ĐỀ TÀI: Ứng dụng đổi mới sinh hoạt chuyên môn theo nghiên cứu bài học
ở Tổ Văn, Sử, Địa, GDCD (Trường THCS Ngô Mây – Quy Nhơn)
A- Mở đầu:
I- Đặt vấn đề:
1. Thực trạng của vấn đề:
Đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục Việt Nam không chỉ là nhiệm vụ cấp bách
của xã hội đặt ra cho ngành giáo dục mà còn là nhu cầu nội tại của chính chúng ta –
những cán bộ, giáo viên trong mỗi trường học. Đổi mới phương pháp dạy học,
phương pháp kiểm tra đánh giá nhằm phát triển năng lực, phẩm chất cho người học là
việc cần làm ngay – không thể làm ngơ, không được chậm trễ. Đổi mới không chỉ là
trách nhiệm, là nghĩa vụ mà cũng là quyền lợi của nhà giáo.
Ai giúp đội ngũ nhà giáo chúng ta biết đổi mới? Quá trình thực hành đổi mới
cần nhiều yếu tố. Ngoại lực là điều kiện cần nhưng phải có nội lực là điều kiện đủ.
Đảng, Nhà nước, nhân dân, ban ngành, đoàn thể, chính sách, chế độ … Tất cả những
tác động bên ngoài ấy là rất cần. Nhưng quan trọng là người trong cuộc. Cho nên, nội
lực ở đây là chính ta – nhà giáo phải tự thân vận động, quyết tâm và kiên trì đổi mới.
Sức bật đổi mới của nhà giáo được nhen nhóm, lan tỏa từ sự kết nối hợp tác
giữa đồng nghiệp trong Tổ/nhóm chuyên môn. Sinh hoạt Tổ/nhóm chuyên môn như
thế nào để nhà giáo được cùng nhau thực hành đổi mới phương pháp dạy học,
phương pháp kiểm tra đánh giá nhằm phát triển năng lực, phẩm chất cho học sinh?
Cụ thể hơn nữa, Tổ Văn, Sử, Địa, GDCD là một bộ phận của trường THCS
Ngô Mây – một ngôi trường ở thành phố Quy Nhơn, đã đạt Trường Chuẩn quốc gia
giai đoạn I và đang phấn đấu trên đà đi lên theo mục tiêu đạt Trường Chuẩn quốc gia
giai đoạn II. Mục tiêu chung của nhà trường đòi hỏi mỗi nhà giáo phải có nhận thức,
hành động tích cực.
Vấn đề ấy là những trăn trở, nghĩ suy của Tổ Văn, Sử, Địa, GDCD (THCS
Ngô Mây). Nhận thức được tính cấp bách của vấn đề đổi mới nhưng nhìn vào thực tế
của tổ thì mối lo càng lớn. Với 13 thành viên, tổ phải đảm nhiệm giảng dạy các môn
học Ngữ văn, Địa lí, Lịch sử, GDCD cho 26 lớp của trường THCS Ngô Mây; thêm
vào đó là công tác chủ nhiệm lớp, công tác kiêm nhiệm khác như thủ quỹ, công đoàn,
quản lí tổ, tham gia các khóa học tập bồi dưỡng chính trị Quả là Tổ Văn, Sử, Địa,
xuất
(cá
nhân)
Tồn tại
chung
của tổ
những
năm
trước
Ghi chú
1 Lê Thị
Huỳnh
Nga
Nữ 1962 Đại
học
Văn
Dạy
Văn,
Sử
Tổ
trưởng
Phẫu
thuật,
nằm
viện
- Chưa
hoàn
thành
kế
hoạch,
học
Văn
Dạy
Văn,
GDCD
3 Nguyễn
Quốc
Cung
Nam 1962 Đại
học
Địa
Dạy
Địa
Tổ phó,
công
tác
Đảng,
Công
đoàn,
thanh
tra
Tham
gia
khóa
học
chính
trị
4 Phan Thị
Thủy
Nữ 1959 Đại
Thị Tâm
Nữ 1963 Đại
học
Hóa
Dạy
Địa
Chủ
nhiệm
lớp
GV thực hiện: Huỳnh Thị Phượng Hiền – Lê Thị Huỳnh Nga Trang 2
ĐỀ TÀI: Ứng dụng đổi mới sinh hoạt chuyên môn theo nghiên cứu bài học
ở Tổ Văn, Sử, Địa, GDCD (Trường THCS Ngô Mây – Quy Nhơn)
8 Huỳnh
Thị
Phượng
Hiền
Nữ 1966 Đại
học
Văn
Dạy
Văn
Chủ
nhiệm,
Công
tác
Đảng,
Công
đoàn
Phẫu
thuật,
Văn
Dạy
Văn,
GDCD
Chủ
nhiệm
lớp
Thai
sản,
nằm
viện
Mới về
từ
11/2014
12 Nguyễn
Thị Bích
Vân
Nữ 1980 Đại
học
Văn
Dạy
Văn,
Sử
Chủ
nhiệm
lớp
13 Lâm Thị
Minh
Đức
Nữ 1981 Đại
lí Thư
viện
GV thực hiện: Huỳnh Thị Phượng Hiền – Lê Thị Huỳnh Nga Trang 3
ĐỀ TÀI: Ứng dụng đổi mới sinh hoạt chuyên môn theo nghiên cứu bài học
ở Tổ Văn, Sử, Địa, GDCD (Trường THCS Ngô Mây – Quy Nhơn)
Nói vậy không có nghĩa là chúng tôi đầu hàng. Biết khó nhưng cố gắng vượt khó.
