ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRUNG TÂM NGHIÊN CỨU TÀI NGUYÊN VÀ MÔI TRƯỜNG NGUYỄN THỊ PHƯƠNG ANH
PHÂN TÍCH HIỆN TRẠNG SỬ DỤNG TÀI NGUYÊN
RỪNG CỦA NGƯỜI DÂN TÁI ĐỊNH CƯ CÂN TÔM 2,
THỦY ĐIỆN A LƯỚI, THỪA THIÊN HUẾ
LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC MÔI TRƯỜNG
Hà Nội – Năm 2014
i
LỜI CẢM ƠN
Trong quá trình thực hiện luận văn với sự nỗ lực của bản thân cùng với sự giúp
đỡ của gia đình, thầy cô và bạn bè tôi đã hoàn thành luận văn tốt nghiệp của mình.
Trước hết, với lòng kính trọng và biết ơn sâu sắc, tôi xin bày tỏ lòng cảm ơn
chân thành tới: GS.TS. Lê Trọng Cúc đã trực tiếp hướng dẫn tôi rất tận tình, cho tôi
những kiến thức và kinh nghiệm quý báu, tạo điều kiện thuận lợi cho tôi trong quá
trình thực hiện và hoàn thành luận văn.
Tôi xin chân thành cảm ơn sự quan tâm, giúp đỡ quý báu của UBND xã Hồng
Thượng; Hạt Kiểm lâm huyện A Lưới; Ban Quản lý rừng phòng hộ huyện A Lưới;
Phòng Tài nguyên và Môi trường huyện A Lưới; Trưởng thôn, Bí thư và người dân
khu tái định cư Cân Tôm 2 đã tạo điều kiện thuận lợi cho tôi được học tập, nghiên
cứu, dạy cho tôi những kiến thức thực tiễn vô cùng bổ ích và hoàn thành luận văn
đúng thời hạn.
Xin chân thành cảm ơn các thầy, cô giáo Trung tâm nghiên cứu Tài nguyên và
Môi trường (CRES), các anh chị trong lớp Cao học K9 – Cres và gia đình đã nhiệt tình
giúp đỡ tôi trong quá trình thực hiện đề tài.
Do thời gian và trình độ còn nhiều hạn chế nên luận văn không tránh khỏi
những thiếu sót, rất mong được sự đóng góp ý kiến của quý thầy cô và các bạn để
luận văn được hoàn thiện hơn. Xin chân thành cảm ơn!
Hà Nội, ngày tháng năm 2014
TÁC GIẢ LUẬN VĂN
Nguyễn Thị Phương Anh
ii
LỜI CAM ĐOAN
1.2.1 Mục tiêu nghiên cứu 2
1.2.2 Đối tượng nghiên cứu 2
1.2.3 Phạm vi nghiên cứu 3
1.3 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn 3
1.4 Kết cấu luận văn 4
CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN 5
1.1 Các khái niệm cơ bản 5
1.1.1 Khái niệm tài nguyên rừng 5
1.1.2 Khái niệm về sản phẩm từ rừng 6
1.1.3 Khái niệm về tái định cư và tái định cư do thủy điện 8
1.1.4 Khái niệm về sinh kế 13
1.1.5 Tiêu chuẩn xác định hộ nghèo, hộ cận nghèo và hộ trung bình 14
1.2 Tình hình nghiên cứu về TĐC thủy điện trong nước 14
1.3 Tình hình nghiên cứu tại khu TĐC do thủy điện A Lưới 19
CHƯƠNG 2: ĐỊA ĐIỂM, THỜI GIAN VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 21
2.1 Địa điểm và thời gian nghiên cứu 21
2.1.1 Địa điểm nghiên cứu 21
2.1.1.1 Đặc điểm tự nhiên 21
2.1.1.2 Đặc điểm kinh tế - xã hội của địa bàn nghiên cứu 24
2.1.1.3 Hiện trạng TĐC tại thôn Cân Tôm 2 25
iv
2.2 Phương pháp nghiên cứu 27
2.2.1 Phương pháp luận 27
