ĐỀ TÀI: Ứng dụng đổi mới sinh hoạt chuyên môn theo nghiên cứu bài học
ở Tổ Văn, Sử, Địa, GDCD (Trường THCS Ngô Mây – Quy Nhơn)
MỤC LỤC
PHẦN NỘI DUNG Trang
Phần A
MỞ ĐẦU
I- Đặt vấn đề:
II- Phương pháp tiến hành:
3
7
Phần B
NỘI DUNG
I- Mục tiêu: Nhiệm vụ của đề tài:
II. Mô tả giải pháp:
1- Thuyết minh tính mới:
1.1. Nội dung giải pháp:
1.2. Điểm mới:
2. Khả năng áp dụng:
3. Lợi ích kinh tế - xã hội:
13
13
13
13
49
52
57
Phần C
KẾT LUẬN
65
Tài liệu tham
khảo
I- Đặt vấn đề:
1. Thực trạng của vấn đề:
Đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục Việt Nam không chỉ là nhiệm vụ cấp
bách của xã hội đặt ra cho ngành giáo dục mà còn là nhu cầu nội tại của chính
chúng ta – những cán bộ, giáo viên trong mỗi trường học. Đổi mới phương pháp
dạy học, phương pháp kiểm tra đánh giá nhằm phát triển năng lực, phẩm chất cho
người học là việc cần làm ngay – không thể làm ngơ, không được chậm trễ. Đổi
mới không chỉ là trách nhiệm, là nghĩa vụ mà cũng là quyền lợi của nhà giáo.
Ai giúp đội ngũ nhà giáo chúng ta biết đổi mới? Quá trình thực hành đổi mới
cần nhiều yếu tố. Ngoại lực là điều kiện cần nhưng phải có nội lực là điều kiện đủ.
Đảng, Nhà nước, nhân dân, ban ngành, đoàn thể, chính sách, chế độ … Tất cả
những tác động bên ngoài ấy là rất cần. Nhưng quan trọng là người trong cuộc. Cho
nên, nội lực ở đây là chính ta – nhà giáo phải tự thân vận động, quyết tâm và kiên trì
đổi mới.
Sức bật đổi mới của nhà giáo được nhen nhóm, lan tỏa từ sự kết nối hợp tác
giữa đồng nghiệp trong Tổ/nhóm chuyên môn. Sinh hoạt Tổ/nhóm chuyên môn
như thế nào để nhà giáo được cùng nhau thực hành đổi mới phương pháp dạy học,
phương pháp kiểm tra đánh giá nhằm phát triển năng lực, phẩm chất cho học sinh?
Cụ thể hơn nữa, Tổ Văn, Sử, Địa, GDCD là một bộ phận của trường THCS
Ngô Mây – một ngôi trường ở thành phố Quy Nhơn, đã đạt Trường Chuẩn quốc gia
giai đoạn I và đang phấn đấu trên đà đi lên theo mục tiêu đạt Trường Chuẩn quốc
gia giai đoạn II. Mục tiêu chung của nhà trường đòi hỏi mỗi nhà giáo phải có nhận
thức, hành động tích cực.