Nhạy trong nhận thức và cũng nhanh trong hành động, chúng tôi đã thực hành đổi
mới trong sinh hoạt chuyên môn.
Non chục năm qua, chúng tôi đã từng bước đổi mới nhưng là dò dẫm, tìm đường.
Gần đây, từ năm học 2013-2014 đến nay, chúng tôi tìm tòi và đã được tiếp cận với
những công văn, chỉ thị, hướng dẫn của Bộ Giáo dục (thông qua chỉ đạo chuyên môn
của ngành và nguồn Internet) về việc đổi mới sinh hoạt chuyên môn theo hướng
nghiên cứu bài học nên càng mạnh dạn ứng dụng một cách bài bản. Giải pháp Ứng
dụng đổi mới Sinh hoạt chuyên môn theo nghiên cứu bài học: HƯỚNG DẪN
HỌC SINH VẬN DỤNG KIẾN THỨC LIÊN MÔN TỔ CHỨC CUỘC THI TÌM
HIỂU BIỂN ĐẢO QUÊ HƯƠNG là sản phẩm ứng dụng của chúng tôi.
Từ quá trình trải nghiệm với một số kết quả khả quan, chúng tôi muốn chia sẻ
cùng đồng nghiệp trong trường mình, trường bạn để tất cả đồng hành trên con đường
đổi mới của nền giáo dục nước nhà.
2- Ý nghĩa và tác dụng của giải pháp mới:
Giải pháp Ứng dụng đổi mới Sinh hoạt chuyên môn theo nghiên cứu bài
học: HƯỚNG DẪN HỌC SINH VẬN DỤNG KIẾN THỨC LIÊN MÔN TỔ
CHỨC CUỘC THI TÌM HIỂU BIỂN ĐẢO QUÊ HƯƠNG được thực hành với
những ý nghĩa và tác dụng tốt đẹp, thiết thực như sau:
- Gắn kết, đối chiếu lí luận giáo dục với thực tiễn giảng dạy để các thành viên trong
tổ cùng ứng dụng, trải nghiệm và cùng nhận ra lợi ích, tác dụng của việc đổi mới sinh
hoạt chuyên môn theo nghiên cứu bài học; từ đó tiếp tục kiên trì thực hiện để ngày
càng thu được những kết quả tốt hơn.
- Phát triển kĩ năng hợp tác, làm việc nhóm cho đồng nghiệp.
- Tạo môi trường giáo dục dân chủ, thân thiện, đoàn kết trong tổ/nhóm, trường học.
thường xuyên qua mạng.
Chỉ thị 5466/BGDĐT-GDTrH (ngày 7 tháng 8 năm 2013) Hướng dẫn thực
hiện nhiệm vụ GDTrH 2013-2014.
Chỉ thị 3004/CT-BGDĐT (ngày 15 tháng 8 năm 2013) về nhiệm vụ trọng tâm
giáo dục mầm non, giáo dục phổ thông, giáo dục thường xuyên, giáo dục chuyên
nghiệp năm 2013-2014.
Chỉ thị 3008/CT-BGDĐT (ngày 18 tháng 8 năm 2014) về nhiệm vụ trọng tâm
giáo dục mầm non, giáo dục phổ thông, giáo dục thường xuyên, giáo dục chuyên
nghiệp năm 2014-2015.
(Xem nội dung cụ thể ở phần Phụ lục).
Bài viết của thầy Hoàng Văn Thái - Hiệu trưởng Trường THPT Nguyễn
Duy Trinh – cán bộ quản lí ở Nghệ An (theo nguồn tin từ mạng Internet – Xem Phụ
lục):
“Thuật ngữ “nghiên cứu bài học” (NCBH) có nguồn gốc trong lịch sử giáo dục
Nhật Bản, như một biện pháp để nâng cao năng lực nghề nghiệp của giáo viên thông
qua nghiên cứu cải tiến các hoạt động dạy học các bài học cụ thể, qua đó cải tiến chất
lượng học của học sinh. Cho đến nay NCBH được xem như một mô hình và cách tiếp
GV thực hiện: Huỳnh Thị Phượng Hiền – Lê Thị Huỳnh Nga Trang 5
ĐỀ TÀI: Ứng dụng đổi mới sinh hoạt chuyên môn theo nghiên cứu bài học
ở Tổ Văn, Sử, Địa, GDCD (Trường THCS Ngô Mây – Quy Nhơn)
cận nghề nghiệp của giáo viên và vẫn được sử dụng rộng rãi tại các trường học ở
Nhật Bản, hình thức này đã được áp dụng trên nhiều nước trên thế giới. Ở Việt Nam,
phương pháp này bước đầu được áp dụng thử nghiệm tại một số tỉnh thành như Bắc
Giang, Thái Nguyên đã đem lại một số kết quả khả quan, đã chứng minh được tính
khả thi của nó trong việc bồi dưỡng và phát triển năng lực chuyên môn của giáo viên
so với các phương pháp truyền thống khác”.
