SỞ GIÁO DỤC & ĐÀO TẠO HÀ NỘI
PHÒNG GIÁO DỤC & ĐÀO TẠO GIA LÂM
BÀI DỰ THI DẠY HỌC THEO CHỦ ĐỀ TÍCH HỢP
MÔN : LỊCH SỬ
MÔN HỌC TÍCH HỢP : NGỮ VĂN, GDCD, ĐỊA LÍ
TÊN ĐỀ TÀI “ PHÙ ĐỔNG – VĂN HÓA VÀ DI SẢN”
TỔ: KHOA HỌC XÃ HỘI
NGƯỜI THỰC HIỆN: LÊ THỊ THANH THỦY
ĐIỆN THOẠI: 0913532046
EMAIL:
Phù Đổng, tháng 1 năm 2015
PHIẾU THÔNG TIN VỀ GIÁO VIÊN
Sở Giáo dục & Đào tạo Hà Nội
Phòng Giáo dục & Đào tạo Gia Lâm
Trường THCS Phù Đổng
Địa chỉ: Xóm Ba , Phù Đổng, Gia Lâm, Hà Nội
Điện thoại: 043.8785391 ; Email:
Họ tên giáo viên: LÊ THỊ THANH THỦY
Ngày sinh : 23 tháng 5 năm 1969
Điện thoại: 0913532046; Email:
PHIẾU MÔ TẢ DỰ ÁN DẠY HỌC – MÔN LỊCH SỬ
Sở Giáo dục & Đào tạo Hà Nội
Phòng Giáo dục & Đào tạo Gia Lâm
Trường THCS Phù Đổng
Địa chỉ: Xóm Ba , Phù Đổng, Gia Lâm, Hà Nội
Điện thoại: 043.8785391; Email:
Họ tên giáo viên: Lê Thị Thanh Thủy
Điện thoại: 0913532046; Email:
I. Tên dự án dạy học
Lịch sử địa phương
“ PHÙ ĐỔNG - VĂN HÓA VÀ DI SẢN”
2.2. Môn Văn học
- Rèn kĩ năng kể chuyện, kĩ năng thuyết minh, phát biểu cảm nghĩ .
2.3. Môn Địa lý
- Nắm được vị trí của các di tích lịch sử và công trình kiến trúc độc đáo.
2.4. Môn Giáo dục công dân
- Tham gia giữ gìn phát huy truyền thống quê hương.
3. Thái độ
- Cẩn thận, trung thực, hợp tác trong các hoạt động học tập, giao lưu.
- Thấy rõ trách nhiệm của bản thân về việc giữ gìn, phát huy các giá trị văn hóa và
di sản của quê hương
- Có ý thức trong việc tham gia bảo tồn, giới thiệu, quảng bá về hình ảnh của quê
hương, về Đền Gióng – di tích lịch sử quốc gia đặc biệt, về lễ hội Gióng – di sản
văn hóa phi vật thể của nhân loại.
III. Đối tượng dạy học
- Học sinh trường THCS Phù Đổng, Gia Lâm, Hà Nội.
+ Số lượng: 694 học sinh
+ Số lớp: 18 lớp
+ Khối lớp: 4 khối
IV. Ý nghĩa của dự án
4.1. Ý nghĩa của dự án đối với thực tiễn dạy học
- Qua việc dạy học của dự án giúp học sinh có tư duy, vận dụng được kiến thức của
nhiều môn học khác nhau để giải quyết một vấn đề trong cuộc sống. Đó là phát huy
các giá trị văn hóa của quê hương ( giáo dục truyền thống, giáo dục nếp sống văn
minh thanh lịch của người Hà Nội, giữ gìn bản sắc văn hóa …).
- Từ những kiến thức của dự án và cách vận dụng kiến thức của nhiều môn học
khác nhau để giải quyết vấn đề mà học sinh có thể vận dụng đối với các tình huống
khác trong cuộc sống tại địa phương ( biết giới thiệu về văn hóa và di sản của Phù
Đổng cho mọi tầng lớp nhân dân , biết cách lưu giữ và bảo tồn các giá trị văn hóa –
di sản độc đáo có một không hai của quê hương).
4.2. Ý nghĩa của dự án đối với thực tiễn đời sống
Di sản văn hóa phi vật thể.
- Một số thông tin về các gia đình, dòng họ lớn tại Phù Đổng ( trên trang Web
của Chi họ Đặng Trần – Phù Đổng).
Bài 1: TRẠNG GIÓNG ĐẶNG CÔNG CHẤT
Theo Quyết định của Ban Khuyến học Hội đồng gia tộc họ Đặng ở Việt
Nam, từ năm 2007 sẽ có phần thưởng động viên lòng hiếu học của dòng họ theo
đúng tinh thần “ Khuyến học, Khuyến tài, tiếp nối khoa danh dòng họ Đặng . Vì
dân, vì nước, nêu cao sự nghiệp dưới trời Nam”. Vị danh nhân được lựa chọn
để đặt tên cho giải thưởng là Trạng Nguyên Đặng Công Chất ( 1622 – 1683), vị
danh thần nổi tiếng thông minh và ngay thẳng. Ông sinh ra tại làng Phù Đổng
nên còn được gọi là Trạng Gióng.
