Báo cáo Đào tạo kỹ năng hỗ trợ phát triển cộng đồng nghèo cho sinh viên ngành công tác xã hội ở Việt nam - Pdf 28

1

ĐÀO TẠO KỸ NĂNG HỖ TRỢ PHÁT TRIỂN CỘNG ĐỒNG NGHÈO CHO
SINH VIÊN NGÀNH CÔNG TÁC XÃ HỘI Ở VIỆT NAM

TS. Tống Văn Chung
- Khoa Xã hội học
- Trường ĐH KH XH&NV
- Đại học Quốc gia Hà Nội.
- Mobile: (+84) 912 321 644
- Email:
1. Đặt vấn đề
Xóa đói, giảm nghèo là một chủ trương lớn của Đảng, Nhà nước Việt Nam nhằm cải
thiện đời sống vật chất và tinh thần của người nghèo, góp phần thu hẹp khoảng cách
chênh lệch về mức sống giữa nông thôn và thành thị, giữa các vùng, các dân tộc và các
nhóm dân cư; đồng thời thể hiện quyết tâm trong việc thực hiện Mục tiêu thiên niên kỷ
của Liên hợp quốc mà Việt Nam đã cam kết.
Giảm nghèo là một quá trình rất lâu dài, bền bỉ, không thể nóng vội một sớm một
chiều. Giảm nghèo phải phụ thuộc vào điều kiện kinh tế của đất nước để đưa ra những
giải pháp phù hợp. Việt Nam đã qua 6 lần điều chỉnh chuẩn nghèo, theo hướng hỗ trợ
ngày càng tốt hơn điều kiện sống của người dân, cùng với việc tổ chức thực hiện có hiệu
quả các chính sách, chương trình, dự án giảm nghèo, thành tựu giảm nghèo của Việt Nam
được cộng đồng quốc tế đánh giá cao.
Năm 1998, Thủ tướng Chính phủ đã ban hành Quyết địính số 135/1998/QĐ-TTg
ngày 31/7/1998 phê duyệt Chương trình phát triển kinh tế - xã hội các xã đặc biệt khó
khăn miền núi, vùng sâu, vùng xa. Năm 1999, Thủ tướng Chính phủ đã phê duyệt danh
sách 1.870 xã đặc biệt khó khăn và các xã biên giới làm phạm vi của Chương trình 135
1
.
Sau đó, Chính phủ Việt Nam đã xác định có 1.946 xã và 3.149 thôn, buôn, làng, bản, xóm
ấp đặc biệt khó khăn thuộc các xã khu vực II thuộc 45 tỉnh, thành được đưa vào phạm vi

vẫn còn nhiều khó khăn, nhất là ở khu vực miền núi, vùng cao, vùng đồng bào dân tộc
thiểu số. Hội nghị Các đối tác đầu tư nước ngoài CG 2011 đã bày tỏ quan ngại khi có gần
một nửa trong số những đối tượng được coi là "nghèo kinh niên” (47,3%) của Việt Nam
là những nhóm dân tộc thiểu số, và con số này đang tăng: 63% những đối tượng nghèo
nhất là đồng bào dân tộc thiểu số
5
.
Năm 2009 Việt Nam còn 1140 xã thuộc diện135 và 3149 thôn đặc biệt khó khăn
cần được hỗ trợ đầu tư để vươn lên thoát nghèo
6
. Chính phủ Việt Nam chủ trương và
thực hiện mục tiêu “Giảm nghèo bền vững là một trọng tâm của Chiến lược phát triển
kinh tế - xã hội 2011 - 2020 nhằm cải thiện và từng bước nâng cao điều kiện sống của
người nghèo, trước hết là ở khu vực miền núi, vùng đồng bào dân tộc thiểu số; tạo sự
chuyển biến mạnh mẽ, toàn diện ở các vùng nghèo; thu hẹp khoảng cách chênh lệch giữa
thành thị và nông thôn, giữa các vùng, các dân tộc và các nhóm dân cư”
7
.
Từ thực tiễn cho thấy: Hỗ trợ cộng đồng nghèo phát triển là nhiệm vụ đặt ra cho toàn
bộ xã hội, trong đó gồm cả những người làm nghề CTXH.
Thực tiễn đặt ra nhiệm vụ cho sự nghiệp đào tạo nhân lực CTXH là cung cấp những
tri thức kỹ năng, rèn luyện phẩm chất sao cho những người làm nghề CTXH để họ có thể
tiếp cận, trợ giúp, hỗ trợ các cộng đồng nghèo phát huy mọi nguồn lực (trong và ngoài
cộng đồng) vươn lên thoát nghèo, phát triển bền vững.
Vậy làm thế nào nâng cao kiến thức, năng lực phát triển cộng đồng cho nhân viên
CTXH? Mục đích bài viết này hướng đến việc tìm kiếm câu trả lời cho câu hỏi đó.
2. Phát triển cộng đồng – một phương pháp quan trọng đối với việc hỗ trợ phát triển
cho các cộng đồng nghèo ở Việt Nam hiện nay.
Phát triển cộng đồng là một phương pháp của công tác xã hội được xây dựng trên
những nguyên lý, nguyên tắc và giả định của nhiều ngành khoa học xã hội khác nhau như