Từ cơ sở lí luận ấy, Tổ Văn, Sử, Địa, GDCD (THCS Ngô Mây) ứng dụng vào
thực tiễn.
- Ứng dụng là gì? Theo Từ điển Hán – Việt của Đào Duy Anh, NXB Khoa học
xã hội năm 1996: “ứng dụng” là đem dùng ra thực sự. Theo Từ điển Tiếng Việt của
- “ Lần này, chúng ta sẽ phải thay đổi căn bản. Thứ nhất, cách thiết kế chương
trình và tổ chức biên soạn SGK mới sẽ có sự thay đổi lớn, với nguyên tắc: Tích hợp
cao ở lớp và cấp học dưới; Tự chọn và phân hóa cao ở lớp và cấp học trên. Cách
thiết kế này cho phép lựa chọn có chủ đích trong khối kiến thức rất lớn, rất phong
phú của các lĩnh vực khoa học những nội dung phù hợp với lứa tuổi (tâm lý, kỹ năng,
nhận thức…) của học sinh phổ thông, gần với cuộc sống, thiết thực tham gia vào quá
trình hình thành phẩm chất và năng lực của người lao động mới.
- Chúng ta sẽ chuyển từ việc dạy và học chủ yếu là truyền thụ kiến thức một chiều
từ thầy sang trò sang phương pháp giáo dục mới nhằm hình thành năng lực và phẩm
chất của con người lao động mới.
Chúng ta vẫn dạy, vẫn truyền thụ kiến thức, nhưng nếu trước đây việc truyền
thụ kiến thức là mục tiêu, nhiệm vụ chủ yếu của giáo viên thì bây giờ việc truyền thụ
kiến thức là phương tiện, là con đường, là cách thức để chúng ta giúp học sinh sinh
viên từng bước hình thành phẩm chất, năng lực của con người mới.
Ở các lớp học dưới, việc truyền thụ kiến thức vẫn còn nhiều, nhưng càng lên
các lớp trên thì việc này càng giảm dần. Ở những lớp trên, vai trò của người thầy
không chỉ còn là người truyền thụ kiến thức, mà còn là người cố vấn, tổ chức, hướng
dẫn học sinh tự học.
Trong thiết kế hoạt động giáo dục tới đây, các học sinh sẽ được học theo
nhóm, được trình bày và bảo vệ ý kiến của mình, được lắng nghe và phản biện ý kiến
của bạn, và có thể nhận được điểm số giống nhau cho những đáp án khác nhau.”
1.2/ Cơ sở thực tiễn:
Giải pháp thực hiện dự án bài học ngoại khóa HƯỚNG DẪN HỌC SINH
VẬN DỤNG KIẾN THỨC LIÊN MÔN ĐỂ TỔ CHỨC CUỘC THI TÌM HIỂU
BIỂN ĐẢO QUÊ HƯƠNG trong đề tài Ứng dụng đổi mới sinh hoạt chuyên môn
theo hướng nghiên cứu bài học ở Tổ Văn, Sử, Địa, GDCD (THCS Ngô Mây) cũng
được gợi mở, học tập từ một số hoạt động diễn ra trong thực tiễn giáo dục và đời
sống như:
- Hoạt động Sinh hoạt chuyên môn của Hội đồng bộ môn thuộc Phòng Giáo
dục thành phố Quy Nhơn trong những năm gần đây.
trong môn Ngữ văn (Chuyên đề trích từ đề tài SKKN cấp Tỉnh của nhà giáo Huỳnh
Thị Phượng Hiền năm 2011-2012) trong buổi sinh hoạt chuyên môn do Hội đồng bộ
môn thuộc Phòng Giáo dục – Đào tạo TP Quy Nhơn tổ chức. Tiết dạy đã được ghi
nhận khen ngợi từ phía đồng nghiệp ở các trường bạn về năng lực sáng tạo, hành vi
chủ động tích cực của HS khi các nhóm tự thiết kế chương trình ôn luyện rồi vừa
trình chiếu vừa thuyết trình, vừa điều hành tổ chức lớp bằng sự tích hợp kiến thức, kĩ
năng của môn Ngữ văn với nhiều môn học khác.