Phúc đức tại mẫu
Tương truyền, dòng họ Đặng ở Việt Nam là con cháu của Trần Quốc Tuấn, vì
lí do này hay vì lí do khác mà đổi thành họ Đặng và chia nhau đi nhiều địa phương
khác nhau trong cả nước. Chi họ Đặng của Trạng Gióng về ở tại làng Phù Đổng
( huyện Tiên Du, tỉnh Bắc Ninh ) từ thế kỷ XVI thì thấy phong cảnh nơi đây núi
sông hữu tình. Theo sách “ Đặng gia phả hệ Toản chính thực lục và Đặng gia phả
ký tục biên Lương Xá, Hà Tây” ( do Ngô Thế Long dịch và chú thích, NXB Thế
giới ấn hành năm 2006 tại Hà Nội ), ông nội của Trạng Gióng tên là Đặng Minh
Phu, lúc trẻ từng đỗ đạt, làm quan lên tới chức Lại bộ Thị Lang, nhưng khi luống
tuổi , lại chỉ thích “ sống cảnh nhàn rỗi, dạy học”. Chính cụ Đặng Minh Phu là
người đã góp phần sửa đặt lễ nghi ở địa phương, bồi đắp thuần phong mỹ tục cho
làng Phù Đổng.
Thân phụ của Trạng Gióng là trưởng nam của cụ Đặng Minh Phu , tên là Hoà
Sắt, cũng là người có tiếng văn hay, mấy lần dự thi Hội đỗ Tam trường nên được
các quan rất quý. Cụ Đặng Hoà Sắt từng được bổ làm tri huyện Gia Định nhưng sau
11 năm lăn lộn quan trường, vẫn phải “giậm chân tại chỗ” nên cởi ấn về nhà theo
đuổi thú vui xem phong thuỷ …
Trạng Gióng là người con trai thứ 3, do bà chánh thất họ Nguyễn sinh ra. Thân
mẫu của Trạng Gióng cũng là người hiếu học, thuộc nhiều điển tích, ca dao. Tính
Chất nhìn chung thuận buồm xuôi gió. Phương châm hành xử chính của ông có thể
diễn giải bằng câu “ Kẻ sĩ rất quí ở cương trường”. Đặng Công Chất làm quan lúc
nào cũng rất mực thanh cần. Nhà vua rất hay vời ông vào cung để giảng
sách….năm 1676, Trạng Gióng từng được vua cử cùng Hồ Sĩ Dương đề tựa bộ
sách “ Lam sơn thực lục”, “tham khảo bản cũ cùng các sách gia đình để sửa lại, chỗ
nào sai thì chép lại cho đúng, chỗ nào sót thì bổ sung vào, cốt tiện đọc và truyền bá
rộng rãi…” Công việc của các công đã được đời sau đánh giá xứng đáng…Những
chức vụ cao nhất của Đặng Công Chất ở trong triều là Hình bộ Thượng thư và Binh
bộ Thượng thư. Khi Trạng Gióng từ trần, ông được tặng Lại bộ Thượng thư, Thiếu
bảo, tước Bá…
Lấy Nhân làm gốc
Tại chỗ ngồi của mình, Đặng Công Chất thường cho dán câu đối : “ Lượng
năng do kỷ hữu. Chí nghiệp tự thiên thành” ( Tài năng dù tự mình sẵn có, Sự
nghiệp lớn phải nhờ trời mới nên ).
Trong phép hành xử ở đời, Đặng Công Chất luôn lấy chữ tình và chữ nghĩa
làm trọng, ông hiểu những cái yếu của người đời nhưng không bao giờ lấy đó làm
điều. Cũng theo sách “ Đặng gia phả hệ Toàn chính thực lục và Đặng gia phả ký
tục biên- Lương Xá , Hà Tây”, khi Đặng Công Chất thi ứng chế, các quan triều
bình văn cho rằng văn của Đặng Công Chất hay hơn của người từng được cử vào
chức Thị thư khoa trước là Nguyễn Quốc Khôi. Nghe vậy, Nguyễn Quốc Khôi
không phục và có ý gây khó dễ cho Đặng Công Chất khi ông được cử làm Thị thư
mới. Thế nhưng , Trạng Gióng vẫn tươi cười như không và nhất mực đối đãi tử tế
với người tiền nhiệm. Ngày Nguyễn Quốc Khôi mất, Đặng Công Chất đang phải để
tang thân mẫu. Lệ thường, như Sách Lễ dạy, “ khi đang để tang cha mẹ, không nên
viếng điếu ai”. Thế nhưng , Đặng Công Chất khi nghe lời ngăn cản đã thốt lên : “
Tăng Tử trong lúc có trọng tang, vẫn đến viếng thăm Tử Hạ” ( Tăng Tử và Tử Hạ
là các “ đệ tử chân truyền” của Khổng Tử, hai trong số 72 người hiền). Tức là ông
muốn nói, người quân tử đôi khi phải biết vượt qua những phép tắc thông thường
mà ứng xử bất thường cho phải đạo nhân nghĩa. Không những thế, Đặng Công
Chất còn viết văn tế Nguyễn Quốc Khôi với những lời thấm thía : “ Ông bạn quý
nổi lên, điềm hay không ngẫu nhiên.Vì đức vua sáng như mặt trời, mặt trăng ).