hiệu theo cách của họ. Để đánh giá đúng tình trạng nghèo đói của cộng đồng. Nhờ đó sẽ
phân tích nguyên nhân của tình trạng nghèo ở cộng đồng để đưa ra các đề xuất cho các
chương trình và chính sách giảm nghèo liên quan.
Hai là, lập kế hoạch phát triển cộng đồng có sự tham gia của người dân nhằm giúp
người dân tiếp cận các tiềm năng, khắc phục các khó khăn, rào cản, tìm kiếm các giải
pháp phù hợp dựa vào kiến thức của người dân, từ đó xây dựng các kế hoạch phát triển
ngắn hạn, trung hạn, dài hạn ở ngay cộng đồng cho phù hợp với định hướng phát triển
kinh tế xã hội của địa phương;
Ba là, xây dựng cơ chế, phương pháp giám sát và đánh giá sự thực hiện kế hoạch
phát triển cộng đồng có sự tham gia của người dân một cách trực tiếp hoặc gián tiếp thông
qua người đại diện.
Bốn là, tăng năng lực của cộng đồng thông qua tăng nội lực và giúp cộng đồng tự
lực phát triển để cộng đồng nhận thức rõ những nguồn lực, sử dụng, bồi bổ những nguồn
lực cộng đồng đang có một cách hợp lý nhất cho phát triển, như:
- Nguồn nhân lực (sức khoẻ, kiến thức, tay nghề, kinh nghiệm, . . . của những lao
động chính trong cộng đồng),
- Nguồn tài nguyên thiên nhiên mà cộng đồng hiện có, sử dụng để phát triển bền
vững thông qua việc sử dụng hợp lý nguồn tài nguyên;
- Chú trọng đến nhu cầu và việc trang bị kiến thức, kỹ thuật (còn thiếu, yếu) cho
người dân giúp họ tìm kiếm và sử dụng nguồn tài nguyên mới có thể vừa phục vụ
cho quá trình phát triển của cộng đồng vừa tạo ra tính bền vững cho phát triển
của chính cộng đồng.
- Phát triển cộng đồng giúp người dân hiểu về thực trạng, khả năng khai thác sử
dụng tối ưu cơ sở hạ tầng, dự kiến xây dựng công trình hạ tầng mới một cách hợp
lý nhất.
- Việc tổ chức, huy động nguồn tài chính từ (nội bộ, trong cộng đồng và từ hỗ trợ
bên ngoài) được lập ra từ chính người dân trong cộng đồng đó có ý nghĩa hết sức
quan trọng, nó cho phép cộng đồng tự chủ trong tổ chức hoạt động cuat mình
một cách hợp lý nhất, tối ưu và tiết kiệm.
- Mối quan hệ xã hội của các thành viên trong cộng đồng có ảnh hưởng lớn tới quá