2.2.2 Phương pháp nghiên cứu 28
2.2.2.1 Thu thập tài liệu thứ cấp 28
2.2.2.2 Thu thập tài liệu sơ cấp 28
2.2.3 Phương pháp xử lý số liệu 33
CHƯƠNG 3: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU 34
3.1 Thực trạng tài nguyên rừng của huyện A Lưới 34
3.1.1 Đặc điểm tài nguyên rừng A Lưới qua các năm 34
vi
DANH MỤC CÁC BẢNG BIỂU
Bảng 2.1: Cơ cấu sử dụng đất của xã Hồng Thượng 23
Bảng 3.1: Diễn biến tài nguyên rừng A Lưới qua các năm 35vii
DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT
LSNG : Lâm sản ngoài gỗ
SL TB : Số lượng trung bình
SXNN : Sản xuất nông nghiệp
TĐC : Tái định cư
TNR : Tài nguyên rừng
UBND : Ủy ban nhân dân
bờ, trong khi năng suất rất thấp. Đất vườn thì cằn cỗi, toàn đá sỏi và trồng cây gì
cũng khó khăn. Đặc biệt, quá trình giao đất lâm nghiệp cho người dân còn gặp phải
những vướng mắc nên nhiều hộ vẫn chưa nhận được đất đền bù này. Một trong
những nguyên nhân là do mâu thuẫn, tranh chấp giữa chủ cũ và chủ mới của khu
2
đất. Khi đó, người dân khu TĐC quay lại phá rừng làm nương rẫy gây ảnh hưởng
nghiêm trọng đến tài nguyên rừng (TNR) của địa phương. Tình trạng này đang gây
ra những khó khăn ảnh hưởng đến đời sống của người dân nơi đây và TNR cũng
đang bị tàn phá từng ngày.
Vì vậy, tôi thực hiện đề tài: “Phân tích hiện trạng sử dụng tài nguyên rừng
của người dân tái định cư Cân Tôm 2, thủy điện A Lưới, Thừa Thiên Huế” nhằm
làm rõ những thuận lợi, khó khăn mà người dân địa phương trong quá trình sinh
sống tại khu TĐC và sử dụng TNR gặp phải để đề ra hướng giải quyết cụ thể. Qua
đó giúp cho cuộc sống của người dân ổn định và quản lý, sử dụng TNR một cách
hợp lý theo hướng phát triển bền vững.
1.2 Mục tiêu, đối tượng và phạm vi nghiên cứu
1.2.1 Mục tiêu nghiên cứu
* Mục tiêu chung:
Phân tích được hiện trạng sử dụng TNR của người dân TĐC Cân Tôm 2, thủy
điện A Lưới, Thừa Thiên Huế. Từ đó đưa ra một số giải pháp sử dụng và bảo vệ
TNR hiệu quả.
* Mục tiêu cụ thể:
- Tìm hiểu tình hình đời sống của người dân khu TĐC Cân Tôm 2
- Phân tích hiện trạng sử dụng TNR của người dân khu TĐC Cân Tôm 2
- Đề xuất một số giải pháp trong quản lý và sử dụng TNR hợp lý
1.2.2 Đối tượng nghiên cứu
Tập trung nghiên cứu các hộ dân chuyển đến khu TĐC Cân Tôm 2 có hoạt
động sinh kế liên quan đến TNR.
Nghiên cứu thực trạng sinh kế của người dân trước và sau khi xây dựng thủy
điện A Lưới. TNR đóng vai trò như thế nào trong sinh kế của người dân và hướng
thủy điện A Lưới và sử dụng của người dân. Đề tài phân tích những điểm mạnh,
điểm yếu, cơ hội và đe dọa trong quá trình sử dụng tài nguyên rừng của địa phương.
Từ đó tìm ra các giải pháp sử dụng và bảo vệ tài nguyên rừng hợp lý.