Cách viết, cách nói ví von như thế, đến những câu thơ gọi là hậu hiện đại cũng
không thể mới hơn. Ông quan Trung Quốc “ xem bài thơ, đọc rõ từng câu, miệng
tủm tỉm cười, ngẫm nghĩ hồi lâu, uống xong trà” rồi bình luận : “ Bụng dạ nhà thơ ,
như nước sông muôn khoảnh mông mênh. Những dòng nước nhỏ nhuần tưới trong
khoảnh trăm dặm hay nghìn dặm, một giọt nước thêm vào cũng chẳng thấm gì .
NướcNam là nơi mặt trời đỏ rực, vùng đất oi nóng, không ngờ lại là nơi “ Lục
nhất” sinh thành ! Như vậy thì đạo của người quân tử ở đâu cũng là đạo “ Nhân”
mà thôi ! Hà tất phải theo hùa hay bắt chước giống hệt nhau…”
Đã thành rồi, ở đâu cũng có người tài, thời nào cũng có người tài, trên mọi
phương diện, cho muôn thuở…
Trạng Gióng là một nhân tài như thế của đất Việt, chứ không riêng họ Đặng.
Đặng Yên Hòa
Bài 2: TRẠNG NGUYÊN ĐẶNG CÔNG CHẤT
VÀ DÒNG HỌ ĐẶNG CỦA ÔNG
Đặng Công Chất đỗ Trạng Nguyên khoa Tân Sửu, Vĩnh Thọ thứ tư (1661), ông
là đồng tác giả Trùng san Lam sơn thực lục và Đại Việt sử ký tục biên, ông còn có
nhiều công lao về nội trị, ngoại giao đối với đất nước. Nhưng từ trước đến nay một
số sách chép về ông và dòng họ Đặng còn sơ sài, có những điểm chưa đúng. Qua
sưu tầm, khảo cứu, nhất là được các cụ trong dòng họ Đặng cho xem cuốn Đặng
thế gia phả ( gọi tắt là Thế phả) do Đặng Công Cơ ( con trai thứ 3 của Đặng Công
Chất ) viết năm Bính Ngọ 1726, tôi xin trình bày một số tư liệu mới để bạn đọc
tham khảo.
Đặng Công Chất sinh ngày 28 tháng 8 năm Nhâm Tuất ( 1622) ( Sách tìm hiểu
kho sách Hán Nôm của Trần Văn Giáp (tập 1) chép ông sinh năm 1621(?) ) ở làng
Phù Đổng huyện Tiên Du ( này là xã Phù Đổng , huyện Gia Lâm, Hà Nội ). Ông
vốn họ Trần , dòng dõi Hưng Đạo Vương – Trần Quốc Tuấn, đến đầu đời Lê có
ông Trần Văn Huy hiệu là Đặng Hiến ( 1410 -1475) đỗ nhị giáp Tiến Sĩ đình
nguyên năm Đại Bảo thứ ba (1442), làm quan tới Thượng thư bộ Hình di cư đến ở
chính trong thời gian này ông tham gia biên soạn Đại Việt sử ký tục biên do Tham
tụng Phạm Công Trứ chủ biên (*) ( Tìm hiểu kho sách Hán Nôm tập 1 Nxb Văn
Hoá , Hà Nội , 1984, trang 80) .Tháng ba năm Ất Tỵ (1665) ông được thăng chức
Hữu thị lang Bộ Công, có lẽ từ năm này ông cùng các ông Hồ Sĩ Dương và Đào
Công Chính biên tập cuốn “Trùng san Lam sơn thực lục”.
Tháng 5 năm Nhâm Tý (1672) , Đặng Công Chất về quê làng Phù Đổng chịu
tang mẹ, bất ngờ có việc Kiêu binh nổi loạn giết chết Bồi Tung ( Phó Tể tướng),
Trạng nguyên Nguyễn Quốc Trinh, triều đình liền sai Tuyển Quận Công đến nhà
triệu Đặng Công Chất về Thăng Long dẹp loạn. Ông Chất về kinh đô phủ dụ Kiêu
binh quân lính đều phục tùng. Sau đó tháng 7 năm Ất Mão (1675), ông được thăng
Tả thị lang Bộ Lại, rồi được cử làm Bồi tụng nhập thị kinh diên năm Đinh Tỵ
(1677), được cử làm trấn thủ Cao Bằng đánh dẹp Mạc Kính Vũ ở biên giới, sau đó
lại được triệu về Kinh “ quản thống 5 viên đại tướng” ( *) ( Đây là theo Thế phả,
Các bộ sử cũ đều ghi ông có khuyết điểm nên được gọi về triều Sách Lịch triệu tao
kỳ (tập 1) của Ngô Cao Lãng còn cho biết khoa thi Hội năm Bính Thìn ( 1676) Bồi
tụng Đặng Công Chất được cử làm Phó chủ khảo, khoa này đứng đầu bảng là Thám
hoa Nguuyễn Quý Đức ).