- Một số bài dạy về chương trình địa phương, ôn tập thơ, tập làm thơ, tổng kết về
Tiếng Việt, luyện nói, đọc – hiểu VB, luyện tập tạo lập VB của GV trong Tổ đã
thực hiện và được giới thiệu trong các đề tài SKKN của cô giáo Huỳnh Thị Phượng
Hiền (đề tài SKKN đã được các cấp chuyên môn của ngành công nhận trong những
năm gần đây).
2- Các biện pháp tiến hành:
2.1/ Chủ yếu dựa vào thực tế giảng dạy, giáo dục để đúc rút kinh nghiệm, kết luận
giải pháp.
- Khảo sát các đối tượng giáo viên, HS, thăm dò thực tiễn giảng dạy, giáo dục ở
trường THCS Ngô Mây.
- Nghiên cứu tư liệu tham khảo, đối sánh với cơ sở lí luận để đánh giá thực tiễn.
- Thống kê, phân tích, tổng hợp, đánh giá kết quả thực hiện.
2.2/ Thời gian thực hiện đề tài: 12 tháng (từ tháng 2/2014 đến 2/2015).
GV thực hiện: Huỳnh Thị Phượng Hiền – Lê Thị Huỳnh Nga Trang 9
ĐỀ TÀI: Ứng dụng đổi mới sinh hoạt chuyên môn theo nghiên cứu bài học
ở Tổ Văn, Sử, Địa, GDCD (Trường THCS Ngô Mây – Quy Nhơn)
B- Nội dung:
I- Mục tiêu:
1. Đảm bảo cho tất cả học sinh có cơ hội tham gia thực sự vào quá trình học tập,
giáo viên quan tâm đến khả năng học tập của từng học sinh, đặc biệt những học sinh
có năng lực, tinh thần học tập cao.
2. Tạo cơ hội cho tất cả giáo viên nâng cao năng lực chuyên môn, kĩ năng sư
ở Tổ Văn, Sử, Địa, GDCD (Trường THCS Ngô Mây – Quy Nhơn)
- GV trong tổ (nhóm) thảo luận xây dựng giáo án cho bài học minh họa.
+ Cần xác định mục tiêu, phương pháp trong bài học.
+ Đặt câu hỏi xem đây là loại bài học gì?
+ Sử dụng các PP và phương tiện dạy học thế nào cho đạt hiệu quả cao?
+ Nội dung bài học chia ra những đơn vị kiến thức nào?
+ Dự kiến tổ chức hoạt động dạy học nào tương ứng?
+ Dự kiến tích hợp nội dung giáo dục nào là phù hợp?
+ Dự kiến cách suy nghĩ, khả năng tiếp nhận của HS vào bài học, các tình huống
dạy học xảy ra, dự kiến cách kết thúc bài học.
Tóm lại: Sau khi kết thúc cuộc thảo luận, GV thực hiện dạy minh họa sẽ nghiên
cứu, phát triển … các ý kiến góp ý của tổ CM (nhóm). GV thực hiện hoàn thiện GA
dạy minh họa và chuẩn bị điều kiện tốt nhất cho tiết dạy.
Bước 2. Tiến hành bài học và dự giờ
- Sau khi hoàn thành xây dựng kế hoạch dạy học chi tiết, GV sẽ dạy minh hoạ bài
học nghiên cứu ở một lớp đã chuẩn bị trước.
- Các yêu cầu cụ thể của giờ dạy minh họa như sau:
+ Chuẩn bị lớp dạy minh hoạ, bố trí lớp có đủ chỗ quan sát thuận lợi cho
người dự.
+ Điều chỉnh số lượng người dự ở mức vừa phải.
+ Việc dự giờ cần đảm bảo không ảnh hưởng đến việc học của học sinh, không
gây khó khăn cho người dạy minh hoạ.
- GV dạy và dự cần quan sát học sinh học, cách phản ứng của học sinh trong giờ
học, cách làm việc nhóm HS, những sai lầm học sinh mắc phải, thái độ tình cảm của
học sinh Quan sát tất cả đối tượng học sinh, không được “bỏ rơi” một HS nào.
- GV dự từ bỏ thói quen đánh giá giờ qua hoạt động của GV dạy, người dự cần
học tập, hiểu và thông cảm với khó khăn của người dạy. Đặt mình vào vị trí của
người dạy để phát hiện những khó khăn trong việc học của HS để tìm cách giải quyết.
Bước 3. Suy ngẫm, thảo luận về bài học nghiên cứu.
Tạo điều kiện cho GV dạy chia sẻ cảm nhận, bày tỏ những cái tâm đắc, hoặc
học:
HƯỚNG DẪN HỌC SINH VẬN DỤNG KIẾN THỨC LIÊN MÔN
ĐỂ TỔ CHỨC CUỘC THI TÌM HIỂU BIỂN ĐẢO QUÊ HƯƠNG
1.1.2.1/ Bước 1: Xây dựng kế hoạch bài học.