4
1.4 Kết cấu luận văn
Kết cấu bài luận văn gồm các phần cơ bản sau:
Mở đầu
Chương 1: Tổng quan vấn đề nghiên cứu
Chương 2: Địa điểm, thời gian, phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu
Chương 3: Kết quả nghiên cứu
Kết luận và kiến nghị
5
CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN
1.1 Các khái niệm cơ bản
1.1.1 Khái niệm tài nguyên rừng
Theo luật Bảo vệ và phát triển rừng năm 2004 thì Rừng được xem là một hệ
sinh thái bao gồm quần thể thực vật rừng, động vật rừng, vi sinh vật rừng, đất rừng
a) Vườn quốc gia;
b) Khu bảo tồn thiên nhiên bao gồm khu dự trữ thiên nhiên, khu bảo tồn loài -
sinh cảnh;
c) Khu bảo vệ cảnh quan gồm khu rừng di tích lịch sử, văn hoá, danh lam
thắng cảnh;
d) Khu rừng nghiên cứu, thực nghiệm khoa học;
3. Rừng sản xuất được sử dụng chủ yếu để sản xuất, kinh doanh gỗ, lâm sản
ngoài gỗ và kết hợp phòng hộ, góp phần bảo vệ môi trường, bao gồm:
a) Rừng sản xuất là rừng tự nhiên;
b) Rừng sản xuất là rừng trồng;
c) Rừng giống gồm rừng trồng và rừng tự nhiên qua bình tuyển, công nhận.
1.1.2 Khái niệm về sản phẩm từ rừng
* Gỗ: là vật liệu thiên nhiên được sử dụng khá rộng rãi trong xây dựng và
trong sinh hoạt vì những ưu điểm cơ bản sau: nhẹ, có cường độ khá cao, cách âm,
cách nhiệt và cách điện điện tốt; dể gia công (cưa, xẻ, bào, khoan…), vân gỗ có giá
trị mỹ thuật cao.
Ở nước ta, gỗ là vật liệu rất phổ biến. Rừng Việt Nam có nhiều loại gỗ tốt và
quý vào bậc nhất thế giới. Khu Tây Bắc có nhiều rừng già và có nhiều loại gỗ quý
như: trai, đinh, lim, lát, mun, pơmu. Rừng Việt Bắc có lim, nghiến, vàng tâm. Rừng
Tây Nguyên có cẩm lai, hương…
* Lâm sản ngoài gỗ (LSNG):
Hội nghị lâm nghiệp do Tổ chức Nông Lương Liên Hiệp Quốc triệu tập tháng
6 năm 1999 đã đưa ra và thông qua một khái niệm và định nghĩa về LSNG: “Lâm
sản ngoài gỗ (Non timber forest product) bao gồm những sản phẩm có nguồn gốc
sinh vật, khác gỗ, được khai thác từ rừng, đất có cây rừng (wooded lands) và cây ở
7
ngoài rừng”. Thuật ngữ này phải dịch sang Tiếng Việt là “Lâm sản ngoài gỗ cây”,
nhưng để đơn giản vẫn dùng thuật ngữ lâm sản ngoài gỗ (LSNG). Với định nghĩa
này, LSNG bao gồm cả động vật, gỗ nhỏ và củi và rộng hơn so với định nghĩa
trước. Trong tài liệu sách báo nước ngoài, hiện tại cả hai thuật ngữ NWFP và NTFP
- Nhóm LSNG dùng làm lương thực, thực phẩm và chăn nuôi.
- Nhóm LSNG dùng làm dược liệu.
- Nhóm LSNG dùng làm cảnh.
LSNG đa dạng về giá trị sử dụng do đó nó có vai trò quan trọng đối với đời
sống xã hội:
+ LSNG có tầm quan trọng về kinh tế và xã hội. Chúng có giá trị lớn và có thể
tạo ra nhiều công ăn việc làm.
+ LSNG có giá trị đối với sự giàu có của hệ sinh thái rừng. Chúng đóng góp
vào sự đa dạng sinh học của rừng. Chúng là nguồn gen hoang dã quý, có thể bảo tồn
phục vụ gây trồng công nghiệp.
+ LSNG hiện bị cạn kiệt cùng với sự suy thoái của rừng bởi ảnh hưởng của sự
tăng dân số, mở rộng canh tác nông nghiệp, chăn thả gia súc không kiểm soát, khai
thác gỗ, thu hái chất đốt.
1.1.3 Khái niệm về tái định cư và tái định cư do thủy điện
a. Tái định cư (TĐC)
Tái định cư là việc phải di chuyển đến một nơi khác để sinh sống, đây là thuật
ngữ chung liên quan tới bị thu hồi đất, mất đất, mất chỗ ở, mất tài sản, mất nguồn
thu nhập hay mất những phương tiện kiếm sống khác.