Năm Tân Dậu ( 1681) , Đặng Công Chất được cử làm Chánh sứ sang Trung
Quốc đàm phán với nhà Thanh. Quan hệ giữa 2 nước lúc này rất thân thiện nên vua
Thanh đã cử quan đại thần là Đàm Bất Miện ra đón và tiễn đoàn sứ bộ của ta rất
chu đáo. Khi đoàn sứ bộ ta ra về, Đàm Bất Miện tiễn đến sông Hoàng Hà cùng
Đặng Công Chất làm thơ xướng hoạ quyến luyến không rời nhau (1) ( Thế phả có
chép 1 bài thơ của Đặng Công Chất và 1 bài thơ của Đàm Bất Miện ).
Tháng 6 năm Nhâm Tuất ( 1682) đoàn sứ bộ về đến Thăng Long, Đặng Công
Chất được vua chúa khen ngợi , thăng Binh bộ Thượng thư tước Khánh Xuyên Tử,
ba ngày sau gia tăng Tham tụng ( Tể tướng). Nhưng chưa được bao lâu, ngày 2
tháng 7 năm Quý Hợi ( 1683) ông mất, vua lấy làm thương tiếc, đặt tên hiệu là
Trung Túc, tặng chức Lại bộ Thượng thư, Thiếu bảo và tước Khánh Xuyên Bá. Thế
phả cho biết ông khẳng khái có chí lớn, không làm dinh thự và để của. Làm quan
chẳng biết lợi lộc, bao nhiêu bổng lộc đem cấp cho người thân thuộc, nhà không có
bao kỷ niệm Chưa bao giờ tôi lại nhớ làng, nhớ hội Gióng đến thế. Tôi nhớ những
trận chiến kéo dài 3 cây số đê dọc sông Đuống, nhớ những đoàn quân, nhớ hình
ảnh đội phù giá kéo ngựa chạy lộc cộc trên mặt đường nóng bỏng, nhớ tiếng hát
phường Ải Lao và điệu múa mê hoặc của ông hổ. Tôi nhớ đến tuổi thơ tôi
Giờ đây, khi đã là người chiến sĩ, tôi càng thấm thía những bài học mà ông cha
ta gửi gắm trong lễ hội tuyệt vời này. Nếu có dịp tôi nhất định sẽ mời mọi người
trong đơn vị về dự hội Gióng. Hòa vào đó, mỗi người sẽ cảm nhận rõ hơn trách
nhiệm của mình với dân tộc, với Tổ quốc. Cần phải gắng sức hơn nữa để non sông
này mãi mãi vững bền.
Phạm Văn Thiệu
Bài 2: Di tích quốc gia đặc biệt - Phù Đổng Thiên vương
Câu chuyện Thánh Gióng đánh giặc trải qua hàng ngàn năm được các thế
hệ người Việt nhắc đến và học tập. Hình tượng người anh hùng tên Gióng đã
trở thành biểu tượng về của sức mạnh và lòng yêu nước của dân tộc ta. Ngày
nay, trên quê hương Thánh Gióng vẫn còn đó những di tích lịch sử và lễ hội
hằng năm vẫn được nhân dân tổ chức để tưởng nhớ công ơn người anh hùng
đánh giặc ngoại xâm, bảo vệ đất nước. Di tích lịch sử, kiến trúc nghệ thuật đền
Phù Đổng đã được Chính phủ công nhận là Di tích quốc gia đặc biệt (đợt 4,
ngày 9-12-2013). Hội Gióng là một nét văn hóa cổ truyền đặc sắc của dân tộc
Việt Nam và là một trong những di sản văn hóa phi vật thể của nhân loại.
NÉT ĐẶC SẮC CỦA KHU DI TÍCH
Cụm di tích lịch sử Phù Đổng Thiên Vương nằm trên bờ bắc sông Đuống,
trước kia thuộc phủ Tiên Du, tỉnh Bắc Ninh, nay thuộc huyện Gia Lâm, Hà Nội.
