 Tình hình cơ sở vật chất kỹ thuật của công ty CP 38
3.3 Phân bổ mẫu điều tra 40
4.1 Tình hình tiêu thụ sản phẩm TACN của công ty CP 48
4.2 Mức tiêu thụ TACN cho heo/lợn của một số công ty tại thị
trường vùng Đồng bằng sông Hồng 50
4.3 Một số kết quả sản xuất - kinh doanh TACN của công ty CP
(2011-2013) 51
4.4 Yêu cầu kỹ thuật một số sản phẩm TACN của CP 53
4.5 Kết quả thí nghiệm TACN cho lợn con 56
4.6 Kết quả thí nghiệm TACN cho vịt siêu thịt Giống SUPER M3-
STAR 53 57
4.7 Giá TACN của một số công ty tại khu vực ĐBSH năm 2013 59
4.8 Các chủng loại TACN của công ty CP 61
4.9 Danh mục các loại TACN dành cho heo/lợn nhãn hiệu NOVO 63
4.10 Nhãn hiệu, chủng loại sản phẩm một số công ty TACN 64
4.11 Đánh giá của khách hàng về bao bì, mẫu mã sản phẩm TACN
của công ty CP 69
4.12 Sản lượng tiêu thụ TACN của CP theo thị trường năm 2013 71
4.13 Tổng hợp số lượng đại lý và trang trại trực tiếp 83
4.14 Các chính sách chiết khấu, khuyến mại của công ty CP 79
4.15 Đánh giá của các chuyên gia về khả năng cạnh tranh sản phẩm
Chăn nuôi được xác định là một ngành kinh tế mũi nhọn, là cái “đệm
giảm sốc” cho nền kinh tế nói chung và nền nông nghiệp Việt Nam nói
riêng. Thực tế cho thấy, ngành nông nghiệp hiện chiếm 22% GDP và hơn
60% nguồn lao động, trong đó chăn nuôi đóng góp 27% trong GDP của
ngành nông nghiệp (khoảng 6% tổng số GDP). Chăn nuôi là một trong
những lĩnh vực phát triển nhanh nhất và dự kiến chiếm khoảng 42% GDP
trong nông nghiệp vào năm 2020. Cùng với quy mô và tốc độ phát triển
nhanh ngành chăn nuôi đã tạo ra nhu cầu lớn về thức ăn chăn nuôi công
nghiệp mở ra các cơ hội cho các doanh nghiệp sản xuất thức ăn chăn nuôi
hình thành và phát triển
.
Theo kết quả báo cáo của Tổng cục Thống kê năm 2012 cả nước có 234
doanh nghiệp sản xuất thức ăn chăn nuôi, trong đó 95 nhà máy có sản
lượng từ vài ngàn tấn đến dưới 20.000 tấn/năm, loại hình từ 20.000 –
50.000 tấn/năm có 37 nhà máy, đa phần là của các doanh nghiệp cơ sở
trong nước. Các nhà máy có sản lượng lớn từ 50.000 đến trên 100.000 tấn
đều thuộc các doanh nghiệp nước ngoài (trong đó một số nhà máy có công
suất trên 800.000 tấn/năm) chiếm gần 60% thị phần. Là doanh nghiệp với
100% vốn đầu tư nước ngoài, tập đoàn Charoen Pokphand - CP Group
(Thái Lan) đầu tư vào Việt Nam từ năm 1991(chính thức được cấp phép
đầu tư năm 1993) đến nay CP Việt Nam không ngừng mở rộng sản xuất và
hoạt động trong ba lĩnh vực chính: thức ăn chăn nuôi, trang trại và thực
phẩm. Trong đó, mạnh nhất là ngành thức ăn chăn nuôi với 8 nhà máy sản
xuất cung cấp sản phẩm cho khắp mọi miền đất nước. Năm 2012, CP Việt
Nam đứng vị trí số 1 trong số các doanh nghiệp sản xuất thức ăn chăn nuôi
Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Kinh tế
Page 2
công nghiệp với tổng sản lượng 2.281.900 tấn. Các sản phẩm thức ăn chăn
1.2.2 Mục tiêu cụ thể
- Góp phần hệ thống hóa những vấn đề lý luận và thực tiễn về khả năng
cạnh tranh sản phẩm nói chung và sản phẩm TACN công nghiệp nói riêng.