Theo khái niệm của Ngân hàng Phát triển Châu Á (1995), tái định cư được
phân loại dựa trên thiệt hại của người tái định cư [7]:
- Thiệt hại về tài sản sản xuất, bao gồm đất đai, thu nhập và đời sống.
- Thiệt hại về nhà ở, có thể là toàn bộ cộng đồng và các hệ thống, dịch vụ kèm theo.
- Thiệt hại về các tài sản khác.
- Thiệt hại về các nguồn tài nguyên của cộng đồng như môi trường sinh sống,
văn hóa và hàng hóa.
9
Ngoài ra, tái định cư còn được định nghĩa là quá trình trong đó con người tự
nguyện hay bị tác động, di chuyển từ địa bàn cư trú này sang địa bàn cư trú khác
trong một khoảng thời gian nhất định, có thể là tạm thời hay vĩnh viễn. TĐC là quá
đường giao thông, trạm y tế, trường học và các cơ sở hạ tầng khác. Trong khi đó
người dân sở tại chỉ được đền bù một phần đất mà chia sẻ cho người dân TĐC. Sự
chênh lệch về mức ưu đãi giữa hai nhóm người này nảy sinh mâu thuẫn giữa người
cũ và người mới đến, nhất là họ không cùng dân tộc.
- Hình thức di dân tập trung: Là hình thức đưa một số lượng người dân bị ảnh
hưởng từ (25 – 30 hộ) đến một nơi ở mới mà hầu như chưa có cơ sở hạ tầng và chưa
có người dân sở tại sinh sống, hoặc nếu có thì cũng chiếm một tỷ lệ rất nhỏ. Hình
thức này có ưu điểm là hoàn toàn chủ động trong việc quy hoạch bố trí dân cư phù
hợp với quy mô, nguyện vọng của người dân và yêu cầu xây dựng khu kinh tế mới.
Nhưng hình thức này khó khăn là phải đầu tư lớn cho công tác khảo sát điều kiện tự
nhiên, quỹ đất, nước,… và đặc biệt là đầu tư cho xây dựng cơ sở hạ tầng. Một khó
khăn nữa là định hướng phát triển kinh tế xã hội hoàn toàn mới, về lựa chọn giống
cây trồng, vật nuôi sao cho phù hợp với điều kiện tại đây [4].
- Hình thức di dân tự chọn: Là hình thức mà các hộ phải di chuyển được nhận
toàn bộ tiền đền bù, sau đó họ tự lo kiếm nơi ở mới và các sinh kế cho mình. Hình
thức này ít được khuyến khích với cộng đồng dân tộc vùng sâu, vùng xa do hiệu
quả đạt được thấp.
b. Tái định cư do thủy điện
Di dân TĐC trong các công trình thuỷ điện thường là di dân bắt buộc để giải
phóng mặt bằng, thi công công trình thuỷ điện. Các công trình thuỷ điện đều mang
tính quan trọng quyết định đối với sự phát triển của địa phương, khu vực và quốc
gia. Tuy nhiên, chúng cũng làm nảy sinh mâu thuẫn giữa mục đích phát triển quốc
gia lâu dài với quyền lợi của các cộng đồng và cá nhân - những người chịu bất lợi
trước tiên. Các dự án này đều có thể tác động bất lợi tới những người đang sử dụng
các nguồn tài nguyên như đất đai, nguồn nước hay các loại tài nguyên thiên nhiên
khác và các phương tiện kinh tế, xã hội, văn hoá và tôn giáo liên quan.
Điều quan trọng là phải cân nhắc lợi ích đạt được với cái giá phải trả cho các
ảnh hưởng này bằng cách xem xét các phương án triển khai hoặc không phải di dân,
11
hoặc chỉ gây gián đoạn nhỏ về kinh tế - xã hội và tìm ra cách để hoà hợp những
dân chuyển cư có cuộc sống tốt hơn nơi cũ, đây là quan điểm nhất quán của chính
phủ cho mọi dự án phát triển có liên quan tới TĐC bắt buộc hiện nay [15].