Đền Gióng được lập từ thời Hùng Vương. Sau này, khi vua Lý Thái Tổ định đô ở
Thăng Long đã cho tu sửa lại. Đền hiện nay còn giữ được nhiều bộ phận kiến trúc
của thời Lê Trung Hưng; gồm có tam quan, bái đường, hậu cung, nhà thủy đình để
múa rối nước ở ao trước đền, dựng vào thế kỷ XIX. Tượng Thánh Gióng cao 3m
được đặt ở giữa hậu cung. Ngoài ra đền còn có đôi rồng đá, đôi sư tử đá làm từ thời
Lê Dụ Tông (1705), cỗ ngai thờ từ thời Lê, bia năm 1660; đôi chim sứ cổ được cho
là của bà Chúa Chè Đặng Thị Huệ cung tiến cuối thế kỷ XVIII. Đặc biệt trong đền
hóa được bảo lưu, trao truyền khá liên tục và toàn vẹn qua nhiều thế hệ. Mặc dù ở
gần trung tâm thủ đô và đời sống cộng đồng trải qua nhiều biến động do chiến
tranh, do sự xâm nhập và tiếp biến văn hóa, nhưng Hội Gióng vẫn tồn tại một cách
độc lập và bền vững. Hội Gióng là một lễ hội văn hóa cổ truyền mô phỏng sinh
động và khoa học diễn biến các trận đấu của Thánh Gióng và nhân dân Văn Lang
chống giặc Ân. Thông qua đó nhằm nâng cao nhận thức cộng đồng về các hình
thức chiến tranh bộ lạc thời cổ xưa và liên tưởng tới bản chất tất thắng của cuộc
chiến tranh nhân dân, toàn dân, toàn diện trong sự nghiệp giải phóng và bảo vệ Tổ
quốc. Trung Lương
Bài 3: Lễ hội Thánh Gióng - một kí ức văn hóa
PGS.TS. Nguyễn Tri Nguyên
Huyền thoại Thánh Gióng đã có cuộc đời dài như lịch sử dân tộc và lễ hội
Gióng đã có từ vài trăm năm trước đây. Nghiên cứu huyền thoại và hội Gióng hơn
trăm năm có lẻ. Trở lại đề tài này sau nhiều công trình tài hoa của nhiều học giả đi
trước quả là một thách thức không nhỏ. Chúng tôi đành chọn lối nghiên cứu gián
tiếp hay còn gọi lối nghiên cứu văn bản thiên về lý thuyết. Chúng tôi muốn đề cập
tới việc tiếp cận lễ hội nói chung và hội Gióng nói riêng từ quan điểm có tính biện
chứng của nhà văn hóa học người Đức Jan Asman khi coi lễ hội như là hình thức
đầu tiên của ký ức văn hóa".
Một mặt, ông cho rằng: "Ký ức văn hóa gắn chặt với những lễ hội. Nó không
hoàn toàn như một dòng chảy, thâm nhập từ ngoài vào những cá thể, mà nói đúng
hơn là một thế giới vật thể, thế giới mà con người sáng tạo ra”. Và ở mặt khác: “Ký
ức văn hóa tuần hoàn theo hình thức hồi ức, mà khởi đầu là việc của các lễ hội và
việc tổ chức lễ hội”. Theo ông: “Sự lặp đi lặp lại nghi lễ đảm bảo cho tính liên kết
giữa cộng đồng trong không gian và thời gian. Thông qua lễ hội như là hình thức tổ
chức đầu tiên của kí ức văn hóa thì (hình thức) thời gian được chia ra thời gian
thường nhật (ngày thường) và thời gian lễ hội trong xã hội chưa có chữ viết. Vào
thời gian lễ hội hay còn gọi là “thời gian mơ mộng” của những ngày lễ lớn chân
trời tri thức được mở rộng vào vũ trụ, vào thời kì của sự sáng tạo, của những cái sơ
khai và của những chuyển biến lớn, mà thế giới thời cổ đại đã tạo ra. Những nghi lễ
Sứ giả vừa kinh ngạc, vừa mừng rỡ, vội vàng về tâu vua. Nhà vua truyền cho
thợ ngày đêm làm gấp những vật chú bé dặn. Càng lạ hơn nữa, sau hôm gặp sứ giả,
chú bé lớn nhanh như thổi. Cơm ăn mấy cũng không no, áo vừa mặc xong đã căng
đứt chỉ. Hai vợ chồng làm ra bao nhiêu cũng không đủ nuôi con, thành thử phải
chạy nhờ bà con, hàng xóm. Bà con đều vui lòng gom góp gạo thóc nuôi chú bé, vì
ai cũng mong chú giết giặc, cứu nước.
Giặc đã đến chân núi Trâu. Thế nước rất nguy, người người hoảng hốt. Vừa
lúc đó, sứ giả đem ngựa sắt, roi sắt, áo giáp sắt đến. Chú bé vùng dậy, vươn vai một
cái bỗng biến thành một tráng sĩ mình cao hơn trượng, oai phong lẫm liệt. Tráng sĩ
bước lên vỗ vào mông ngựa. Ngựa hí dài mấy tiếng vang dội. Tráng sĩ mặc áo giáp,
cầm roi nhảy lên mình ngựa. Ngựa phun lửa, tráng sĩ thúc ngựa phi thẳng đến nơi
có giặc, đón đầu chúng đánh giết hết lớp này đến lớp khác, giặc chết như rạ. Bỗng
roi sắt gẫy. Tráng sĩ bèn nhổ những cụm tre cạnh đường quật vào giặc. Giặc tan vỡ.