* Chọn bài học:
- Căn cứ nhiệm vụ được giao:
Trước mắt, nhà trường giao cho Tổ Văn, Sử, Địa, GDCD cần thực hiện một
hoạt động giáo dục trong tháng 3 năm 2014 (một nhiệm vụ trong phong trào Thi đua
Kỷ niệm Ngày thành lập Đoàn 26/3).
Đồng thời, đối với nhiệm vụ thường xuyên, ngoài việc giảng dạy hàng ngày,
giáo viên trong tổ còn phải tích cực tham gia dự thi Dạy học theo chủ đề tích hợp,
hướng dẫn học sinh tham gia dự thi Vận dụng kiến thức liên môn để giải quyết tình
huống thực tiễn, viết SKKN, dự thi Giáo viên dạy giỏi
- Đề xuất ý tưởng: Chọn bài học HƯỚNG DẪN HỌC SINH VẬN DỤNG
KIẾN THỨC LIÊN MÔN TỔ CHỨC TÌM HIỂU BIỂN ĐẢO QUÊ HƯƠNG (Cô giáo
Phượng Hiền đề xuất).
Đề xuất và thuyết phục cả tổ thực hiện Sinh hoạt chuyên môn theo nghiên cứu
bài học: HƯỚNG DẪN HỌC SINH VẬN DỤNG KIẾN THỨC LIÊN MÔN TỔ CHỨC
CUỘC THI TÌM HIỂU BIỂN ĐẢO QUÊ HƯƠNG với nhiều lợi ích, tác dụng kép.
Nhất là đã vạch ra định hướng chương trình kế hoạch nhằm tạo ra nhiều sản phẩm
dạy – học, góp phần hoàn thành nhiệm vụ trước mắt cũng như nhiều nhiệm vụ khác
của giáo viên, của tổ. Khẳng định bài học sẽ là một dự án kéo dài, cần sự hợp tác,
chia sẻ của nhiều giáo viên, học sinh. Nó đòi hỏi nhiều công sức của mọi người
nhưng cũng sẽ đem lại nhiều lợi ích thiết thực.
- Tổ Văn, Sử, Địa, GDCD thống nhất chọn bài học theo đề xuất trên và
cùng thảo luận tìm cách thức tiến hành như sau:
* Xác định loại bài học: Dạy học theo chủ đề tích hợp, vận dụng kiến thức liên
môn
Xác định rõ hướng tích hợp, liên môn ở đây là:
Tách những kiến thức có liên quan ra khỏi các môn học, xây dựng
liên môn nhưng có một môn học chiếm ưu thế, không dạy lại ở các môn khác; tách
những kiến thức có liên quan ra khỏi các môn học, xây dựng thành các chủ đề liên
môn để tổ chức dạy học riêng vào một thời điểm phù hợp, song song với quá trình
dạy học các bộ môn liên quan. Hiện nay, việc giao quyền chủ động xây dựng kế
hoạch giáo dục của nhà trường và tập huấn GV về các phương pháp dạy học tích
cực đã tạo nhiều thuận lợi cho nhà trường và GV dạy kiến thức liên môn hướng tới
mục tiêu tích hợp. Nhiều GV đã thực hiện tốt việc dạy học theo chủ đề tích hợp, liên
môn, thể hiện qua kết quả Cuộc thi dạy học theo chủ đề tích hợp dành cho GV trung
học mà Bộ GD-ĐT tổ chức trong những năm qua.
(Nguồn Internet - Thứ Hai, 15 Tháng mười hai 2014, 06:12 GMT+7 )
* Xác định mục tiêu bài học:
- Trang bị cho HS những nhận thức, hiểu biết về biển đảo Việt Nam.
GV thực hiện: Huỳnh Thị Phượng Hiền – Lê Thị Huỳnh Nga Trang 14
ĐỀ TÀI: Ứng dụng đổi mới sinh hoạt chuyên môn theo nghiên cứu bài học
ở Tổ Văn, Sử, Địa, GDCD (Trường THCS Ngô Mây – Quy Nhơn)
- Rèn cho HS những kĩ năng: thu thập kiến thức, tìm kiếm và xử lí thông tin,
hợp tác nhóm, giải quyết vấn đề, điều hành, quản lí … góp phần phát triển năng lực,
bồi dưỡng phẩm chất công dân.
- Ứng dụng các PP, KT dạy học tích cực: Học theo dự án, Dạy học giải quyết
vấn đề, Dạy học phân hóa học sinh, KT KWL, KT BĐTD.
- Tích hợp liên môn: Ngữ văn, GDCD, Sử, Địa, Tin, Âm nhạc, Công nghệ …
- Thiết bị dạy học: máy tính, laptop, đèn chiếu, USB, đĩa DVD, máy ảnh KT
số, máy quay video, giấy, bút, bảng, trang phục, …
* Chọn đối tượng học sinh: học sinh Khối 8 của trường THCS Ngô Mây.