- Đánh giá khả năng cạnh tranh của sản phẩm TACN của công ty cổ
phần chăn nuôi CP Việt Nam trên thị trường vùng đồng bằng sông Hồng.
- Phân tích các yếu tố ảnh hưởng tới khả năng cạnh tranh sản phẩm
TACN công nghiệp của công ty.
- Đề xuất một số giải pháp nhằm nâng cao khả năng cạnh tranh sản
phẩm TACN công nghiệp của công ty cổ phần chăn nuôi CP Việt Nam trên
thị trường.
1.3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
1.3.1 Đối tượng nghiên cứu
Nghiên cứu các yếu tố ảnh hưởng đến khả năng cạnh tranh sản phẩm
TACN công nghiệp của công ty cổ phần chăn nuôi CP Việt Nam trên thị
trường vùng đồng bằng sông Hồng. Đối tượng khảo sát phục vụ nghiên cứu
gồm người chăn nuôi là khách hàng của công ty, các đại lý, các trang trại và
cán bộ công nhân viên của công ty.
1.3.2 Phạm vi nghiên cứu
- Phạm vi nội dung:
Đề tài tập trung nghiên cứu thực trạng và các yếu tố ảnh hưởng tới khả
năng cạnh tranh sản phẩm TACN công nghiệp của công ty cổ phần chăn nuôi
CP Việt Nam trên thị trường vùng đồng bằng sông Hồng.
- Phạm vi thời gian: Đề tài được thực hiện từ tháng 05/2013 đến tháng
10/2014. Số liệu và các thông tin dùng để phân tích trong đề tài được thu thập
trong 3 năm từ 2010 đến hết năm 2013.
- Phạm vi không gian:
Đề tài được thực hiện tại Công ty cổ phần chăn nuôi C.P Việt Nam -
Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Kinh tế
Page 4
thụ hàng hoá để thu được lợi nhuận siêu ngạch”. CNTB phát triển đến đỉnh
điểm chuyển sang chủ nghĩa đế quốc rồi suy vong và cho đến ngày nay nền
kinh tế thế giới đã dần đi vào qũy đạo của sự ổn định và xu hướng chính là
hội nhập, hoà đồng giữa các nền kinh tế, cơ chế hoạt động là cơ chế thị trường
có sự quản lý và điều tiết của Nhà nước thì khái niệm cạnh tranh mất hẳn tính
giai cấp, tính chính trị nhưng về bản chất thì vẫn không thay đổi.
Vào cuối thế kỷ XIX xuất hiện lý luận của trường phái cổ điển mới.
Tâm điểm của lý luận này nhấn mạnh về cạnh tranh hoàn hảo. Lý luận cho
rằng cạnh tranh hoàn hảo có nghĩa là thu nhập và của cải được phân phối đều
khắp. Đầu những năm 20 của thế kỷ XX, các nhà kinh tế Anh, Mỹ thể hiện sự
am hiểu về cạnh tranh bằng mô hình cạnh tranh không hoàn hảo.
Nhà kinh tế học người Mỹ - Maurise Clack đưa ra ba luận điểm trong
đó nổi bật:
- Cạnh tranh bằng sản phẩm mới, kỹ thuật mới, nguồn cung ứng mới và
Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Kinh tế
Page 6
hình thức tổ chức mới.
- Sự vận hành của cạnh tranh được đo bằng chi phí trên một đơn vị sản
phẩm của doanh nghiệp so với chi phí của một đơn vị sản phẩm của đối thủ
canh tranh, so với toàn ngành khi tăng chất lượng hàng hoá cũng như sự hợp
lý trong sản xuất.