cộng đồng. Ưu điểm của phương pháp PRA so với các phương pháp khác là người dân tại
cộng đồng tự phân tích thực tế nhu cầu và đời sống của họ.
Đánh giá nông thôn có sự tham gia của cộng đồng (PRA/RRA) là một phương pháp
điều tra để học hỏi và cùng với các thành viên cộng đồng tìm hiểu, phân tích và đánh giá
các khó khăn, thuận lợi đồng thời đưa ra các giải pháp, quyết định kịp thời nhằm giải
quyết các khó khăn của cộng đồng.
3.1.1. Cung cấp kỹ năng thiết kế PRA trong giảng dạy CTXH.
Đội thực hiện PRA (team) thường có những chuyên gia các ngành chuyên môn liên
quan đến lĩnh vực phát triển của cộng đồng (thường từ 3 đến 6 thành viên). Trong qua
trình thực hiện PRA có sự kết hợp của đội này với người dân tham gia bên trong cộng
đồng (thường cân bằng về giới), đại diện (những người am hiểu) của cộng đồng. Điều này
đòi hỏi nhân viên CTXH cần trang bị tri thức để có thể vận động, thiết lập đội PRA, tổ
chức triển khai từng mục tiêu, kế hoạch hoạt động hỗ trợ phát triển cộng đồng.
3.1.2. Sử dụng các phương pháp thu thập thông tin, lập kế hoạch phát triển của
cộng đồng có sự tham gia của người dân trong giảng dạy CTXH.
Để có cơ sở thiết lập (xây dựng) kế hoạch phát triển, lựa chọn các kịch bản phát
triển, cần thu thập thông tin một cách toàn diện, cơ bản từ bên trong và bên ngoài cộng
đồng. Việc thu thập thông tin định lượng và thông tin định tính đó cần sử dụng một loạt
các phương pháp khác nhau được vận dụng trong PRA, như:
- Quan sát hiện trường.
- Thu thập thông tin thứ cấp (tài liệu thống kê, báo cáo, sổ sách lưu trữ, ,
kể cả thơ ca, văn hóa của cộng đồng).
5

- Phỏng vấn sâu cá nhân.
- Phỏng vấn trường hợp điển hình (điển cứu)
- Thảo luận với những người am hiểu đại diện cộng đồng về những vấn đề
quan tâm.
- Thảo luận nhóm và các công cụ (methods) hỗ trợ được tiến hành với
nhóm.

cần chuẩn bị các phương tiện (bìa, bút hoặc các vật dụng địa phương phù hợp); mời một
nhóm đối tượng liên quan trực tiếp đến vấn đề cần thảo luận (từ 6 đến 12 người), nhóm
này đại diện cho cộng đồng. Các bước tiến hành mà nhân viên CTXH cần biết đến:
- Khoanh một vòng tròn lớn tượng trưng cho vấn đề/ hoạt động được quan tâm (
nghèo, giảm nghèo); Đề nghị người dân tham dự tự thảo luận và liệt kê các tổ
chức/ cá nhân có liên quan đến hoạt động giảm nghèo. Các tổ chức/ cá nhân này
6

được ghi trên tấm bìa có kích cỡ, màu sắc khác nhau hoặc sử dụng đồ vật sẵn có
như ấm, chén khay nước… (kích cỡ của tổ chức/ cá nhân minh hoạ sự tham gia/
ảnh hưởng của tổ chức/ cá nhân ấy vào hoạt động phát triển kinh tế, xóa và giảm
nghèo);
- Xác định mối quan hệ giữa các tổ chức, cá nhân tham gia/ ảnh hưởng đến hoạt
động/ vấn đề xóa đói giảm nghèo, phát triển sản xuất, phát triển kinh tế;
- Luôn đặt câu hỏi và yêu cầu người tham dự giải thích về sự tham gia/ ảnh hưởng
của các tổ chức/ cá nhân vào hoạt động xóa đói, giảm nghèo, phát triển kinh tế địa
phương.
- Để người tham dự nêu những đề xuất, giải pháp thực hiện theo họ đem lại hiệu quả
nhất.
3.1.3.2. Biểu đồ (lịch) mùa vụ.
Sử dụng để tìm hiểu các sự việc, hoạt động thay đổi theo thời gian trong năm như
sản xuất nông nghiệp (cây trồng, vật nuôi, mùa hoa quả, mùa thu hoạch, mùa có thu nhập
cao, mùa thiếu đói), y tế-sức khoẻ (mùa bệnh, thời gian sinh con nhiều, thời gian phụ nữ
thường mang thai, thời gian phụ nữ thường mệt mỏi, bệnh tật), giáo dục (niên học, thời
gian bận của học sinh tại trường), xã hội (mùa cưới hỏi, mùa lễ hội, mùa làm nhà,…), v.v.
Tức những nhân tố tác động đên quá trình giảm nghèo. Nhờ nó, sẽ tăng cường cơ hội để
người dân tham gia vào quá trình tự đánh giá, tìm hiểu vấn đề sản xuất, thời vụ, của chính
bản thân họ, tìm ra những cơ hội tăng sản xuất, tăng thu nhập.
Sinh viên cần nắm được yêu cầu cho việc chuẩn bị như:
- Chuẩn bị nguyên liệu (giấy bút hoặc các nguyên liệu sẵn có);