Vấn đề ấy là những trăn trở, nghĩ suy của Tổ Văn, Sử, Địa, GDCD (THCS
Ngô Mây). Nhận thức được tính cấp bách của vấn đề đổi mới nhưng nhìn vào thực
tế của tổ thì mối lo càng lớn. Với 13 thành viên, tổ phải đảm nhiệm giảng dạy các
môn học Ngữ văn, Địa lí, Lịch sử, GDCD cho 26 lớp của trường THCS Ngô Mây;
thêm vào đó là công tác chủ nhiệm lớp, công tác kiêm nhiệm khác như thủ quỹ,
công đoàn, quản lí tổ, tham gia các khóa học tập bồi dưỡng chính trị Quả là Tổ
Văn, Sử, Địa, GDCD chúng tôi phải đối mặt với quá nhiều khó khăn trong việc thực
(cá
nhân)
Tồn tại
chung
của tổ
những
năm
trước
Ghi chú
1 Lê Thị
Huỳnh
Nga
Nữ 1962 Đại
học
Văn
Dạy
Văn,
Sử
Tổ
trưởng
Phẫu
thuật,
nằm
viện
- Chưa
hoàn
thành
kế
hoạch,
chỉ tiêu
Văn,
GDCD
3 Nguyễn
Quốc
Cung
Nam 1962 Đại
học
Địa
Dạy
Địa
Tổ phó,
công
tác
Đảng,
Công
đoàn,
thanh
tra
Tham
gia
khóa
học
chính
trị
4 Phan Thị
Thủy
Nữ 1959 Đại
học
Văn
Dạy
Dạy Chủ
nhiệm
Trang 4
ĐỀ TÀI: Ứng dụng đổi mới sinh hoạt chuyên môn theo nghiên cứu bài học
ở Tổ Văn, Sử, Địa, GDCD (Trường THCS Ngô Mây – Quy Nhơn)
Hóa Địa lớp tích
hợp
- Việc
áp
dụng
đổi
mới PP
dạy
học,
kiểm
tra
đánh
giá
chưa
sâu
rộng;
hiệu
quả
chưa
cao
8 Huỳnh
Thị
Phượng
Hiền
Nữ 1966 Đại
Nữ 1973 Đại
học
Văn
Dạy
Văn,
GDCD
Chủ
nhiệm
lớp
11 Võ Thị
Thảo
Nữ 1977 Đại
học
Văn
Dạy
Văn,
GDCD
Chủ
nhiệm
lớp
Thai
sản,
nằm
viện
Mới về
từ
11/2014
12 Nguyễn
Thị Bích
Vân
nhiệm
lớp
Thai
sản,
nằm
viện
15 Lê Thị
Thẩm
Nữ 1985 Trung
cấp
Thư
viện
Quản
lí Thư
viện
Trang 5
ĐỀ TÀI: Ứng dụng đổi mới sinh hoạt chuyên môn theo nghiên cứu bài học
ở Tổ Văn, Sử, Địa, GDCD (Trường THCS Ngô Mây – Quy Nhơn)
Nói vậy không có nghĩa là chúng tôi đầu hàng. Biết khó nhưng cố gắng vượt
khó. Nhạy trong nhận thức và cũng nhanh trong hành động, chúng tôi đã thực hành
đổi mới trong sinh hoạt chuyên môn.
Non chục năm qua, chúng tôi đã từng bước đổi mới nhưng là dò dẫm, tìm
đường. Gần đây, từ năm học 2013-2014 đến nay, chúng tôi tìm tòi và đã được tiếp
cận với những công văn, chỉ thị, hướng dẫn của Bộ Giáo dục (thông qua chỉ đạo
chuyên môn của ngành và nguồn Internet) về việc đổi mới sinh hoạt chuyên môn
theo hướng nghiên cứu bài học nên càng mạnh dạn ứng dụng một cách bài bản. Giải
pháp Ứng dụng đổi mới Sinh hoạt chuyên môn theo nghiên cứu bài học:
HƯỚNG DẪN HỌC SINH VẬN DỤNG KIẾN THỨC LIÊN MÔN TỔ CHỨC
CUỘC THI TÌM HIỂU BIỂN ĐẢO QUÊ HƯƠNG là sản phẩm ứng dụng của
chúng tôi.
II- Phương pháp tiến hành:
1- Cơ sở:
1.1/Cơ sở lý luận:
Trong những năm qua, nhà giáo chúng ta đã được trang bị khá nhiều lí thuyết
về đổi mới phương pháp dạy học, kiểm tra đánh giá để nâng cao chất lượng giáo
dục qua các văn bản chỉ đạo, các đợt tập huấn chuyên môn từ Bộ, Sở, Phòng,
Trường. Đó là những cơ sở lí luận vững chắc, làm nền tảng cho việc thực hành đổi
mới của giáo viên. Có thể kể ra như các tài liệu, các lớp tập huấn về PP, KT dạy học
tích cực, Đổi mới kiểm tra đánh giá theo hướng phát triển, năng lực cho học sinh,
Và gần đây nhất là hàng loạt các công văn, chỉ thị, hướng dẫn với những yêu cầu
đổi mới gắn với cả cán bộ quản lí giáo dục, giáo viên lẫn học sinh như:
Công văn Số: 5555/BGDĐT-GDTrH (ngày 08 tháng 10 năm 2014) V/v
hướng dẫn sinh hoạt chuyên môn về đổi mới phương pháp dạy học và kiểm tra,
đánh giá; tổ chức và quản lí các hoạt động chuyên môn của trường trung học/trung
tâm giáo dục thường xuyên qua mạng.