Phân loại học sinh để giao nhiệm vụ học tập và yêu cầu đánh giá khác nhau.
• Phân công người thực hiện:
- Chỉ đạo chung và giám sát: Tổ trưởng Huỳnh Nga.
- Xây dựng chương trình, tư vấn các hoạt động: Phượng Hiền
- Giáo viên trực tiếp thực hiện dạy học minh họa: Đặng Thị Kiều, Võ Cao Thanh
Tuyến, Võ Bích Lê.
tưởng, ý kiến ( Văn nghị luận - Ngữ văn 7).
- Môn Lịch sử: những mốc lịch sử quan trọng khẳng định chủ quyền biển đảo Việt
Nam.
- Môn Địa lý: Đặc điểm biển đảo Việt Nam, Tài nguyên biển, Môi trường biển
- Môn GDCD: Nghĩa vụ bảo vệ Tổ quốc.
- Môn Âm nhạc: bài hát thể hiện chủ đề biển đảo Việt Nam, tình yêu quê hương đất
nước.
II-ĐỐI TƯỢNG DẠY HỌC:
- Đối tượng chung: học sinh khối 8 (gồm 6 lớp: 8A1, 8A2, 8A3, 8A4, 8A5, 8A6 với
tổng số 247 học sinh)
- Phân loại đối tượng học sinh tham gia bài học:
+ Vòng 1: 30 học sinh của 6 đội/ 6 lớp; mỗi đội 5 HS dự thi trong vai trò nhà tổ
chức, điều hành, quản lí đấu loại để chọn 3 đội vào chung kết.
+ Vòng 2: . 3 đội (mỗi đội 5 HS) được chọn vào vòng chung kết đóng vai trò là nhà
tổ chức, điều hành, quản lí.
. 6 đội/ 6 lớp trong vai trò thí sinh dự thi (mỗi đội 3 học sinh chính thức, 2
học sinh dự bị)
+ Toàn thể HS khối 8 tham gia cổ động và trả lời câu hỏi dành cho khán giả.
- Đặc điểm của đối tượng học sinh :
+ Có vốn nhất định về kiến thức các môn học (từ lớp 6 đến lớp 8), khả năng sử dụng
CNTT tương đối tốt, tiếp thu kiến thức nhanh.
GV thực hiện: Huỳnh Thị Phượng Hiền – Lê Thị Huỳnh Nga Trang 16
ĐỀ TÀI: Ứng dụng đổi mới sinh hoạt chuyên môn theo nghiên cứu bài học
ở Tổ Văn, Sử, Địa, GDCD (Trường THCS Ngô Mây – Quy Nhơn)
+ Là lứa tuổi thích tìm tòi và khám phá cái mới, thích thể hiện nên rất hứng thú với
phương pháp học tập tích cực.
+ Tuy nhiên, các em năng động sáng tạo nhưng lại thiếu tính kiên trì, khả năng hợp
tác chưa tốt nên cần được điều chỉnh qua hoạt động học tập.
III-Ý NGHĨA CỦA BÀI HỌC:
1-Đối với thực tiễn dạy học:
Hai quần đảo là Hoàng Sa và Trường Sa nằm giữa Biển Đông và hàng nghìn đảo lớn
nhỏ hợp thành tuyến bảo vệ, kiểm soát và làm chủ các vùng biển và thềm lục địa.
- Hoàng Sa và Trường Sa nằm ở trung tâm Biển Đông thuận lợi cho việc đặt các
trạm thông tin , xây dựng các trạm dừng chân và tiếp nhiên liệu cho tàu thuyền…
phục vụ cho tuyến đường hàng hải trên Biển Đông.
- Biển Việt Nam là biển duy nhất nối liền hai đại dương Ấn Độ Dương và Thái Binh
Dương.
- Các đảo, quần đảo có vị trí quan trọng trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ
Quốc : Hoàng Sa, Trường Sa, Phú Quốc, Côn Đảo , Lý Sơn, Cồn Cỏ….
- Các đảo có điều kiện tự nhiên thuận lợi cho phát triển KT-XH : Cát Bà, Phú Quý,
Côn Đảo, Phú Quốc.
- Tài nguyên du lịch biển:
+ Bờ biển dài có nhiều bãi cát , vịnh, hang động tự nhiên đẹp .
+ Các thành phố du lịch ven biển :Hạ Long, Đà Nẵng, Quy Nhơn, Nha Trang, Vũng
Tàu
+ Các bãi biển du lịch nổi tiếng: Trà Cổ (Quảng Ninh), Đồ Sơn (Hải Phòng), Cửa
Lò (Nghệ An), Thiên Cầm (Hà Tĩnh), Mỹ Khê (Đà Nẵng), Quy Nhơn (Bình Định),
Mũi Né (Bình Thuận)
- Tiềm năng dầu khí : vùng thềm lục địa vùng Đông Nam Bộ có nhiều mỏ dầu khí
(Hồng Ngọc, Rạng Đông, Bạch Hổ, Rồng, Lan Đỏ, Lan Tây)
Trữ lượng hải sản :
- 2458 loài cá, trữ lượng khoảng 4,18 triệu tấn.