như: Viết vấn đề (nghèo) lên một tấm bìa đặt ở giữa; sau đó hỏi về các nguyên nhân gây
ra vấn đề này; viết mỗi nguyên nhân lên một tấm bìa đặt ở dưới vấn đề cần quan tâm; tổ
chức thảo luận và xếp các vấn đề lần lượt theo thứ tự: 1. Nguyên nhân trực tiếp ở ngay
dưới vấn đề; 2. Nguyên nhân gián tiếp ở dưới nguyên nhân trực tiếp. Yêu cầu những
người tham gia nêu nguyên nhân giải thích mối quan hệ giữa nguyên nhân và vấn đề quan
tâm (nghèo). Các thành viên khác bổ sung ý kiến. Sau khi thống nhất thì vẽ các mũi tên
chỉ mối quan hệ nguyên nhân đến vấn đề; Yêu cầu nhóm cho biết hậu quả của vấn đề, mỗi
hậu quả được viết lên một tấm bìa và xếp các hậu quả lên phía trên vấn đề (Hậu quả trực
tiếp xếp ngay trên vấn đề, hậu quả gián tiếp xếp trên hậu quả trực tiếp, ).
3.1.3.5. Xếp hạng ưu tiên. Xếp hạng ưu tiên nhằm xác định thứ tự các vấn đề cần
giải quyết trước theo trình tự nhất định từ góc nhìn của cộng đồng khi nguồn lực còn có
hạn có hạn.
Trong đào tạo, sinh viên CTXH cũng cần được chỉ ra các kỹ thuật để thực hiện xếp
hạng ưu tiên như: Chuẩn bị phương tiện (bút, giấy lớn, hoặc các vật dụng sẵn có phù
hợp); Chuẩn bị nhóm người dân tham gia; Lựa chọn địa điểm, thời gian. Các kỹ thuật để
tiên hành xếp hạng ưu tiên như: liệt kê các vấn đề cần xếp hạng ưu tiên; xác định các tiêu
chuẩn để xếp hạng; thống nhất cách chấm điểm cho từng tiêu chuẩn (nên lấy số điểm
bằng số vấn đề và không cho điểm hai vấn đề bằng nhau); tiến hành chấm điểm cho các
vấn đề cần xếp hạng ưu tiên, Cuối cùng cần biết đặt ra các câu hỏi yêu cầu những
người tham gia phải giải thích rõ tại sao họ cho điểm như thế với từng tiêu chuẩn; cộng
tổng điểm và xếp hạng ưu tiên. Thảo luận và lựa chọn vấn đề để lên kế hoạch phát triển
kinh tế-xã hội của cộng đồng.
Trên đây là sơ lược những kỹ năng cơ bản của PRA cần phải trang bị cho người học
CTXH. Điều này có thể được truyền tải đến sinh viên theo nhiều cách thức khác nhau: lên
lớp và thực hành, tham gia thực hiện với một nhóm thực hiện PRA trong các đợt thực tập
phương pháp chuyên ngành CTXH, tổ chức sinh hoạt khoa học theo các câu lạc bộ, tập
huấn chuyên đề về phương pháp CTXH, .v.v
3.2. Trang bị tri về “phát triển cộng đồng dựa trên nguồn lực sẳn có” (Asset-Based
Community Development – ABCD) cho sinh viên CTXH.
Việc thâm nhập, tìm hiểu và trợ giúp cộng đồng nghèo tìm sinh kế và cơ hội phát

4. Ưu tiên cho những nỗ lực hợp tác phát triển mà có thể sử dụng tốt nhất những
nguồn vốn có sẵn của chính cộng đồng đó
5. Nỗ lực củng cố xã hội công dân bằng cách tập trung và tạo điều kiện cho người
dân tham gia với tư cách là công dân thay vì là những khách hàng trong sự phát
triển cộng đồng của chính họ, làm cho chính quyền địa phương hoạt động có hiệu
quả và nhanh nhạy hơn.
3.2.2. Đào tạo các phương pháp trong ABCD.
Một nhóm các phương pháp có thể được sử dụng nhằm đạt được mục tiêu “cộng đồng
tự phát triển cộng đồng” cũng cần được truyền đạt trình bày với người học CTXH. Cụ thể
là:

9
ThS. Chu
Dũng_SDRC. Phương pháp tiếp cận ABCD – một cách nhìn mới trong phát triển cộng đồng,

Mai Linh. Phát triển Cộng đồng dựa vào tài sản và nguồn lực của Cộng đồng như là một chiến lược cho
việc thúc đẩy người dân phát triển.