Trong nền kinh tế thị trường, khả năng cạnh tranh là điều kiện sống còn
của doanh nghiệp. Cạnh tranh là một trong những động lực cơ bản và là động
lực phát triển của kinh tế thị trường, không có cạnh tranh đồng nghĩa với
không có kinh tế thị trường. Cạnh tranh có thể được hiểu là sự ganh đua giữa
các doanh nghiệp trong việc giành một nhân tố sản xuất, khách hàng nhằm
nâng cao vị thế cạnh tranh trên thị trường. Xét dưới góc độ lợi ích toàn xã hội,
cạnh tranh luôn có tác động tích cực: Làm cân bằng cung cầu, làm cho sản
phẩm, dịch vụ ngày càng tốt hơn, giá ngày càng giảm.
vị trí cao nhất.
2.1.1.2 Khả năng và năng lực cạnh tranh
Trong cạnh tranh, nảy sinh ra kẻ có khả năng cạnh tranh mạnh, người
có khả năng cạnh tranh yếu hoặc sản phẩm có khả năng cạnh tranh mạnh, sản
phẩm có khả năng cạnh tranh yếu. Khả năng cạnh tranh đó gọi là năng lực
cạnh tranh hay sức cạnh tranh.
Theo lý thuyết tổ chức doanh nghiệp công nghiệp thì một doanh nghiệp
được coi là có sức cạnh tranh và đánh giá nó có thể đứng vững cùng với các
nhà sản xuất khác, với các sản phẩm thay thế, hoặc bằng cách đưa ra các sản
phẩm tương tự với mức giá thấp hơn cho sản phẩm cùng loại, hoặc bằng cách
cung cấp các sản phẩm có cùng đặc tính nhưng với dịch vụ ngang bằng hay
cao hơn.
Một sản phẩm muốn có vị trí vững chắc trên thị trường và muốn thị
trường của nó ngày càng mở rộng thì nó điểm mạnh và có khả năng để nâng
cao sức cạnh tranh của mình trên thị trường đó.
Năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp là thể hiện thực lực và lợi thế
Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Kinh tế
Page 8
của doanh nghiệp so với đối thủ cạnh tranh trong việc thõa mãn tốt nhất các
đòi hỏi của khách hàng để thu lợi nhuận ngày càng cao. Như vậy, năng lực
cạnh tranh của doanh nghiệp trước hết phải được tạo ra từ thực lực của doanh
nghiệp. Đấy là các yếu tố nội hàm của mỗi doanh nghiệp, không chỉ được tính
băng các tiêu chí về công nghệ, tài chính, nhân lực, tổ chức quản trị doanh
nghiệp… một cách riêng biệt mà đánh giá, so sánh với các đối thủ cạnh tranh
hoạt động trên cùng lĩnh vực, cùng một thị trường.
Có quan điểm cho rằng, năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp gắn liền
với ưu thế của sản phẩm mà doanh nghiệp đưa ra thị trường.
Có quan điểm gắn năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp với thị phần
mà nó nắm giữ, cũng có quan điểm đồng nhất của doanh nghiệp với hiệu quả
trên thị trường. Năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp dựa trên cơ sở chi phí
thấp, sản phẩm tốt, công nghệ cao. Một nhà sản xuất được gọi là nhà sản xuất
có khả năng cạnh tranh nếu có khả năng cung ứng sản phẩm chất lượng cao
với mức giá thấp hơn so với đối thủ cạnh tranh.
Năng lực cạnh tranh trong kinh doanh của doanh nghiệp là tổng hợp
các yếu tố để xác lập vị thế so sánh tương đối hay tuyệt đối, tốc độ tăng
trưởng, phát triển bền vững, ổn định của doanh nghiệp trong mối quan hệ so
sánh với các đối thủ cạnh tranh trên cùng một môi trường và thị trường cạnh
tranh xác định trong một khoảng thời gian nhất định.
- Năng lực cạnh tranh cấp sản phẩm
Theo quan niệm truyền thống, sản phẩm là tổng hợp các đặc tính lý
học, hoá học, sinh học… có thể quan sát được dùng để thoả mãn những nhu
cầu cụ thể của sản xuất hoặc đời sống.