- Ngành thủy sản phát triển nhanh và trở thành ngành mũi nhọn.
Tiềm năng về năng lượng biển: tiềm năng lớn và năng lượng mặt trời
- Lễ hội đặc sắc miền biển
Lễ hội Bạch Đằng (Quảng Ninh), lễ hội Cầu ngư (Nghệ An), lễ hội Đổ Giàn (Bình
Định), lễ hội Yến sào (Nha Trang)…
Vai trò quan trọng của môi trường biển đối với đời sống con người:
Các nhà khoa học công nhận biển và đại dương là cội nguồn của sự sống trên Trái
Đất.
-Những tư tưởng, quan điểm trong bài văn nghị luận phải hướng tới giải quyết
những vấn đề đặt ra trong đời sống thì mới có ý nghĩa
-Để xác lập luận điểm trong từng phần và mối quan hệ giữa các phần ta có thể sử
dụng các phương pháp lập luận khác nhau như suy luận nhân quả, suy luận tương
đồng
-Kĩ năng lập luận phân tích, chứng minh
Môn Giáo dục công dân
-Nghĩa vụ bảo vệ Tổ quốc:
GV thực hiện: Huỳnh Thị Phượng Hiền – Lê Thị Huỳnh Nga Trang 19
ĐỀ TÀI: Ứng dụng đổi mới sinh hoạt chuyên môn theo nghiên cứu bài học
ở Tổ Văn, Sử, Địa, GDCD (Trường THCS Ngô Mây – Quy Nhơn)
-Bảo vệ Tổ quốc là bảo vệ độc lập, chủ quyền thống nhất và toàn vẹn lãnh thổ của
Tổ quốc, bảo vệ chế độ xã hội chủ nghĩa và Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa
Việt Nam.
-Bảo vệ Tổ quốc bao gồm việc xây dựng lực lượng quốc phòng toàn dân, thực hiện
nghĩa vụ quân sự, thực hiện chính sách hậu phương quân đội và bảo vệ trật tự an ninh
xã hội.
-Bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa là sự nghiệp của toàn dân, là nghĩa vụ
thiêng liêng và quyền cao quý của công dân.
Kiến thức lịch sử, chính trị , xã hội :
-Tình hình Hoàng Sa, Trường Sa trong thời gian gần đây
Trong thời gian qua, Trung Quốc liên tục gây hấn, xâm phạm vùng biển Việt
Nam. Việt Nam khẳng định có đầy đủ bằng chứng lịch sử và cơ sở pháp lý khẳng
định chủ quyền của mình đối với hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa, cũng như
quyền chủ quyền và quyền tài phán đối với vùng đặc quyền kinh tế và thềm lục địa
được xác định phù hợp với công ước Liên hợp quốc về Luật Biển năm 1982. Mọi
hoạt động của nước ngoài trên các vùng biển của Việt Nam khi chưa được phép của
Việt Nam đều là bất hợp pháp và vô giá trị. Châu bản của triều Nguyễn Việt Nam đã
xác lập thực thi chủ quyền đối với hai quần đảo Hoàng Sa, Trường Sa; của hải đoàn
ra hai quần đảo này để khảo sát, cắm mốc, đo vẽ bản đồ. Châu bản ngày 21-6 năm
dưỡng tình yêu quê hương đất nước cho các em.
II. Kế hoạch triển khai:
-14-2-2014: Trình kế hoạch lên BGH nhà trường
-15-2-2014: gửi thông báo thể lệ cuộc thi và tư liệu học tập đến học sinh khối
8 ( thông qua GVCN)
- 13h 30 ngày 15-2-2014 họp 30 HS đại diện 6 lớp 8 ( mỗi lớp 5 HS), hướng
dẫn các em tổ chức hoạt động. (tại Phòng nghe nhìn)
- 13h 30 ngày 24-2-2014 chấm vòng 1, chọn 3 đội vào dự thi vòng 2 ((tại
Phòng nghe nhìn)
- 13h 30 ngày 3-3-2014 duyệt chương trình vòng 2. (tại Hội trường)
-14 h ngày 7-3-2014 thực hiện vòng 2: Tổ chức cuộc thi. (tại Hội trường)
III.Đối tượng học sinh tham gia hoạt động:
Mỗi lớp 8 cử 5 học sinh xây dựng kế hoạch tổ chức cuộc thi dành cho các bạn
học sinh khối 8.
Vận dụng kiến thức liên môn để tổ chức tìm hiểu chủ đề “Biển đảo quê hương”
( chủ yếu trong chương trình lớp 6->8, gồm các môn học: Văn, Sử, Địa, GDCD,
Tin, Công nghệ).