Chỉ thị 5466/BGDĐT-GDTrH (ngày 7 tháng 8 năm 2013) Hướng dẫn thực
hiện nhiệm vụ GDTrH 2013-2014.
Chỉ thị 3004/CT-BGDĐT (ngày 15 tháng 8 năm 2013) về nhiệm vụ trọng
tâm giáo dục mầm non, giáo dục phổ thông, giáo dục thường xuyên, giáo dục
chuyên nghiệp năm 2013-2014.
Chỉ thị 3008/CT-BGDĐT (ngày 18 tháng 8 năm 2014) về nhiệm vụ trọng tâm
giáo dục mầm non, giáo dục phổ thông, giáo dục thường xuyên, giáo dục chuyên
nghiệp năm 2014-2015.
(Xem nội dung cụ thể ở phần Phụ lục).
Bài viết của thầy Hoàng Văn Thái - Hiệu trưởng Trường THPT Nguyễn
Duy Trinh – cán bộ quản lí ở Nghệ An (theo nguồn tin từ mạng Internet – Xem Phụ
lục):
“Thuật ngữ “nghiên cứu bài học” (NCBH) có nguồn gốc trong lịch sử giáo
dục Nhật Bản, như một biện pháp để nâng cao năng lực nghề nghiệp của giáo viên
thông qua nghiên cứu cải tiến các hoạt động dạy học các bài học cụ thể, qua đó cải
cũng như trong cuộc sống của mỗi con người.
Như vậy, ở đây chúng tôi “Học đi đôi với hành” để biến lí thuyết thành việc
làm cụ thể, để tập luyện theo những điều được chỉ dẫn. Đó cũng chính là quá trình
tự học, tự rèn, làm gương cho học sinh. Để dạy tốt, chúng tôi phải học – học cách
đổi mới thông qua trải nghiệm.
Đồng thời việc chọn Giải pháp Ứng dụng đổi mới Sinh hoạt chuyên môn
theo nghiên cứu bài học: HƯỚNG DẪN HỌC SINH VẬN DỤNG KIẾN THỨC
LIÊN MÔN TỔ CHỨC CUỘC THI TÌM HIỂU BIỂN ĐẢO QUÊ HƯƠNG,
chúng tôi cũng căn cứ từ cơ sở lí luận rõ ràng, chắc chắn như sau:
Trang 8
ĐỀ TÀI: Ứng dụng đổi mới sinh hoạt chuyên môn theo nghiên cứu bài học
ở Tổ Văn, Sử, Địa, GDCD (Trường THCS Ngô Mây – Quy Nhơn)
Bộ trưởng Phạm Vũ Luận tại Hội nghị quán triệt NQ T.Ư 8 khóa XI (đăng trên
báo Giáo dục và thời đại , thứ năm ngày 2/01/2014) cũng khẳng định từ Đề án đổi
mới căn bản, toàn diện giáo dục Việt Nam:
- “ Lần này, chúng ta sẽ phải thay đổi căn bản. Thứ nhất, cách thiết kế chương
trình và tổ chức biên soạn SGK mới sẽ có sự thay đổi lớn, với nguyên tắc: Tích hợp
cao ở lớp và cấp học dưới; Tự chọn và phân hóa cao ở lớp và cấp học trên. Cách
thiết kế này cho phép lựa chọn có chủ đích trong khối kiến thức rất lớn, rất phong
phú của các lĩnh vực khoa học những nội dung phù hợp với lứa tuổi (tâm lý, kỹ
năng, nhận thức…) của học sinh phổ thông, gần với cuộc sống, thiết thực tham gia
vào quá trình hình thành phẩm chất và năng lực của người lao động mới.
- Chúng ta sẽ chuyển từ việc dạy và học chủ yếu là truyền thụ kiến thức một
chiều từ thầy sang trò sang phương pháp giáo dục mới nhằm hình thành năng lực
và phẩm chất của con người lao động mới.