Theo quan niệm marketing, sản phẩm là thứ có khả năng thoả mãn nhu
cầu mong muốn của khách hàng, cống hiến những lợi ích cho họ và có thể
đưa ra chào bán trên thị trường với khả năng thu hút chú ý, mua sắm và tiêu
dùng. Theo đó, một sản phẩm được cấu tạo và hình thành từ hai yếu tố cơ
bản: Yếu tố vật chất và yếu tố phi vật chất.
Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Kinh tế
Page 10
Một sản phẩm được coi là có sức cạnh tranh khi nó đáp ứng tốt các yếu
tố: Chất lượng sản phẩm, giá cả sản phẩm, thời gian giao hàng và dịch vụ có
sức cạnh tranh đáp ứng nhu cầu của khách hàng. Với sản phẩm thuần túy thì
không thể tự cạnh tranh với nhau, chỉ có sự cạnh tranh của các chủ thể thông
qua sản phẩm. Nghĩa là doanh nghiệp này cạnh tranh với doanh nghiệp khác,
quốc gia này cạnh tranh với quốc gia khác. Vì vậy, nghiên cứu khả năng cạnh
tranh của sản phẩm tức là đang gián tiếp nghiên cứu khả năng cạnh tranh của
doanh nghiệp.
Ba cấp độ này có mối liên quan mật thiết với nhau, phụ thuộc lẫn nhau.
Thức ăn chăn nuôi công nghiệp là thức ăn chăn nuôi được chế biến và
sản xuất bằng các phương pháp công nghiệp (trang thiết bị, máy móc, dây
chuyền, quy mô sản xuất lớn).
* Phân loại thức ăn chăn nuôi công nghiệp
Theo đối tượng vật nuôi:
- Thức ăn chăn nuôi cho lợn (lợn con, lợn thịt, lợn nái sinh sản)
- Thức ăn chăn nuôi gia cầm (gà, ngan, vịt)
- Thức ăn chăn nuôi bò (bò sữa, bò thịt)
- Thức ăn cho động vật thủy sản (tôm, cua, cá)
Theo dạng và cách sử dụng thức ăn:
- Thức ăn dạng bột
- Thức ăn dạng viên
- Thức ăn dạng mảnh
- Thức ăn dạng lỏng
- Thức ăn hỗn hợp hoàn chỉnh
- Thức ăn đậm đặc
Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Kinh tế
Page 12
* Công nghệ sản xuất TACN công nghiệp
chăn nuôi. Nếu như trước đây theo phương thức truyền thống, nguồn thức ăn
không đủ chất dinh dưỡng cần thiết cho sự phát triển của vật nuôi, thì ngày
nay, TACN công nghiệp không những đáp ứng đầy đủ các nhu cầu về dinh
dưỡng cho vật nuôi, mà còn tạo ra sự đột phá về khả năng phát triển mạnh,
nhanh cho ngành chăn nuôi. Nguồn thức ăn được chế biến theo nhu cầu dinh
dưỡng từng giai đoạn sinh trưởng và phát triển của vật nuôi đã tạo nên sự tăng
trưởng nhanh cho vật nuôi. Từ đó, ngành chăn nuôi cung cấp ngày càng nhiều
sản phẩm phục vụ đời sống con người.
TACN công nghiệp đã góp phần làm thay đổi tập quán chăn nuôi.
Từ chăn nuôi lạc hậu, nhỏ lẻ, không tập trung, tận dụng các phế phẩm, nguồn
nguyên liệu thừa của ngành chế biến, sinh hoạt, làm thức ăn sang chăn nuôi
mang tính công nghiệp, quy mô lớn và tập trung.