- Tái định cư phải đảm bảo tính cộng đồng
Đồng bào các dân tộc ở miền núi có tính cộng đồng rất cao. Mỗi người, mỗi
gia đình đều gắn bó với dòng tộc, làng bản của mình. Khi di chuyển TĐC cần chú ý
bố trí cả cộng đồng (làng, bản, dòng họ,…) đến sống ở cùng một địa điểm. Hạn chế
việc tách rời các hộ, các nhóm hộ hiện nay.
12
Việc xác định chính xác và số lượng dân bị ảnh hưởng TĐC của dự án là một
trong những yêu cầu quan trọng của dự án TĐC. Các yếu tố ảnh hưởng chính là tỷ
lệ tăng dân số và tính bảo toàn cộng đồng đã được chú ý đến. Tất cả các bản chỉ
ngập một phần đều được tính đến tính bảo toàn cộng đồng.
- Tái định cư cho các hộ nông nghiệp phải dựa trên cơ sở đất sản xuất
Nhân dân phải di chuyển hầu hết là dân nông nghiệp, với hộ sản xuất khi bị
TĐC bắt buộc nếu không có đủ đất sản xuất thì không thể phục hồi được thu nhập,
không đảm bảo được cuộc sống.
Khi lập phương án TĐC phải dựa trên cơ sở tiềm năng đất đai để phù hợp với
đặc điểm của cộng đồng bị ảnh hưởng và là yếu tố cơ bản quyết định tính thực thi
của dự án TĐC, phương châm TĐC cho các hộ nông nghiệp là “đất đổi đất” có
nghĩa là các khu vực TĐC phải khai thác đầy đủ đất sản xuất giao cho các hộ TĐC
đảm bảo về số lượng và chất lượng. Việc khai thác đất sản xuất có thể bằng hình
thức khai hoang, cải tạo hoặc trưng dụng lại đất của nông dân sở tại.
- Quy hoạch tái định cư phải phù hợp với chiến lược phát triển kinh tế - xã
hội của địa phương
Để có tính khả thi cao, phương án TĐC phải được lồng ghép phù hợp với định
hướng phát triển kinh tế - xã hội của địa phương. Việc bố trí dân cư TĐC phải phục
vụ cho việc hình thành các vùng kinh tế trong điểm và kế hoạch sắp xếp, ổn định
dân cư trên địa bàn, kế hoạch TĐC cũng cần phải phù hợp với kế hoạch phát triển
cơ sở hạ tầng của địa phương nhằm khai thác triệt để các tiềm năng sẵn có cho phát
triển kinh tế - xã hội nói chung và TĐC nói riêng.
kiếm thu nhập khác nhau và đạt những mục tiêu kế sinh nhai của họ. Ở mức độ gia
đình nguồn nhân lực được xem là số lượng và chất lượng nhân lực có sẵn.
- Nguồn lực xã hội: là những nguồn lực định tính dựa trên những gì mà con
người đặt ra để theo đuổi mục tiêu kế sinh nhai của họ. Chúng bao gồm uy tín của
hộ, các mối quan hệ xã hội của hộ.
14
- Nguồn lực tự nhiên: là cơ sở các tài nguyên thiên nhiên của hộ hay của cộng
đồng, được trông cậy vào để sử dụng cho mục đích sinh kế như đất đai, nguồn
nước, cây trồng, vật nuôi, mùa màng
- Nguồn lực vật chất: bao gồm tài sản hộ gia đình hỗ trợ cho sinh kế như nhà
ở, các phương tiện sản xuất, đi lại, thông tin
- Nguồn lực tài chính: là những gì liên quan đến tài chính mà con người có
được như: nguồn thu nhập tiền mặt, tiền tiết kiệm, tín dụng và các nguồn khác như
lương bổng, nguồn hỗ trợ, viện trợ từ bên ngoài cho hộ gia đình và cho cộng đồng.