Chúng ta vẫn dạy, vẫn truyền thụ kiến thức, nhưng nếu trước đây việc truyền
thụ kiến thức là mục tiêu, nhiệm vụ chủ yếu của giáo viên thì bây giờ việc truyền
thụ kiến thức là phương tiện, là con đường, là cách thức để chúng ta giúp học sinh
sinh viên từng bước hình thành phẩm chất, năng lực của con người mới.
Ở các lớp học dưới, việc truyền thụ kiến thức vẫn còn nhiều, nhưng càng lên
kiểu, may, dán trang phục cho nhân vật kịch đến dựng và tập hai tiểu phẩm hài Lễ
phục, Mơ tưởng tình nương (dự án Hóa thân nhân vật nước ngoài); từ những ô chữ,
hình ảnh sống động của dự án Khám phá văn hóa nhân loại đến những văn bản
nghị luận sắc sảo mà hóm hỉnh gần gũi của dự án Nhớ hoài ấn tượng khó phai ;
tất cả đều nói lên tính chủ động, vận dụng kiến thức liên môn vào đời sống học
đường một cách tự nhiên, hiệu quả. HS được gợi ý, tư vấn để tha hồ sáng tạo và
hoàn toàn làm chủ tiết học.
Trang 10
ĐỀ TÀI: Ứng dụng đổi mới sinh hoạt chuyên môn theo nghiên cứu bài học
ở Tổ Văn, Sử, Địa, GDCD (Trường THCS Ngô Mây – Quy Nhơn)
(Trích hình ảnh từ màn hình trình chiếu chương trình tiết học do HS thực hiện)
- Bài: ÔN TẬP PHẦN TIẾNG VIỆT – TIẾT 73 (Lớp 9A5 – Năm học 2012-2013)
GV giảng dạy: Cô Huỳnh Nga
Tiết dạy minh họa cho chuyên đề Giúp HS THCS tích cực ứng dụng CNTT
trong môn Ngữ văn (Chuyên đề trích từ đề tài SKKN cấp Tỉnh của nhà giáo Huỳnh
Thị Phượng Hiền năm 2011-2012) trong buổi sinh hoạt chuyên môn do Hội đồng
bộ môn thuộc Phòng Giáo dục – Đào tạo TP Quy Nhơn tổ chức. Tiết dạy đã được
ghi nhận khen ngợi từ phía đồng nghiệp ở các trường bạn về năng lực sáng tạo,
hành vi chủ động tích cực của HS khi các nhóm tự thiết kế chương trình ôn luyện
rồi vừa trình chiếu vừa thuyết trình, vừa điều hành tổ chức lớp bằng sự tích hợp
kiến thức, kĩ năng của môn Ngữ văn với nhiều môn học khác.
- Một số bài dạy về chương trình địa phương, ôn tập thơ, tập làm thơ, tổng kết về
Tiếng Việt, luyện nói, đọc – hiểu VB, luyện tập tạo lập VB của GV trong Tổ đã
thực hiện và được giới thiệu trong các đề tài SKKN của cô giáo Huỳnh Thị Phượng
Hiền (đề tài SKKN đã được các cấp chuyên môn của ngành công nhận trong những
năm gần đây).
2- Các biện pháp tiến hành:
2.1/ Chủ yếu dựa vào thực tế giảng dạy, giáo dục để đúc rút kinh nghiệm, kết luận
1- Thuyết minh tính mới:
1.1./ Nội dung giải pháp:
1.1.1/ Tóm tắt lí thuyết SHCM theo nghiên cứu bài học để làm cơ sở cho việc
ứng dụng : (Từ các nguồn tài liệu được nghiên cứu, tham khảo – Xem Phụ lục)
1.1.1.1/ Thế nào là sinh hoạt chuyên môn theo nghiên cứu bài học (NCBH)?
- Là hoạt động chuyên môn của GV nhằm tập trung phân tích các vấn đề liên quan
đến người học (học sinh).
Trang 13
ĐỀ TÀI: Ứng dụng đổi mới sinh hoạt chuyên môn theo nghiên cứu bài học
ở Tổ Văn, Sử, Địa, GDCD (Trường THCS Ngô Mây – Quy Nhơn)
- Không tập trung vào việc đánh giá giờ học, xếp loại GV mà nhằm khuyến khích
GV tìm ra nguyên nhân tại sao HS chưa đạt kết quả như mong muốn và có biện
pháp để nâng cao chất lượng dạy học, tạo cơ hội cho HS được tham gia vào quá
trình học tập; giúp GV có khả năng chủ động điều chỉnh nội dung, phương pháp dạy
sao cho phù hợp với từng đối tượng HS.