Linh Chi. ABCD - Dựa vào nguồn lực cộng đồng. Bản tin số 07/2011 (201),

10
/>2008&catid=37:education&Itemid=58&lang=vi
9

3.2.2.1. Truyền đạt các kỹ năng thu thập các câu chuyện thành công của cộng đồng
cho sinh viên. Điều này cần thiết để người học biết bắt đầu xây dựng lòng tự tin cho cộng
đồng.
Những hoạt động thảo luận và phỏng vấn thân mật để rút ra những câu chuyện,
những hoạt động thành công trong kinh nghiệm của họ sẽ giúp làm sáng tỏ những tài
năng, những năng lực và nguồn vốn mà họ đang có. Kết quả là không chỉ giúp họ phát

trong đó liệt kê các khả năng này theo nhóm (như “nhóm các kĩ năng về xây dựng
cộng đồng”, “nhóm các kĩ năng về kinh doanh”, “nhóm các kĩ năng về dạy học”,
“nhóm các kĩ năng về văn hóa-nghệ thuật”. ).
3.2.4. Cần truyền đạt cho sinh viên cách xác định các nguồn lực của các tổ chức ở
địa phương. Các tổ chức này bao gồm các cơ quan của chính phủ, các tổ chức phi chính
phủ và các thành phần doanh nghiệp tư nhân.
10
Xác định nguồn vốn của các đối tượng này có thể là các dịch vụ và những
chương trình, nơi hội họp, thiết bị và những trang bị khác mà họ có thể cung cấp,
hoặc những mối quan hệ mà họ có thể có
Xác định nguồn tài nguyên thiên nhiên. Cần xác định những nguồn nào thuộc
quyền sử hữu và quản lí của cộng đồng và của riêng các cá nhân. Nhờ vào các công
cụ của PRA có thể tìm kiếm được những thông tin này.
3.2.5. Trình bày cho sinh viên cơ sở lý luận và kỹ thuật trợ giúp người dân về việc
lập bản đồ kinh tế địa phương .
Bài tập này giúp người dân trong cộng đồng hiểu được kinh tế ở địa phương họ
đang diễn ra như thế nào, nó chỉ ra cho họ thấy những tài nguyên địa phương được
tận dụng tối đa như thế nào để phục vụ cho lợi ích của địa phương, những sản phẩm
hoặc dịch vụ mua từ bên ngoài có thể được sản xuất tại địa phương hay không.
3.2.6. Giảng và tập huấn kỹ thuật cho sinh viên cách hướng dẫn người dân tập họp
nhóm đại diện lớn để xây dựng kế hoạch và viễn cảnh tương lai cho cộng đồng, tìm kiếm
phương thức sử dụng những nguồn lực một cách tốt nhất, trúng và đúng theo kế hoạch đã
được vạch ra của cộng đồng. Cách hướng dẫn xác định một khởi đầu được lựa chọn theo
kế hoạch phát triển để cho cộng đồng bắt tay vào hoạt động ngay. Hoạt động đó được xác
định cụ thể:
- Làm gì, làm như để thành công, thành công sẽ như thế nào?
- Làm như thế có khả thi với những nguồn lực mà cộng đồng có?
- Liệu có thể tập họp mọi người lại với nhau và củng cố sức mạnh của cộng
đồng?
- Quá trình này được kiểm soát như thế nào?

việc giảng dạy PRA cho sinh viên CTXH là nhiệm vụ cấp bách và lâu dài.
3. Phát triển cộng đồng bắt đầu từ chính cộng đồng, bằng sự phát huy tất cả nguồn lực
sẵn có của cộng đồng, do đó nắm bắt được phương pháp ABCD là một đòi hỏi đối với
người học nghề CTXH. Sự phát triển kinh tế-xã hội đặt ra nhiệm vụ trang bị cho sinh
viên CTXH những phương pháp, kỹ năng, kỹ thuật tiến tiến của “nghề” để khi ra
trường họ có thể vận dụng, hỗ trợ cộng đồng nghèo phát huy mọi nguôn lực săn có,
huy động sức mạnh tiềm ẩn trong cộng đồng để tự vươn lên thoát nghèo của họ.
4. Giảng dạy, truyền đạt những phương pháp của PRA và ABCD trong đào tạo CTXH ở
khoa XHH hiện nay trở thành một nhu cầu, nhiệm vụ cấp bách. Sự tổ chức, triển khai
thực hiện đào tạo này chính là sự hiện đại hóa, sự cập nhật tri thức CTXH trong đào
tạo ở Việt Nam hiện nay.
Mùa Xuân, tháng Hai 2012


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status