Đám tàn quân giẫm đạp nhau chạy trốn, tráng sĩ đuổi đến chân núi Sóc (Sóc Sơn).
Đến đấy, một người một ngựa, tráng sĩ lên đỉnh núi cởi giáp sắt bỏ lại, rồi cả người
lẫn ngựa từ từ bay lên trời.
Vua nhớ công ơn, không biết lấy gì đền đáp, phong là Phù Đổng Thiên
Vương và lập đền thờ ngay ở quê nhà. Hiện nay vẫn còn đền thờ ở làng Phù Đổng,
tục gọi là làng Gióng. Mỗi năm đến tháng tư làng mở hội to lắm. Người ta kể rằng
những bụi tre đằng ngà ở huyện Gia Bình vì ngựa phun lửa bị cháy mới ngả mầu
vàng óng như thế, còn những vết chân ngựa nay thành những hồ ao liên tiếp. Người
ta còn nói khi ngựa thét lửa, lửa đã thiêu cháy một làng, cho nên làng đó về sau gọi
là làng Cháy .
* Ký ức tín ngưỡng
Từ ký ức huyền thoại ấy, thánh Gióng đã đồng thời/kế tiếp trở thành ký ức
tín ngưỡng là một hình thức ký ức cộng đồng sâu sắc và mạnh mẽ nhất.
“Từ lâu người ta đã thờ Ông Đổng - cha khổng lồ ở một cái miếu cổ và cúng
ông bằng bát cơm đĩa cà (cúng chay vào tiết mưa dông đầu hè mồng 9 tháng 4 âm
lịch). Theo các cụ, trước và trong ngày ấy bao giờ cũng có gió bão sấm chớp mưa
to. Các cụ nói: đó là “Ông Đổng về hái cà” hay “Gió hái cà”. Cũng từ lâu làng
khát vọng của nhân dân ta góp nên ký ức cộng đồng. “Khác với sử sách, giàu hơn
sử sách, có những lời kể khi văn xuôi, khi vần vè của nhiều cụ già trên sáu mươi
tuổi về hình ảnh Dóng sinh ra, lớn lên và phóng ngựa đuổi giặc, gắn chặt với con
người, cây cỏ, đất nước và nghi lễ hội hè miền trung châu".
* Ký ức không gian
Không dừng lại ở đó, thiên huyền thoại còn được lưu giữ trong Ký ức không
gian với nhiếu dấu tích và di tích:
“Ngày nay dấu chân ông Đổng còn thấy ở nhiều nơi: làng Bình Tân (Xã Thị
Cầu - Quế Võ) núi Đạm (xã Nam Sơn - huyện Quế Võ), núi Khám (xã Việt Đoàn,
huyện Tiên Sơn), bờ giếng làng Bưởi - nồi (xã An Bình - huyện Gia Lương) đỉnh
Sóc (huyện Đa Phúc, tỉnh Vĩnh Phú) và đặc biệt là làng Dóng mốt (còn gọi là Vườn
Đổng, Đổng Viên hay Cố Viên), được nhận là vườn quê bà mẹ Dóng”. Ở đây có
một đặc điểm nổi bật trong văn hóa Việt là mối quan hệ biện chứng giữa không
gian hóa huyền thoại và huyền thoại hóa không gian. Dường như mỗi bước ta đi ở
trung châu mà ngỡ ta đi trong một không gian huyền thoại. Và điều này không chỉ
đúng với huyền thoại Thánh Gióng. GS. Trần Quốc Vượng đã nhận thấy tính đa
bình diện của ký ức không gian này bao gồm: một không gian địa lý - lịch sử và
một không gian biểu tượng.
Trước hết giáo sư đề cập tới một không gian địa lý - lịch sử:
"Không gian phân bố các di tich có liên quan đến huyền tích Gióng là một
miền chân núi châu thổ Bắc Bộ, được khoanh lại trong vùng tam giác nâu, với 3
đỉnh là:
1 - Làng Phù Đổng bên bờ sông Đuống: Quê hương và là nơi xuất phát của
Thánh Gióng, người khổng lồ ba tuổi.
2 - Núi Châu Cầu (Vũ Ninh nay thuộc Quế Võ) ở Lục Đầu Giang: "Chiến
trường" chống "Giặc Ân xâm lược, nơi Thánh Gióng giết tướng giặc Ân là Thạch
Linh (tinh Đá).
3 - Núi Sóc hay rặng núi Sót - đúng hơn là miền "trước núi" của dải Tam
Đảo hùng vĩ: Nơi Thánh Gióng cưỡi ngựa bay lên trời. Nối Châu Sơn và Sóc Sơn
là một sống đất cao dần lên, trên đó điểm từng cụm "vết chân ngựa Gióng".
lòng đất, trong lòng người, trong lòng lịch sử như chứng cứ muôn đời không phai
của kỳ tích anh hùng”.