Vậy vấn đề đổi mới sinh hoạt chuyên môn dựa trên nghiên cứu bài học, thực tế
là việc dự giờ và đánh giá tiết dạy của GV thông qua quan sát HS.
1.1.1.2/ Cách thức tiến hành SHCM theo nghiên cứu bài học:
Bước 1. Xây dựng kế hoạch bài học.
- Cần xác định mục tiêu kiến thức và kĩ năng, thái độ mà HS cần đạt được khi
tiến hành nghiên cứu. Đề xuất với thành viên trong tổ (nhóm) CM. GV trong tổ
(nhóm) sẽ thảo luận chi tiết, cụ thể chọn bài học, thời gian tiến hành bài dạy, lớp
thực hiện bài dạy minh họa, GV thực hiện dạy minh họa.
- GV trong tổ (nhóm) thảo luận xây dựng giáo án cho bài học minh họa.
+ Cần xác định mục tiêu, phương pháp trong bài học.
+ Đặt câu hỏi xem đây là loại bài học gì?
+ Sử dụng các PP và phương tiện dạy học thế nào cho đạt hiệu quả cao?
+ Nội dung bài học chia ra những đơn vị kiến thức nào?
+ Dự kiến tổ chức hoạt động dạy học nào tương ứng?
+ Dự kiến tích hợp nội dung giáo dục nào là phù hợp?
- Người dự tập trung quan sát việc học của HS, đưa ra minh chứng về những
gì họ nhìn thấy được về cách học, suy nghĩ, giải quyết vấn đề của HS trên lớp học,
để rút kinh nghiệm, bổ sung, đưa ra biện pháp nâng cao hiệu quả.
- Mọi người phải lắng nghe, tôn trọng ý kiến của nhau khi thảo luận, không
nên quan tâm đến các tiêu chuẩn truyền thống của một giờ dạy.
- Không nên phê phán đồng nghiệp. Tuyệt đối không xếp loại giờ dạy minh
hoạ trong sinh hoạt chuyên môn theo NCBH. Bởi giờ dạy là sản phẩm chung của
mọi người khi tham gia sinh hoạt chuyên môn theo NCBH.
- Lấy hành vi học tập của HS làm trung tâm thảo luận.
- Tổ trưởng không nên áp đặt, tạo cơ hội cho GV trong tổ phát biểu, có sự
dẫn dắt để GV trong tổ cùng thảo luận.
Bước 4. Áp dụng cho thực tiễn dạy học hàng ngày
- Sau khi thảo luận về tiết dạy đầu tiên, tất cả GV cùng suy ngẫm xem có tiếp
tục thực hiện NCBH này nữa không? Nếu bài học nghiên cứu vẫn chưa hoàn thiện
thì cần tiếp tục nghiên cứu để tiến hành dạy ở các lớp sau cho hoàn thiện hơn.
Trang 15
ĐỀ TÀI: Ứng dụng đổi mới sinh hoạt chuyên môn theo nghiên cứu bài học
ở Tổ Văn, Sử, Địa, GDCD (Trường THCS Ngô Mây – Quy Nhơn)
(Quy trình sinh hoạt chuyên môn theo hướng nghiên cứu bài học - Ảnh chụp từ tài
liệu tập huấn của nhóm nghiên cứu giáo dục thuộc tổ chức Plan, nguồn Internet)
1.1.2/ Tiến hành ứng dụng SHCM theo nghiên cứu bài học ở Tổ Văn, Sử, Địa,
GDCD (Trường THCS Ngô Mây – Quy Nhơn, Bình Định):
Xây dựng và thực hành kế hoạch Sinh hoạt chuyên môn theo nghiên cứu
bài học:
HƯỚNG DẪN HỌC SINH VẬN DỤNG KIẾN THỨC LIÊN MÔN
ĐỂ TỔ CHỨC CUỘC THI TÌM HIỂU BIỂN ĐẢO QUÊ HƯƠNG
1.1.2.1/ Bước 1: Xây dựng kế hoạch bài học.