GV thực hiện: Huỳnh Thị Phượng Hiền – Lê Thị Huỳnh Nga Trang 21
ĐỀ TÀI: Ứng dụng đổi mới sinh hoạt chuyên môn theo nghiên cứu bài học
ở Tổ Văn, Sử, Địa, GDCD (Trường THCS Ngô Mây – Quy Nhơn)
IV. Người hướng dẫn
GV Võ Huỳnh Kiều Mỹ Bích Lê, Đặng Thị Kiều, Võ Cao Thanh tuyến
- Xây dựng kế hoạch tổ chức hoạt động
- Tham mưu với tổ về kế hoạch thực hiện
- Tham mưu với BGH về công tác tổ chức, CSVC, y tế, kinh
phí tổ chức và phát thưởng.
V.Người phối hợp
Giáo viên chủ nhiệm:
- Lập danh sách các em tham gia thi tài.
- Hướng dẫn, vận động các em tham gia cổ động tạo không
* Thời gian:
- 13h 30 ngày 15-2-2014 họp 30 HS đại diện 6 lớp 8 ( mỗi lớp 5 HS), hướng
dẫn các em tổ chức hoạt động
- 13h 30 ngày 24-2-2014 chấm vòng 1, chọn 3 đội vào dự thi vòng 2
- 13h 30 ngày 3-3-2014 duyệt chương trình vòng 2.
-14 h ngày 7-3-2014 thực hiện vòng 2: Tổ chức cuộc thi.
*Địa điểm: Phòng nghe nhìn, Hội trường.
2. Thể lệ:
-Nội dung: Vận dụng kiến thức liên môn để tổ chức tìm hiểu chủ đề biển đảo quê
hương.
-Đối tượng: HS lớp 8, số lượng tham gia: 5 HS/Lớp.
-Sản phẩm dự thi:
+Vòng 1: Thuyết trình sản phẩm, chọn 3 đội xuất sắc vào vòng 2.
Gợi ý sản phẩm: .Thiết kế powerpoint về các câu hỏi, bài tập
.Kịch bản cuộc thi
.MC( Chuẩn bị lời dẫn)
.Danh sách giám khảo, thư kí của lớp
.Thể lệ cuộc thi của lớp.
.Dự kiến phần thưởng
.Dụng cụ( bảng phụ, trang phục, tranh ảnh…)
. Thời gian: 30 phút
GV thực hiện: Huỳnh Thị Phượng Hiền – Lê Thị Huỳnh Nga Trang 23
ĐỀ TÀI: Ứng dụng đổi mới sinh hoạt chuyên môn theo nghiên cứu bài học
ở Tổ Văn, Sử, Địa, GDCD (Trường THCS Ngô Mây – Quy Nhơn)
+Vòng 2: (3 đội):Sản phẩm dự thi chính thức, 3 đội thực hiện trình chiếu, trực
tiếp tổ chức cho 6 đội thi của khối 8 (mỗi lớp cử 3 học sinh) tham gia nội dung thi
của đội mình xây dựng.
- Chú ý: các sản phẩm dự thi cần được bảo mật để đảm bảo tính công bằng,
hấp dẫn.
Kính mong quý thầy cô giáo hỗ trợ và các em học sinh tích cực tham gia để
Lời cha dặn phải giữ từng thước đất
Máu xương này con cháu vẫn nhớ ghi
Đêm trằn trọc nỗi mưa nguồn chớp bể
Thương Lý Sơn đảo khuất giữa mây mù
Thương Cồn Cỏ gối đầu lên sóng dữ
Thương Hòn Mê bão tố phía âm u
Nếu Tổ quốc nhìn từ bao thương tích
Những đau thương trận mạc đã qua rồi
Bao dáng núi còn mang hình góa phụ
Vọng phu buồn vẫn dỗ trẻ, ru nôi
Nếu Tổ quốc nhìn từ bao hiểm họa
Đã mười lần giặc đến tự biển Đông
Những ngọn sóng hóa Bạch Đằng cảm tử
Lũ Thoát Hoan bạc tóc khiếp trống đồng
Thương đất nước trên ba ngàn hòn đảo
Suốt ngàn năm bóng giặc vẫn chập chờn
Máu đã đổ ở Trường Sa ngày ấy
Bạn tôi nằm dưới sóng mặn vùi thân
Nếu Tổ quốc neo mình đầu sóng cả
Những chàng trai ra đảo đã quên mình
Một sắc chỉ về Hoàng Sa thuở trước
Còn truyền đời con cháu mãi đinh ninh
Nếu Tổ quốc nhìn từ bao mất mát
Máu xương kia dằng dặc suốt ngàn đời
Hồn dân tộc ngàn năm không chịu khuất
Dáng con tàu vẫn hướng mãi ra khơi
TG MỤC NỘI HOẠT ĐỘNG CỦA HOẠT
PHƯƠNG
GV thực hiện: Huỳnh Thị Phượng Hiền – Lê Thị Huỳnh Nga Trang 25