* Ký ức lễ nghi
Hội Gióng là một lễ hội truyền thống hàng năm được tổ chức ở nhiều nơi
thuộc vùng Hà Nội để tưởng niệm và ca ngợi chiến công của người anh hùng
truyền thuyết Thánh Gióng, một trong tứ bất tử của tín ngưỡng dân gian Việt Nam.
Theo Nguyễn Văn Huyên thì "việc tổ chức hội Gióng như ngày nay mới bắt đầu từ
khoảng thế kỷ XI, đời Lý Thái Tổ". Lý Công Uẩn trước khi sáng lập ra triều Lý
sống ở chùa Kiến Sơ, gần đền Phù Đổng và thường đến đây dâng hương cầu xin
thần cho biết vận mệnh đất nước. Sau khi lên ngôi, Lý Thái Tổ đã ra lệnh tôn tạo,
mở rộng đền Phù Đổng và quy định thể thức tổ chức lễ hội. Theo Cao Huy Đỉnh:
“Vì trung châu là nơi đã gắn những đặc điểm xã hội và thiên nhiên của mình với
cuộc đời và chiến công thần kỳ của Dóng, là nơi đã dựng lên ngôi đền Dóng uy
nghi và mở hội Dóng náo nhiệt hàng năm. Đền Dóng và hội Dóng ấy đã khắc sâu
vào trí nhớ muôn đời của nhân dân hình tượng vô cùng rực rỡ của người anh
hùng.”.
Hội Gióng ở Sóc Sơn và hội Gióng ở xã Phù Đổng, có ý nghĩa và hoàn chỉnh
hơn những nơi khác, từ ý tứ truyền thuyết đến nghệ thuật diễn xướng, hay nói theo
Jan Asman, từ ký ức huyền thoại đến ký ức lễ nghi. Những nghi thức được quan
tâm, chứa đựng trong nó sự huyền bí và sức sống của một huyền thoại gắn liền với
lòng tự chủ dân tộc của người Việt Nam. Ở phương diện này có thể coi hội Gióng
như là hình thức ký ức văn hóa đầu tiên.
Đây là cơ hội để người tham dự được chứng kiến một hệ thống lễ thức với
các thao tác thuần thục, uy nghi, mang tính nghệ thuật và tính biểu tượng cao nhằm
tái hiện mối quan hệ nhiều chiều giữa làng và nước, giữa cá nhân và cộng đồng,
giữa quá khứ và hiện tại, giữa thực và ảo, giữa thiêng liêng và trần tục. Trong bài
viết này dành mối quan tâm và phân tích hội Gióng Phù Đổng.
Hội Gióng Phù Đổng chính thống được tổ chức hàng năm vào hai ngày
mùng 8 và mùng 9 tháng 4 âm lịch tại xã Phù Đổng, huỵện Gia Lâm, thành phố Hà
Nội, nơi sinh ra người anh hùng huyền thoại “Phù Đổng Thiên Vương". Để biểu đạt
Như là một ký ức văn hóa phong phú và đa dạng, lễ hội Thánh Gióng là sự
chuyển hoá và tổng hợp từ ký ức huyền thoại óký ức tín ngưỡng ó ký ức không
gian ó ký ức văn bản ó ký ức lễ nghi. Có thể nói, lễ hội Thánh Gióng đã biểu tượng
hóa, diễn xướng hóa và vừa mã hóa vừa giải mã huyền thoại Thánh Gióng để
truyền đạt về một ý niệm văn hóa của dân tộc ta, đó là chủ nghĩa anh hùng yêu
nước và đưa nó tái hòa nhập vào ký ức cộng đồng. Ký ức văn hóa đã giải đáp vấn
đề này như sau: “Với tư cách là một khái niệm tổng hợp đối với tất cả tri thức, ký
ức văn hóa điều khiển hành động và trải nghiệm trong khuôn khổ liên hành động
đặc thù của một xã hội và chuyển giao từ thế hệ này sang thế hệ khác để luyện tập
và chỉ dẫn, lặp đi lặp lại” .
Đúng như Jan Assmann đã viết như sau: “Với khái niệm ký ức văn hóa
chúng ta đã tổng kết đặc điểm độc đáo của mỗi xã hội và mỗi thời kỳ về mặt tái sử
dụng các văn bản, các bức tranh và các nghi lễ, trong đó sự bảo tồn của chúng sẽ
đảm bảo “chân dung tự họa” và đưa đến cho cộng đồng những tri thức được chia xẻ
có tính tập thể về quá khứ dựa vào một nhóm những ý thức về sự thống nhất và đặc
trưng”.