* Chọn bài học:
- Căn cứ nhiệm vụ được giao:
Trước mắt, nhà trường giao cho Tổ Văn, Sử, Địa, GDCD cần thực hiện một
GD-ĐT khẳng định: Trước hết phải nói rằng dạy tích hợp, liên môn không phải là
hai khái niệm tách rời nhau mà chỉ là một khái niệm duy nhất, đó là dạy học những
nội dung kiến thức liên quan đến hai hay nhiều môn học. “Tích hợp” là nói đến
phương pháp và mục tiêu của hoạt động dạy học còn “liên môn” là đề cập tới nội
dung dạy học. Đã dạy học “tích hợp” thì chắc chắn phải dạy kiến thức “liên môn”
và ngược lại, để đảm bảo hiệu quả của dạy liên môn thì phải bằng cách và hướng
tới mục tiêu tích hợp. Ở mức độ thấp thì dạy học tích hợp mới chỉ là lồng ghép
những nội dung giáo dục có liên quan vào quá trình dạy học một môn học như:
Lồng ghép giáo dục đạo đức, lối sống; giáo dục pháp luật; giáo dục chủ quyền
quốc gia về biên giới, biển, đảo; giáo dục sử dụng năng lượng tiết kiệm và hiệu
quả, bảo vệ môi trường, an toàn giao thông Mức độ tích hợp cao hơn là phải xử
lý các nội dung kiến thức trong mối liên quan với nhau, bảo đảm cho HS vận dụng
được tổng hợp các kiến thức đó một cách hợp lý để giải quyết các vấn đề trong học
tập, trong cuộc sống, đồng thời tránh việc HS phải học lại nhiều lần cùng một nội
dung kiến thức ở các môn học khác nhau. Chủ đề liên môn là những chủ đề có nội
dung kiến thức liên quan đến hai hay nhiều môn học, thể hiện ở sự ứng dụng của
Trang 17
ĐỀ TÀI: Ứng dụng đổi mới sinh hoạt chuyên môn theo nghiên cứu bài học
ở Tổ Văn, Sử, Địa, GDCD (Trường THCS Ngô Mây – Quy Nhơn)
chúng trong cùng một hiện tượng, quá trình trong tự nhiên hay xã hội. Ví dụ: Kiến
thức vật lý và kỹ thuật trong động cơ, máy phát điện; kiến thức vật lý và hóa học
trong nguồn điện hóa học; kiến thức lịch sử và địa lý trong chủ quyền biển, đảo;
kiến thức ngữ văn và giáo dục công dân trong giáo dục đạo đức, lối sống…
Trong CT hiện nay, những nội dung kiến thức được đề cập đến ở hai hay nhiều môn
học được điều chỉnh theo hai hướng: Chỉ dạy kiến thức đó trong một môn học và bổ
sung thêm những kiến thức liên quan đến các môn còn lại đối với những kiến thức
liên môn nhưng có một môn học chiếm ưu thế, không dạy lại ở các môn khác; tách
những kiến thức có liên quan ra khỏi các môn học, xây dựng thành các chủ đề liên
môn để tổ chức dạy học riêng vào một thời điểm phù hợp, song song với quá trình
dạy học các bộ môn liên quan. Hiện nay, việc giao quyền chủ động xây dựng kế
HƯỚNG DẪN HỌC SINH VẬN DỤNG KIẾN THỨC LIÊN MÔN
ĐỂ TỔ CHỨC CUỘC THI TÌM HIỂU CHỦ ĐỀ BIỂN ĐẢO QUÊ HƯƠNG
I-MỤC TIÊU DẠY HỌC
1-Kiến thức:
Giúp học sinh nắm vững :
- Đặc điểm biển, đảo Việt Nam.
- Ý nghĩa của biển, đảo đối với việc phát triển kinh tế, an ninh quốc phòng.
- Các hoạt động khai thác tài nguyên biển, đảo và phát triển tổng hợp kinh tế biển.
- Đặc điểm tài nguyên và môi trường biển, đảo.
- Một số biện pháp bảo vệ tài nguyên biển, đảo.
- Quyền chủ quyền và quyền tài phán đối với vùng biển Việt Nam.