Ngoài việc rút ngắn chu kỳ chăn nuôi bằng tốc độ tăng trưởng nhanh
của vật nuôi, thì nhờ có TACN công nghiệp mà số lượng lao động sử dụng
trong ngành chăn nuôi giảm một cách đáng kể. Nếu như theo phương thức
truyền thống, thức ăn phải nấu chín, lượng thức ăn tiêu tốn nhiều hơn, mất
rất nhiều thời gian và công sức, thì ngày nay, khi sử dụng TACN công
nghiệp, lượng lao động và thời gian dùng cho việc chăn nuôi ít hơn nhiều,
lượng thức ăn tiêu tốn ít hơn nhưng lại cho hiệu quả chăn nuôi cao hơn.
Như vậy, năng suất lao động không chỉ tăng lên ở khối lượng sản phẩm tạo
ra mà còn tăng lên nhờ việc sử dụng ít công lao động hơn.
TACN công nghiệp còn góp phần chuyển dịch cơ cấu kinh tế. Nhờ có
TACN công nghiệp mà lực lượng lao động sử dụng trong ngành chăn nuôi
giảm nên đã tạo ra một nguồn nhân lực dự trữ cho các ngành khác như công
nghiệp và dịch vụ,
Ngoài ra, nó còn góp phần tạo ra sự cân bằng giữa cầu và cung về các
sản phẩm từ chăn nuôi. Ngành chăn nuôi phát triển tạo tiền đề cho ngành chế
biến phát triển mạnh và đa dạng hơn.
Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Kinh tế
Page 14
Page 15
nay, doanh nghiệp có được một khách hàng đã khó nhưng để giữ được khách
hàng còn khó hơn. Nâng cao khả năng cạnh tranh là làm cho khách hàng quay
lưng lại với sản phẩm của đối thủ cạnh tranh, làm cho họ tin rằng sản phẩm
của doanh nghiệp phù hợp với thị hiếu người tiêu dùng nhất, gieo vào trong
lòng khách hàng những niềm tin chỉ có như thế doanh nghiệp mới tồn tại và
phát triển bền vững.
Mỗi doanh nghiệp dù lớn hay nhỏ đều có những mục tiêu nhất định cho
từng thời kỳ. Tuỳ thuộc vào từng giai đoạn phát triển của doanh nghiệp mà
cần đặt ra những mục tiêu khác nhau. Nếu như giai đoạn mới bước vào kinh
doanh thì mục tiêu của doanh nghiệp là xâm nhập thị trường. Ở giai đoạn phát
triển mục tiêu của doanh nghiệp là đạt được lợi nhuận tối đa và tăng thị phần,
tạo uy tín và niềm tin cho khách hàng. Giai đoạn bão hòa doanh nghiệp phải
chiến đấu bảo vệ thị phần hiện có và cuối cùng thì giai đoạn suy thoái vẫn
đến. Vì vậy, trong giai đoạn này doanh nghiệp cần phải loại bỏ những sản
phấm cũ, loại bỏ những phần thị trường không hiệu quả. Doanh nghiệp phải
nghĩ đến việc đầu tư, nghiên cứu, thiết kế sản phẩm mới để sản phẩm có thể bị
suy thoái nhưng doanh nghiệp không bị suy thoái theo sản phẩm. Do đó, để đạt
được những mục tiêu của doanh nghiệp thì doanh nghiệp cần phải nâng cao
khả năng cạnh tranh, chỉ có nâng cao khả năng cạnh tranh mới buộc các doanh
nghiệp phải năng động sáng tạo, tìm ra những phương thức, biện pháp tốt nhất
để tạo ra sản phẩm mới, đạt chất lượng cao hơn, cung cấp những dịch vụ tốt
hơn đối thủ cạnh tranh, thoả mãn nhu cầu ngày càng tăng của khách hàng.
2.1.4 Các yếu tố cấu thành khả năng cạnh tranh
2.1.4.1 Chất lượng sản phẩm
Chất lượng sản phẩm là vấn đề rất quan trọng đối với tất cả các doanh
nghiệp.
Đứng trên những góc độ khác nhau và tùy theo mục tiêu, nhiệm vụ sản
xuất - kinh doanh mà các doanh nghiệp có thể đưa ra những quan niệm về
tranh. Bởi vì, với người mua, giá của các sản phẩm cạnh tranh là “giá tham