Chức năng của ký ức văn hóa là sáng tạo và củng cố một “bức chân dung tự
họa”- như Jan Assmann viết tiếp - Một dân tộc sẽ phát triển bản sắc dân tộc hay
chủ nghĩa dân tộc. Việc dân tộc và nhân dân phát triển “bức chân dung tự họa” là
điều không phải bàn cãi”.
Lễ hội nói chung và lễ hội Thánh Gióng nói riêng là sự thể hiện, là sự phát lộ
của kí ức văn hóa ấy, của kí ức tín ngưỡng, kí ức cộng đồng. Lễ hội Thánh Gióng là
một nghi thức thờ cúng anh hùng dân tộc, đồng thời là một cuộc tổng diễn xướng
anh hùng ca Thánh Gióng trên một quy mô rộng lớn. Nó là một bước phát triển
phong phú của anh hùng ca dân tộc. Một lần nữa, huyền thoại này trong đó có
những yếu tố cổ nhất, hồn nhiên nhất đã sống lại, làm sống lại chủ đề và hình tượng
người anh hùng tập thể của bộ lạc đang được nâng lên thành người anh hùng dân
tộc với một chất lượng mới: một biểu tượng văn hóa có tầm vóc đặc biệt thể hiện
khát vọng muôn đời và hào khí của dân tộc ta.
Bài 4: Đền Phù Đổng và Lễ hội Gióng
(coi như trận địa giặc Ân), 28 nữ tướng cũng dàn thế trận. Họ ngồi trên kiệu.
Khoảng quá trưa, đội thám mã về đền thông báo giặc đã đóng quân ở Đống Đàm.
Thế là chiêng trống nổi lên, đoàn quân của chàng Gióng tiến về Đống Đàm dưới
hình thức một đám rước. Đi đầu là 24 thiếu niên dẹp đường rồi đến tướng tiên
phong, ông hổ, phường Ải Lao, các tướng của Gióng và người xem hội.
Chiến trường Đống Đàm là một bãi nhỏ nằm giữa hai con đê. Tại đây đã trải
sẵn ba chiếc chiếu, mỗi chiếc có một bát úp trên một tờ giấy trắng. Chiếu tượng
trưng cho đồng bằng, bát là núi, giấy là mây. Đám rước tới nơi, các tướng đến các
vị trí cuộc chiến bắt đầu Ba đợt phất cờ dân gọi là ba ván thuận. Các nữ tướng
của giặc Ân lúc này cũng quay khăn về phía đền, tỏ ý bị tan rã. Trống chiêng lại nổi
lên, quân của Thánh Gióng đã thắng.
Đám rước trở về đền mở tiệc khao quân. Nhưng vào giữa bữa tiệc, thám mã
cấp báo rằng quân giặc đang vây ở Sòi Bia. Cuộc chiến đấu cũng diễn ra như ở
Đống Đàm, có điều là hiệu cờ lại phất cờ từ trái sang phải, gọi là ba ván nghịch.
Khi ván thứ ba chấm dứt, quân giặc đại bại, tướng giặc bị bắt giải về đền cùng với
trống chiêng rền vang báo tiếp. Tại đây hai tướng giặc bị hất mũ và phanh áo, ngụ ý
bị chém đầu và lột da. Tiếp đó làm lễ dâng thủ cấp giặc. Xong lễ, tiệc khao bắt đầu,
không khí chiến thắng lại bao trùm . Buổi tối có các trò chơi dân gian, diễn tuồng…
được kéo dài tới khuya.
Ngày 16/11/2010, lễ hội Gióng ở đền Phù Đổng và đền Sóc (huyện Sóc Sơn)
đã được UNESCO công nhận là di sản văn hóa phi vật thể đại diện của nhân loại.
Triệu Chinh Hiểu
5.3. Ứng dụng công nghệ thông tin
- Sử dụng phần mềm Microsoft Office PowerPoint 2003 .
- Máy ảnh.
VI. Hoạt động dạy học và tiến trình dạy học
TRỢ GIÚP CỦA GIÁO VIÊN HOẠT ĐỘNG CỦA HỌC SINH
Hoạt động 1: Tổ chức lớp
- Giáo viên ổn định lớp học.
Hoạt động 2: Tìm hiểu khái quát về Phù Đổng - Con người và Lịch sử
- Phù Đổng là vùng đất cổ lâu đời của
đồng bằng châu thổ sông Hồng.
- Trước cách mạng tháng 8 thuộc Huyện
Tiên Du Bắc Ninh.
- 20/4/1961 chuyển về Gia Lâm Hà Nội.
3. Con người
- Phù Đổng là nơi xuất hiện sớm người
Việt cổ.
- Có nhiều danh nhân.
Hoạt động 3: Phù Đổng – Văn hóa và di sản
GV: chuyển ý, giới thiệu chung về các
công trình kiến trúc văn hóa.
GV: cho học sinh quan sát các hình ảnh
về các công trình kiến trúc .
* Cho học sinh chơi trò chơi “ Ai
nhanh”
II. Phù Đổng – Văn hóa và di sản
1. Những công trình kiến trúc cổ và di
tích.