2-Kĩ năng:
- Xác định được vị trí, phạm vi vùng biển Việt Nam
- Kể tên một số đảo và quần đảo lớn.
- Điều hành, tổ chức, quản lý thời gian, hợp tác, giao tiếp.
-Thuyết trình, lập luận.
3-Thái độ:
- Tình yêu quê hương đất nước
- Ý thức và hành vi bảo vệ chủ quyền, môi trường biển, đảo Việt Nam.
- Tinh thần học hỏi,cầu tiến.
4-Tích hợp liên môn
- Môn Tin học: tạo lập văn bản, trình chiếu.( Chương 4: Soạn thảo văn bản (Tin
học HK2-Lớp 6),Chương 3: Phần mềm trình chiếu( Tin học lớp 9).
- Môn Ngữ văn: thuyết trình.(Văn thuyết minh - Ngữ văn 8), trình bày quan điểm,
tư tưởng, ý kiến ( Văn nghị luận - Ngữ văn 7).
- Môn Lịch sử: những mốc lịch sử quan trọng khẳng định chủ quyền biển đảo Việt
Nam.
Trang 19
ĐỀ TÀI: Ứng dụng đổi mới sinh hoạt chuyên môn theo nghiên cứu bài học
ở Tổ Văn, Sử, Địa, GDCD (Trường THCS Ngô Mây – Quy Nhơn)
- Yêu nghề, củng cố niềm tin vào thế hệ mai sau.
- Nâng cao chất lượng dạy học.
Trang 20
ĐỀ TÀI: Ứng dụng đổi mới sinh hoạt chuyên môn theo nghiên cứu bài học
ở Tổ Văn, Sử, Địa, GDCD (Trường THCS Ngô Mây – Quy Nhơn)
2-Đối với thực tiễn đời sống xã hội:
- Hướng tới chào mừng ngày thành lập Đoàn thanh niên Cộng sản Hồ Chí Minh
- Ý thức, trách nhiệm công dân trong việc bảo vệ môi trường, chủ quyền biển đảo
Việt Nam của học sinh được nâng cao.
- Mỗi học sinh là một tuyên truyền viên tích cực góp phần xây dựng, bảo vệ biển
đảo Việt Nam.
IV. THIẾT BỊ DẠY HỌC, HỌC LIỆU
1- Thiết bị : Máy tính, đèn chiếu, máy ảnh, máy quay video, USB.
2- Học liệu :
(dùng để cung cấp tư liệu học tập cho học sinh và GV thuyết trình, định hướng).
Môn Địa lý
Đặc điểm biển Việt Nam :
- Vùng biển và thềm lục địa Việt Nam là một phần của Biển Đông. Diện tích
khoảng 1 triệu km
2
.Đường bờ biển dài 3260 km (từ Quảng Ninh đến Kiên Giang)
với nhiều bãi biển đẹp.
- Biển Việt Nam gồm: nội thủy, lãnh hải, vùng tiếp giáp lãnh hải , vùng đặc quyền
kinh tế và thềm lục địa rộng lớn theo công ước Liên Hiệp Quốc về luật biển 1982 .
Hai quần đảo là Hoàng Sa và Trường Sa nằm giữa Biển Đông và hàng nghìn đảo
lớn nhỏ hợp thành tuyến bảo vệ, kiểm soát và làm chủ các vùng biển và thềm lục
địa.
- Hoàng Sa và Trường Sa nằm ở trung tâm Biển Đông thuận lợi cho việc đặt các
trạm thông tin , xây dựng các trạm dừng chân và tiếp nhiên liệu cho tàu thuyền…
phục vụ cho tuyến đường hàng hải trên Biển Đông.
- Các hoạt động trên biển như tràn dầu thải dầu đổ thải phóng xạ …
Các biện pháp bảo vệ môi trường biển
- Sử dụng hợp lí và tiết kiệm tài nguyên.
- Giảm suy thoái và ô nhiễm môi trường biển và ven biển.
- Tăng cường kiểm soát môi trường biển .
- Quan trắc cảnh báo môi trường biển.
- Tuyên truyền về môi trường biển.
Môn Ngữ văn :
Liên quan đến các kiểu VB được học trong chương trình Ngữ văn THCS như
thuyết minh, nghị luận, biểu cảm, hành chính, miêu tả, tự sự nhưng tập trung nhiều
hơn ở nghị luận, thuyết minh.