Chiến lược sinh kế cộng đồng cũng dựa trên năm loại nguồn lực trên nhưng
mang ý nghĩa rộng hơn cho cả cộng đồng, đó là số lượng và chất lượng nguồn nhân
lực của cộng đồng; thể chế chính trị, phong tục, tập quán, uy tín của cả cộng đồng;
điều kiện tự nhiên của địa bàn cộng đồng sinh sống; các cơ sở hạ tầng xã hội hỗ trợ
cho sinh kế như giao thông, hệ thống cấp nước, hệ thống ngăn, tiêu nước, cung cấp
năng lượng, thông tin
1.1.5 Tiêu chuẩn xác định hộ nghèo, hộ cận nghèo và hộ trung bình
Hộ nghèo và hộ cận nghèo được xác định căn cứ theo Quyết định số
09/2011/QĐ-TTg ngày 30/01/2011 của Thủ tướng Chính phủ về việc “Ban hành
chuẩn hộ nghèo, hộ cận nghèo áp dụng giai đoạn 2011 – 2015” như sau [13]:
- Hộ nghèo ở nông thôn là hộ có mức thu nhập bình quân từ 400.000
đồng/người/tháng (từ 4.800.000 đồng/người/năm) trở xuống.
- Hộ nghèo ở thành thị là hộ có mức thu nhập bình quân từ 500.000
đồng/người/tháng (từ 6.000.000 đồng/người/năm) trở xuống.
- Hộ cận nghèo ở nông thôn là hộ có mức thu nhập trung bình từ 401.000 đồng
đến 520.000 đồng/người/tháng.
tục và tập quán canh tác của đồng bào dân tộc vùng Tây Bắc”. Đề tài đã chỉ ra sự
thay đổi về phong tục và tập quán canh tác của đồng bào dân tộc bị ảnh hưởng bởi
các chương trình TĐC. Người dân khi đến định cư tại điểm TĐC mới trên địa bàn
huyện Tủa Chùa và thị xã Mường Lay phải làm quen với phương thức canh tác mới
không phù hợp với tập quán canh tác tại nơi ở cũ. Tại điểm TĐC huyện Tủa Chùa
16
hình thức canh tác chủ yếu là nương rẫy cố định với rất ít diện tích đất sản xuất,
bình quân mỗi hộ, song dân TĐC ở đây lại có tập quán là canh tác nương rẫy luân
canh quay vòng. Tại khu TĐC thị xã Mường Lay hình thức canh tác nương rẫy cố
định là chính, không có đất chuyên lúa, song dân TĐC tại đây lại có tập quán canh
tác lúa nước, có sự thâm canh cao. Cấu trúc bản làng đã bị thay đổi giữa khu vực
TĐC với khu vực dân cư phải di chuyển, cụ thể trong khu TĐC Huổi Lóng, Huổi
Lực huyện Tủa Chùa và khu TĐC thị xã Mường Lay các hộ dân tập trung hơn.
Hình thức di dân tại chỗ tại điểm TĐC Huổi Lóng huyện Tủa Chùa được xem là
phù hợp với tập quán canh tác của người dân nơi đây vì đa phần nương rẫy cố định
và đất phục vụ cho canh tác du canh vẫn còn nguyên vẹn, tuy nhiên cuộc sống nhìn
chung vẫn còn rất khó khăn [10].
Đề tài “TĐC và sự biến đổi dời sống người Mã Liềng” (Nghiên cứu trường
hợp bản TĐC Cà Xen, xã Thanh Hóa, huyện Hướng Hóa, tỉnh Quảng Bình) (năm
2011) của Phạm Thị Hường. Đề tài đã làm rõ được một số vấn đề thay đổi trong đời
sống của người Mã Liềng, TĐC đã tạo ra những tác động trên tất cả các lĩnh vực từ
những cái có thể đo lường, định lượng được như sở hữu đất đai, SXNN, trao đổi
buôn bán, khai thác tài nguyên đến những cái không thể định lượng được như đời
sống cộng đồng, quan hệ tộc người, phong tục tập quán, tín ngưỡng và cả hệ thống
cơ sở hạ tầng. Thay đổi được phương thức canh tác từ chỗ canh tác nương rẫy sang
làm lúa nước và vườn hộ, từ chỗ chăn nuôi hoang dã sang chăn nuôi chuồng trại. Từ
chỗ phó mặc và bất lực trước bệnh tật của gia súc, gia cầm bà con đã có những hoạt
động chăm sóc theo kỹ thuật. Tuy nhiên, bên cạnh những biến đổi mang tính tích
cực vẫn còn tồn tại những yếu tố mang tính tiêu cực, đặc biệt là những biến đổi
trong đời sống văn hóa – xã hội, trong đó nổi bật lên là những quan hệ cộng đồng,