ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
KHOA LUẬT
NGUYỄN HƢƠNG LY TẬP ĐOÀN KINH TẾ NHÀ NƢỚC TẠI VIỆT NAM
- BẢN CHẤT PHÁP LÝ VÀ VẤN ĐỀ XÂY DỰNG KHUNG
PHÁP LUẬT ĐIỀU CHỈNH LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC
HÀ NỘI - 2010
ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
KHOA LUẬT NGUYỄN HƢƠNG LY TẬP ĐOÀN KINH TẾ NHÀ NƢỚC TẠI VIỆT NAM
- BẢN CHẤT PHÁP LÝ VÀ VẤN ĐỀ XÂY DỰNG KHUNG
MỤC LỤC
LỜI CAM ĐOAN
MỤC LỤC
DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT
MỞ ĐẦU 1
TỔNG QUAN 7
1.1. Các mô hình kinh tế nhà nƣớc và doanh nghiệp nhà nƣớc trên thế giới 7
1.1.1. Mở đầu 7
1.1.2. Mô hình nước Nga 8
1.1.3. Mô hình các nước OECD qua ví dụ Cộng hoà liên bang Đức (“CHLB Đức”) 11
1.1.4. Mô hình Singapore 14
1.1.5. Mô hình Trung Quốc, Việt Nam 19
1.1.6. Tóm lược và nhận xét 22
1.2. Các mô hình tập đoàn công ty 23
1.2.1. “Conglomerate” và “Multinational Corporation” ở Phương Tây 24
1.2.2. “Zaibatsu” và “Keiretsu” ở Nhật 28
1.2.3. “Chaebol” ở Hàn Quốc 32
1.2.4. Tóm lược và nhận xét 35
1.3. Tóm tắt quá trình xây dựng và cải cách DNNN ở Việt Nam 37
1.3.1. Giai đoạn từ 1954 đến 1986 37
1.3.2. Giai đoạn từ 1987 đến 1994 39
1.3.3. Giai đoạn 1995 đến 2006 41
1.3.4. Giai đoạn từ 1/7/2006 đến nay 45
1.3.5. Tóm lược và nhận xét 47
1.4. Các vấn đề đặt ra từ khung pháp luật về doanh nghiệp hiện hành 49
1.4.1. Mục tiêu của khung pháp luật 49
1.4.2. Phương pháp xây dựng khung pháp luật 51
1.4.3. Hiện trạng các vấn đề đặt ra và giới hạn nghiên cứu 53
Chƣơng 2 56
DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT
DNNN:
Doanh nghiệp nhà nước
TĐKTNN:
Tập đoàn kinh tế nhà nước
KTNN:
Kinh tế nhà nước
LDN:
Luật Doanh nghiệp
tăng cạnh tranh về kinh doanh không chỉ với các thành phần tư nhân trong nước mà
còn với các lực lượng quốc tế ngay chính tại thị trường nội địa, nói như ngôn ngữ
báo chí là tạo ra các “quả đấm thép” của kinh tế nhà nước Việt Nam.
Tuy nhiên, việc sáng tạo ra một mô hình tổ chức và pháp lý doanh nghiệp
không đơn thuần là sự khẳng định động cơ và ý chí của Chính phủ, mà bản thân nó
bao hàm các nguyên lý khoa học của nhiều chuyên ngành và lĩnh vực, kết hợp với
các năng lực tổ chức thực tiễn phù hợp.
Về mặt kinh tế, đã có bằng chứng đầu tiên một cách xác đáng về sự thất bại
của việc thử nghiệm chính sách “tập đoàn hoá” các DNNN, đó là sự sụp đổ gần đây
2
của Tập đoàn kinh tế Vinashin trong lĩnh vực công nghiệp đóng tàu thuỷ sau bốn
năm hoạt động, từ thời điểm có quyết định thành lập của Thủ tướng Chính phủ ngày
15/6/2006.
Về mặt pháp lý, kể từ năm 2008 trở lại đây, trên các diễn đàn nghiên cứu và
học thuật, đã có nhiều các cuộc thảo luận và bài viết về TĐKTNN, với các câu hỏi,
nghi vấn đặt ra, thậm chí cả sự phủ nhận, về tính không rõ ràng hay sự không tồn tại
về phương diện thực thể pháp lý của cái gọi là “tập đoàn kinh tế”, cũng như việc
thiếu các cơ sở pháp lý hay khung pháp luật cho nó hoạt động. Điều này có thể
được minh chứng ngay trong hai văn bản pháp quy duy nhất do Chính phủ ban hành
điều chỉnh việc thành lập và hoạt động của TĐKTNN, đó là Quyết định số 90/TTg
và số 91/TTg ngày 7/3/1994 về thí điểm thành lập tập đoàn kinh doanh và Nghị
định 101/2009/NĐ-CP ngày 5/11/2009 về thí điểm thành lập, tổ chức, hoạt động và
quản lý TĐKTNN. Vấn đề ở chỗ cả ba văn bản này đều có tính chất và hiệu lực áp
dụng thí điểm, có nghĩa rằng các quy định của hai văn bản này có thể được hiểu là
có hiệu lực hạn chế cả về thời gian và đối tượng điều chỉnh, chưa chính thức, không
cơ bản, không lâu dài và hơn nữa có thể sửa đổi, huỷ bỏ hay thay thế bắt cứ lúc nào
(mà không dự báo được) v.v Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật cũng
không quy định loại hình văn bản pháp quy “thí điểm”. Như vậy, đối chiếu với thực
tiễn pháp luật Việt Nam, nó phải được coi là các văn bản hành chính hơn là văn bản
nước. Tập đoàn doanh nghiệp được hình thành từ doanh nghiệp theo quy trình phát
triển tự nhiên của đời sống kinh tế nói chung và các hoạt động kinh doanh nói riêng.
Xét theo các tiêu chí của khoa học kinh tế và khoa học quản trị thì “tập đoàn”
đương nhiên khác về bản chất với “doanh nghiệp” trên cơ sở quy mô về tài chính,
hoạt động kinh doanh, biên chế nhân sự, cũng như độ phức tạp về cấu trúc tổ chức,
quản lý. Tuy nhiên, xét từ góc độ pháp lý thì lại không hẳn như vậy, khi sự phân
tích, đánh giá xoay quanh hai phạm trù chính là tư cách chủ thể (tức tư cách pháp
nhân) và việc xác định các quyền và nghĩa vụ pháp lý của các bên tham gia trong
các quan hệ, giao dịch với doanh nghiệp hay tập đoàn doanh nghiệp. Tiếp đến, khi
doanh nghiệp hay tập đoàn doanh nghiệp thuộc sở hữu nhà nước hay do nhà nước
4
thành lập thì vấn đề cần bàn đến không chỉ liên quan đến khía cạnh sở hữu thuần
tuý, mà quan trọng hơn là tính chất đặc thù của chủ thể nhà nước, xét từ phương
diện vị thế, vai trò và chức năng của thiết chế đại diện bao trùm và cao nhất của
quyền lực công. Nói một cách cụ thể, khái niệm “kinh tế nhà nước” liên quan đến
chức năng kinh tế của nhà nước, vốn là vấn đề được nghiên cứu và tranh luận trong
giới học thuật cũng như đời sống thực tiễn trong nhiều năm qua.
Thứ hai, chứng minh các vấn đề về tính phù hợp và chưa phù hợp của các
văn bản pháp quy điều chỉnh tổ chức và hoạt động của các TĐKTNN hiện hành, từ
đó đề xuất các khuyến nghị về xây dựng khung pháp luật điều chỉnh liên quan.
Theo cách tiếp cận về khái niệm như trên, sẽ không đơn giản để cho rằng
TĐKTNN chịu sự điều chỉnh của Luật Doanh nghiệp và khung pháp luật về doanh
nghiệp có liên quan. Sự phức tạp ở chỗ, với tư cách là hai phạm trù hoàn toàn độc
lập với nhau, DNNN hay TĐKTNN chịu sự chi phối của hai lĩnh vực pháp luật:
“luật tư” (hay luật dân sự và thương mại) điều chỉnh các vấn đề liên quan đến công
ty và doanh nghiệp; và “luật công” (hay luật hành chính) điều chỉnh các vấn đề liên
quan đến tài sản công, quyền và chức năng hoạt động kinh tế của nhà nước, các
chính sách kiểm soát và điều tiết vĩ mô đối với nền kinh tế. Ngoài ra, một khi các
doanh nghiệp hay công ty đã phát triển tới một quy mô to lớn, được gọi là “tập đoàn
Phù hợp với thể loại, tính chất và mục tiêu của đề tài nghiên cứu, tác giả dự
kiến lựa chọn các phương pháp tiếp cận lịch sử, phương pháp khảo sát, điều tra,
phương pháp so sánh, phương pháp phân tích, phương pháp hệ thống để nghiên cứu
đề tài.
Những đóng góp của Luận văn:
Xét từ góc độ khoa học kinh tế và khoa học quản lý, đã có rất nhiều các công
trình, đề án nghiên cứu về vấn đề tập đoàn kinh tế, đặc biệt là TĐKTNN với tư cách
là các thực thể kinh tế. Cụ thể, các cơ sở nghiên cứu của Nhà nước như Viện
Nghiên cứu quản lý kinh tế trung ương (thuộc Bộ Kế hoạch và đầu tư), Viện Kinh
tế (thuộc Ủy ban Khoa học xã hội), Trường Đại học kinh tế quốc dân và nhiều tổ
chức, cá nhân các nhà khoa học về kinh tế và quản lý đã tiến hành nghiên cứu các
đề tài liên quan, từ khi bắt đầu công cuộc Đổi mới năm 1986 đến nay. Tựu trung,
6
các kết quả và thành tựu nghiên cứu nói trên chủ yếu xoay quanh các quan hệ tổ
chức nội bộ tập đoàn kinh tế hay các tổng công ty nhà nước, vấn đề bảo toàn vốn
thuộc sở hữu nhà nước, vấn đề tăng cường hiệu quả kinh doanh, hay vai trò và tác
động của các tập đoàn kinh tế hay tổng công ty nhà nước với tư cách là một loại
công cụ điều tiết vĩ mô của nhà nước đối với nền kinh tế cũng như xã hội.
Như vậy, ít nhất có các “mảng trống” về lý luận cần được bù đắp bằng các nghiên
cứu tiếp theo, đó là: Nghiên cứu vấn đề kinh tế quốc doanh và TĐKTNN từ góc độ
luật học; Nghiên cứu để lý giải mâu thuẫn giữa hai yếu tố “cấu trúc kinh tế” và “chủ
thể pháp lý” trong vấn đề tập đoàn kinh tế; và trên cơ sở sự nghiên cứu đó, đề xuất
ra hướng giải quyết về lý luận cho các vấn đề và nhiệm vụ thực tế mang tính chính
trị, kinh tế và xã hội sau:
+ Xu hướng cho rằng các tập đoàn kinh tế được hình thành một cách tự nhiên của
quá trình tích tụ tư bản và liên kết kinh tế;
+ Xu hướng cho rằng có thể tác động hành chính và kinh tế để thúc đẩy sự hình
thành sớm hơn các liên kết kinh tế, qua đó thúc đẩy tốc độ tăng trưởng kinh tế;
+ Xu hướng cho rằng việc hình thành các TĐKTNN có ý nghĩa chính trị to lớn và
hướng ngược lại, đó là tăng cường điều chỉnh của nhà nước và đương nhiên bao
gồm cả vai trò quan trọng của và DNNN.
Các khuynh hướng và trào lưu nói trên đương nhiên tác động mạnh mẽ đến
khung pháp luật điều chỉnh có liên quan ở nhiều nước. Khoa học pháp lý, tuy nhiên,
đã đạt được một thành tựu rất cơ bản. Đó là những thành tố mang tính hệ thống của
khung pháp luật vẫn giữ được tính ổn định, mặc dù các điều chỉnh nhất định buộc
phải được thực hiện đi theo các thay đổi của hệ thống chính sách vĩ mô của các
chính phủ. Tác giả, trong phần trình bày dưới đây muốn nói tới các mô hình pháp lý
hay khung pháp luật điều chỉnh KTNN và DNNN ở các quốc gia hay khu vực điển
hình như: nước Nga, các nước thuộc khối OECD (điển hình là Đức), Singapore, và
cuối cùng là Trung Quốc và Việt Nam.
8
Ở mỗi mô hình được trình bày, tác giả sẽ tập trung vào ba nội dung chủ yếu,
đó là: mục tiêu của KTNN và DNNN, hình thức tổ chức pháp lý của DNNN và
khung pháp luật điều chỉnh có liên quan. Trong khi trình bày, tác giả cũng sẽ chú
trọng vào các vấn đề có tính liên quan hay thực sự hữu ích đối với việc nghiên cứu
có tính so sánh với mô hình và hiện trạng của nước ta.
1.1.2. Mô hình nước Nga
Tác giả sử dụng mô hình nước Nga vì có nhiều sự giống nhau trong quá khứ
với Việt Nam, đồng thời hiện nay, sự trùng hợp còn ở chỗ Chính phủ Nga với một ý
đồ chính sách rõ ràng đặc biệt coi trọng sự khẳng định quyền lực của chính quyền
trung ương thông qua DNNN và mặc dù quá trình tư nhân hoá ở Nga diễn ra rất
mạnh mẽ và triệt để từ đầu những năm 90 (thế kỷ trước), sức mạnh và ảnh hưởng
của các DNNN vẫn đang tiếp tục hết sức mạnh mẽ.
Về mục tiêu của DNNN
Cũng giống như ở Việt Nam, mục tiêu của DNNN ở Nga không phải luôn
luôn được quy định một cách rõ ràng và đầy đủ trong các đạo luật hay quy chế hoạt
động của doanh nghiệp, tuy nhiên, khai quát hoá từ các chính sách và thực tiễn thì
có thể xác định, bao gồm hai nội dung cơ bản. Đó là:
- Các DNNN “đích thực”, sở hữu 100% của nhà nước, còn được gọi là các
tập đoàn chiến lược hoạt động trong các lĩnh vực quan trọng như quốc phòng, năng
lượng hạt nhân v.v như Rosatom, Rosnanotekh. Đáng lưu ý là các DNNN loại này
hoàn toàn không có mục tiêu lợi nhuận và được tổ chức như các cơ quan nhà nước
hơn là các công ty. Mặc dù tính chất đặc biệt như vậy, các doanh nghiệp loại này
vẫn có thể tham gia vào các hoạt động thương mại theo chỉ định của các cơ quan
chính phủ, chẳng hạn như trường hợp gần đây của Tập đoàn năng lượng hạt nhân
Rosatom khi tham gia vào dự án xây nhà máy điện hạt nhân đầu tiên ở miền Trung
Việt Nam.
10
Về khung pháp luật điều chỉnh
Nếu theo truyền thống xây dựng pháp luật của nước ta, các quy định về chế
độ kinh tế nói chung và vai trò của doanh nghiệp nhà nước bao giờ cũng được coi là
một phần không thể thiếu của Hiến pháp, thì Hiến pháp Cộng hoà liên bang Nga lại
không hề đề cập đến vấn đề này, ngoại trừ một nội dung có tính liên quan duy nhất
là nguyên tắc về sự bình đẳng giữa các loại hình sở hữu. Đây là sự thay đổi có tính
bước ngoặt so với Hiến pháp Liên Xô trước đây, trong đó, tương tự như Hiến pháp
của nước tá, có cả một chương riêng về Hệ thống kinh tế, bao hàm vấn đề sở hữu
nhà nước và kinh tế nhà nước.[26]
Trong hệ thống pháp luật của nước Nga đã có sự phân biệt giữa “luật tư” và
“luật công”. Liên quan đến các tổ chức kinh tế và doanh nghiệp, Luật Công ty cổ
phần Cộng hoà liên Bang Nga được coi là một bộ phận của phạm trù “luật tư”. Theo
đó, các DNNN Nga tổ chức dưới hình thức công ty cổ phần, dù ở dạng “đóng”
(ZAO) hay dạng “mở” (OAO) đều được thành lập và hoạt động theo Luật này. [28]
Đối với hai loại hình DNNN còn lại là doanh nghiệp đơn nhất hay một chủ
(Unitary Enterprise) và DNNN đóng vai trò chiến lược thuộc 100% sở hữu nhà
nước, Nhà nước Nga (tức chính phủ liên bang và/ hoặc chính quyền các bang) ban
hành các văn bản pháp luật riêng rẽ điều chỉnh các loại doanh nghiệp này, bao gồm
hai loại là (i) văn bản điều chỉnh một nhóm doanh nghiệp cùng loại và (ii) văn bản
Cả trong lý luận và thực tiễn, sự tồn tại của các DNNN ở CHLB Đức luôn
luôn đối mặt với hai sự kiểm soát đều đồng thời có liên hệ đến các nguyên lý cơ bản
của tổ chức nhà nước Đức. Với mục tiêu theo đuổi nền kinh tế thị trường, nhà nước
chỉ được phép tham gia vào các hoạt động kinh tế (bao gồm cả việc thành lập
DNNN hay góp vốn vào doanh nghiệp) một khi được một đạo luật cụ thể cho phép.
Ngược lại, do khẳng định tính chất xã hội của thị trường, nhà nước (Chính phủ liên
bang, chính quyền các bang và chính quyền các địa phương) theo các nguyên tắc
của hiến pháp hay “Luật cơ bản” (Grundgesetz) có nghĩa vụ tối cao là bảo đảm “đời
sống thiết yếu” (Daseinsvororge) cho người dân, trong đó, để thực hiện nhiệm vụ
này, cơ quan chính quyền được sử dụng các biện pháp tốt nhất có thể, bao gồm cả
12
việc tham gia vào các hoạt động kinh tế, tuy nhiên với điều kiện rằng các hoạt động
kinh tế đó phải mang lại hiệu quả đích thực. Cụ thể, điều đáng lưu ý là chẳng hạn,
nếu cơ quan chính quyền đã quyết định góp vốn vào một doanh nghiệp để làm tìm
kiếm nguồn thu bổ sung cho ngân sách địa phương, hoặc thành lập một DNNN để
đảm bảo việc cung ứng một dịch vụ công trên địa bàn, nhưng việc làm đó không có
hiệu quả thì cơ quan chính quyền sẽ phải xem xét chấm dứt việc kinh doanh và giải
thể DNNN.
Như vậy, xét về tổng thể, DNNN bản thân nó không phải là một phạm trù có
tính nguyên lý cũng như không đóng vai trò tất yếu trong bảo đảm thực thi các chức
năng chính trị, kinh tế và xã hội của nhà nước Đức, ngay cả khi nhà nước đó được
xây dựng trên nền tảng của học thuyết “kinh tế thị trường xã hội”. Một vấn đề mấu
chốt nhưng đồng thời cũng rất tinh tế được giới luật học Đức quan tâm chính là làm
sao bảo đảm được tính nguyên tắc trong các mối quan hệ giữa nhà nước và thị
trường và gianh giới rõ ràng giữa hai thiết chế này. Chính vì thế khi bàn đến phạm
trù DNNN, một vấn đề khác có liên quan đã tất yếu được đề cập, đó là “tư nhân
hoá” (Privatizierung). Khái niệm “tư nhân hoá” ở Đức không chỉ được hiểu là bán
hay chuyển đổi hình thức sở hữu của các DNNN từ “công” sang “tư”, mà bao gồm
cả việc xem xét, đánh giá việc tư nhân hoá các nhiệm vụ công (oeffentliche
“luật công”. Điều rất đáng lưu ý là hệ thống luật tư đã tồn tại từ rất lâu đời và và ổn
định mặc cho các biến động chính trị hay thay đổi về nhà nước (chẳng hạn hai bộ
luật BGB và HGB đều được ban hành, tương ứng, vào năm 1896 và 1897 và vẫn
đang có hiệu lực với những sửa đổi, bổ sung nhất định nhưng không đáng kể).
Trong khi đó, Luật Cơ bản được ban hành vào năm 1949 khi nhà nước CHLB Đức
được thành lập. Tất cả các hình thức công ty ở Đức đều được quy định trong Bộ luật
Dân sự và Bộ luật Thương mại. Riêng đối với hai hình thức của loại công ty đối vốn
là Công ty cổ phần và Công ty trách nhiệm hữu hạn, ngoài hai Bộ luật nói trên, còn
có hai luật đơn hành có ý nghĩa như “luật riêng”, đó là Luật Công ty cổ phần (ban
hành năm 1937) và Luật Công ty trách nhiệm hữu hạn (ban hành từ năm 1892,
trước khi ra đời Bộ luật Thương mại).
14
Các DNNN hoạt động theo “luật tư” đều chịu sự điều chỉnh của các luật nói
trên.
Ngoài ra, ở Đức không có một luật chung về DNNN. Đối với các DNNN
hoạt động theo “luật công”, có thể nói rằng cơ sở pháp lý quan trọng nhất chính là
Đạo luật cơ bản. Mặc dù Đạo luật cơ bản không có bất cứ điều khoản nào nói tới
DNNN nhưng lại quy định về quyền hạn và trách nhiệm của chính quyền. Với cách
tiếp cận theo quyền hạn và trách nhiệm của chính quyền, việc thành lập các DNNN
hoạt động theo “luật công” sẽ tuỳ thuộc vào việc áp dụng hai nguyên tắc sau, đó là
(i) nguyên tắc linh hoạt theo nhu cầu và linh hoạt theo lãnh thổ (có nghĩa rằng tuỳ
từng thời điểm khác nhau và ở mỗi vùng, miền hay lãnh thổ hành chính khác nhau
mà có thể tồn tại nhiều, ít hay các loại DNNN khác nhau; và (ii) mọi việc thành lập
DNNN phải được các cơ quan dân cử từ Quốc hội liên bang, Quốc hội bang đến hội
đồng nhân dân của các tỉnh hay thành phố phê chuẩn bằng các đạo luật hay quyết
định. [10]
Tóm lại, điều đáng lưu ý và cũng đáng để học tập nhất trong mô hình CHLB
Đức là sự rõ ràng tới mức chuẩn mực và có tính nguyên tắc trong việc phân định
gianh giới giữa nhà nước và thị trường. Thị trường là nền tảng và trung tâm. Nhà
quan trọng của nền kinh tế. Một nền kinh tế thị trường với DNNN là chủ đạo nhưng
đã tạo nên những thành tích thần kỳ để biến Singapore thành hàng đầu thế giới trên
nhiều lĩnh vực như: GDP trên đầu người, môi trường kinh doanh trong sạch và năng
động, quản trị công ty hiệu quả, nền chính trị sạch/không tham nhũng v.v [41]
Trên thực tế, có thể nói rằng các DNNN của Singapore (với các tập đoàn lớn
thuộc loại “top” của thế giới như Temasek Holdings hay Singapore Government
Invesment Corporation - GIC), đã đảm nhiệm đồng thời cả hai sứ mệnh chính trị và
kinh tế, là điều rất giống với mô hình DNNN ở các quốc gia phát triển thuộc khối xã
hội chủ nghĩa trước đây. Sự kết hợp thành công giữa DNNN và kinh tế thị trường,
tuy nhiên, vẫn được coi như một bí quyết hay đặc thù riêng của Singapore mà khó
có thể trở nên phổ quát.
Về hình thức tổ chức pháp lý
16
Có khá nhiều chất vấn và tranh cãi về loại hình pháp lý của hai DNNN hàng
đầu và chủ chốt nhất của Singapore là Temasek Holdings và GIC, với một câu hỏi
trọng tâm: đó là cơ quan chính phủ hay doanh nghiệp? Thậm chí, năm 2008, trong
bối cảnh của khủng hoảng tài chính toàn cầu, Quốc hội Mỹ đã chất vấn lãnh đạo của
Temasek Holdings về câu hỏi trên liên quan đến các đầu tư của tập đoàn này tại
Hoa Kỳ.
Chính phủ Singapore đã khẳng định và thực tế cũng chứng minh đặc điểm
chung của cả hai tập đoàn này, đó là các tổ chức thuộc sở hữu 100% của Chính phủ
Singapore nhưng được tổ chức và hoạt động hoàn toàn như một doanh nghiệp. Cả
Temasek và GIC đều lấy chức năng đầu tư làm chính, tuy nhiên, nếu như Temasek
được tổ chức theo mô hình công ty holding thì GIC lại hoạt động như một quỹ đầu
tư (Sovereign Wealth Fund).
- Về Temasek Holdings. Công ty này được Chính phủ Singapore thành lập từ
năm 1974 với nhiệm vụ sử dụng vốn nhà nước đề đầu tư trực tiếp và gián tiếp vào
các doanh nghiệp chủ chốt và thuộc các lĩnh vực kinh tế thiết yếu của Singapore.
Thời gian sau đó, cùng với sự lớn mạnh về tài chính và năng lực kinh doanh, hoạt
Singapore cần một yếu tố quan trọng để bảo đảm thành công, (và bản thân chính
phủ Singapore đã nhận ra và đáp ứng hoàn toàn được yếu tố này), đó là đội ngũ
nhân sự quản lý xuất sắc, có các năng lực và phẩm chất hàng đầu. Trên thực tế, mặc
dù là nhà đầu tư, Temasek và GIC không cần cử nhân sự của mình tham gia vào hội
đồng quản trị của tất cả các công ty được đầu tư mà chỉ cần tác động qua các đại
điện của mình tại đại hội cổ đông, nhưng khả năng giám sát và đóng góp của họ vẫn
luôn luôn được bảo đảm. [36]
Về khung pháp luật điều chỉnh
Để bảo đảm sự tuân thủ tuyệt đối với nguyên tắc thị trường, các DNNN của
Singapore (điển hình là Temasek Holdings và GIC như đề cập ở trên), đều được tổ
chức và hoạt động thống nhất theo Luật Công ty Singapore ban hành năm 1967
[25]. Điểm đáng lưu ý là việc các nhà làm luật đặt các DNNN (mặc dù sở hữu 100%
của chính phủ và do các quan chức hàng đầu chính phủ lãnh đạo) dưới sự chi phối
của Luật Công ty dường như không nhằm phải mục đích tạo sự bình đẳng và tự do
18
cạnh tranh trên cùng một “luật chơi” (xét cả phương diện chính trị và pháp lý) giữa
khu vực nhà nước và tư nhân (như quan niệm thông thường), mà chủ yếu để bảo
đảm tính hiệu quả của quản trị công ty. Luận điểm này có thể được minh chứng như
sau: thứ nhất, cách thức tổ chức và hoạt động của DNNN ở Singapore không thông
lệ (tập trung vào mô hình công ty đầu tư), do đó, không dẫn đến các cạnh tranh về
lợi ích trực tiếp về thị trường với các công ty khác; thứ hai, chính phủ Singapore
khẳng định một cách công khai vị thế đặc biệt và “không cạnh tranh” của các doanh
nghiệp này (thông qua việc cung cấp nguồn vốn ban đầu và tài chính hoạt động
khổng lồ cùng với một số “đặc quyền” nhất định để bảo đảm sự an toàn về đầu tư);
và thứ ba, các DNNN được yêu cầu và bảo đảm tuân thủ nghiêm ngặt các quy định
của Luật Công ty (trừ trách nhiệm công bố đầy đủ thông tin), trong đó có nguyên
tắc quan trọng nhất là sự tách biệt giữa “sở hữu” và “quản trị”. Nếu chủ sở hữu hay
người giám sát các DNNN buộc phải là các quan chức quan trọng của chính phủ
(tức những “người tin cậy nhất”) thì các nhà quản trị doanh nghiệp (CEO và các