- Kiến thức và kĩ năng thuyết minh :
-Văn bản thuyết minh là kiểu văn bản thông dụng trong mọi lĩnh vực đời sống
nhằm cung cấp tri thức về đặc điểm tính chất, nguyên nhân của các hiện tượng và
sự vật trong tự nhiên xã hội bằng phương thức trình bày giới thiệu, giải thích.
Trang 22
ĐỀ TÀI: Ứng dụng đổi mới sinh hoạt chuyên môn theo nghiên cứu bài học
ở Tổ Văn, Sử, Địa, GDCD (Trường THCS Ngô Mây – Quy Nhơn)
-Phương pháp thuyết minh: Nêu định nghĩa, giải thích, liệt kê, nêu ví dụ, dùng số
liệu, so sánh, phân tích, phân loại.
-Muốn có tri thức để làm tốt bài văn thuyết minh, người viết phải quan sát tìm hiểu
sự vật, hiện tượng cần thuyết minh nhất là nắm bắt được bản chất đặc trưng của
chúng để tránh sa vào trình bày các biểu hiện không tiêu biểu, không quan trọng.
- Kĩ năng thuyết trình, phỏng vấn, dùng từ, diễn đạt câu cú
- Kiến thức và kĩ năng nghị luận :
-Văn nghị luận là văn được viết ra nhằm xác lập cho người đọc, người nghe một
quan điểm, tư tưởng, quan điểm nào đó.Văn nghị luận phải có luận điểm rõ ràng, có
lí lẽ, dẫn chứng thuyết phục
-Những tư tưởng, quan điểm trong bài văn nghị luận phải hướng tới giải quyết
những vấn đề đặt ra trong đời sống thì mới có ý nghĩa
Vai trò và ý nghĩa của Công ước Liên hợp quốc về Luật biển 1982
- Mang tính toàn cầu và tính đến lợi ích của các quốc gia trên thế giới.
- Các quốc gia phải có trách nhiệm ràng buộc và thực hiện toàn bộ các điều khoản
của Công ước.
- Là một trong những thành tựu có ý nghĩa nhất trong lĩnh vực luật pháp quốc tế
của thế kỉ XX và Công ước đã tạo ra một trật tự pháp lí mới trên biển tương đối
công bằng và được thừa nhận rộng rãi.
V-HOẠT ĐỘNG DẠY HỌC VÀ TIẾN TRÌNH DẠY HỌC
1-Chuẩn bị
* Chuẩn bị của giáo viên
-Xây dựng kế hoạch trình Ban Giám hiệu nhà trường.
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập - Tự do - Hạnh phúc
Quy Nhơn, ngày 14 tháng 2 năm 2014
TỜ TRÌNH
KẾ HOẠCH TỔ CHỨC HOẠT ĐỘNG“ VẬN DỤNG KIẾN THỨC LIÊN MÔN
ĐỂ TỔ CHỨC CUỘC THI TÌM HIỂU CHỦ ĐỀ BIỂN ĐẢO QUÊ HƯƠNG”
Kỷ niệm ngày thành lập Đoàn thanh niên Cộng sản Hồ Chí Minh, Tổ Văn-
Sử- Địa- GDCD có kế hoạch tổ chức hoạt động cho học sinh khối 8 theo dự án bài
học ngoại khóa “ Vận dụng kiến thức liên môn để tổ chức cuộc thi tìm hiểu chủ đề
biển đảo quê hương”:
I.Mục đích ý nghĩa:
Hoạt động “ Vận dụng kiến thức liên môn để tổ chức cuộc thi tìm hiểu chủ đề
biển đảo quê hương” là một sân chơi bổ ích cũng như tạo điều kiện để các em học
Trang 24
ĐỀ TÀI: Ứng dụng đổi mới sinh hoạt chuyên môn theo nghiên cứu bài học
ở Tổ Văn, Sử, Địa, GDCD (Trường THCS Ngô Mây – Quy Nhơn)
sinh tham gia học tập, rèn kĩ năng sống, phát huy tính tích cực, sáng tạo và bồi
dưỡng tình yêu quê hương đất nước cho các em.
II. Kế hoạch triển khai: