BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO BỘ NÔNG NGHIỆP VÀ PTNT
HỌC VIỆN NÔNG NGHIỆP VIỆT NAM
TRẦN THỊ HỒNG
KHẢO SÁT MỘT SỐ GIỐNG DƯA CHUỘT NHẬP NỘI
TRONG ĐIỀU KIỆN VỤ XUÂN HÈ VÀ VỤ ĐÔNG
TẠI VÙNG GIA LÂM - HÀ NỘI
LUẬN VĂN THẠC SĨ
CHUYÊN NGÀNH: KHOA HỌC CÂY TRỒNG
HÀ NỘI - 2015
BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO BỘ NÔNG NGHIỆP VÀ PTNT
HỌC VIỆN NÔNG NGHIỆP VIỆT NAM
đã được cảm ơn và các thông tin trích dẫn trong luận văn đều được chỉ rõ
nguồn gốc. Hà Nội, ngày … tháng … năm 2015
Tác giả luận văn Trần Thị Hồng
ii
LỜI CẢM ƠN
Trong suốt quá trình thực hiện đề tài và hoàn thành bản luận văn này,
ngoài sự cố gắng nỗ lực của bản thân, tôi đã nhận được sự giúp đỡ rất tận tình
của cơ quan, các thầy cô hướng dẫn, các thầy cô giáo cùng các bạn bè đồng
nghiệp.
Trước tiên, tôi xin bày tỏ lòng biết ơn chân thành tới Ban lãnh đạo Viện
Nghiên cứu rau quả đã tạo điều kiện cho tôi thực hiện tốt đề tài nghiên cứu trong
năm qua
Tôi xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc và kính trọng sự giúp đỡ nhiệt tình của
TS.Ngô Thị Hạnh và TS.Phạm Thị Minh Phượng là người trực tiếp hướng dẫn
và giúp đỡ tôi về mọi mặt để tôi hoàn thành đề tài này.
Tôi xin chân trọng cảm ơn các thầy cô giáo trong bộ môn Rau- Hoa- Quả
khoa Nông học, các thầy cô trong Viện Đào tạo Sau đại học – Học viện Nông
nghiệp Việt Nam, đã giúp đỡ tôi rất nhiều trong suốt quá trình học tập và nghiên
cứ trong nhà trường.
1.1.4 Yêu cầu đất và dinh dưỡng 7
1.2 Tình hình sản xuất và nghiên cứu dưa chuột trên thê giới 8
1.2.1 Tình hình sản xuất dưa chuột trên thế giới 8
1.2.2 Tình hình nghiên cứu về chọn tạo giống ưu thế lai cây dưa chuột
trên thế giới 11
1.3 Tình hình sản xuất và nghiên cứu dưa chuột trong nước 19
1.3.1 Tình hình sản xuất dưa chuột trong nước 19
1.3.2 Tình hình nghiên cứu chọn tạo giống dưa chuột ưu thế lai trong nước 20
Chương 2. VẬT LIỆU, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 26
2.1 Vật liệu nghiên cứu 26
2.2 Nội dung nghiên cứu 26
iv
2.3 Thời gian nghiên cứu 27
2.4 Địa điểm nghiên cứu 27
2.5 Phương pháp nghiên cứu 27
2.5.1 Phương pháp bố trí, theo dõi thí nghiệm 27
2.5.2 Các chỉ tiêu theo dõi 29
2.5.3 Phương pháp phân tích và xử lý số liệu 31
Chương 3. KẾT QUẢ VÀ THẢO LUẬN 32
3.1 Các giai đoạn sinh trưởng chủ yếu của các giống dưa chuột thí
nghiệm ở các thời vụ trồng khác nhau 32
3.1.1 Thời gian từ gieo- trồng 34
3.1.2 Thời gian từ trồng đến ra hoa 37
3.1.3 Thời gian từ trồng đến thu quả đợt đầu 38
3.1.4 Thời gian từ trồng - kết thúc thu 39
3.1.5 Thời gian thu hoạch. 40
3.2 Một số đặc điểm hình thái của các giống dưa chuột 41
3.2.1 Chiều dài thân chính 42
3.2.2 Số lá trên thân chính 44
ĐC : Đối chứng
KLTBQ : Khối lượng trung bình quả
NSCT : Năng suất cá thể
NSLT : Năng suất lý thuyết
NSTT : Năng suất thực thu
NXB : Nhà xuất bản
XH : Xuân hè vii
DANH MỤC BẢNG
STT Tên bảng Trang
1.1 Sản xuất dưa chuột của 5 nước có sản lượng lớn nhất thế giới 9
1.2 Tình hình thương mại dưa chuột trên thế giới 10
1.3 Sản xuất dưa chuột toàn thế giới (2001 – 2011) 11
3.1 Thời gian qua các giai đoạn sinh trưởng của các giống dưa chuột
trong vụ Xuân hè 2014 33
3.2 Thời gian qua các giai đoạn sinh trưởng của các giống dưa chuột
trong vụ Đông 2014 34
3.3 Đặc điểm sinh trưởng của các giống dưa chuột trong vụ Xuân hè và
vụ Đông 2014 42
3.4 Đặc điểm quả của các giống dưa chuột tham gia thí nghiệm trong
vụ xuân hè và vụ đông 2014 47
3.5 Đặc điểm hình thái quả của các giống dưa chuột tham gia thí
nghiệm trong vụ xuân hè và đông 2014. 49
3.6 Năng suất và các yếu tố cấu thành năng suất của các giống dưa
chuột tham gia thí nghiệm trong vụ xuân hè 2014 52
3.7 Năng suất và các yếu tố cấu thành năng suất của các giống dưa
dưỡng cần thiết cho cơ thể con người. Trong 100 gam dưa chuột tươi có 14 calo,
0.7mg protein….và các loại vitamin như vitamin C, A, B1, B2….Các chất
khoáng như Fe, Ca, Cu… Như vậy ta thấy trong quả dưa chuột có thành phần
dinh dưỡng đa dạng và tương đối cao.
Ngày nay khi nhu cầu thực phẩm của con người ngày càng tăng, ngoài sử
dụng làm thực phẩm ăn tươi dưa chuột còn trở thành mặt hàng xuất khẩu mang
lại giá trị kinh tế cao. Cây dưa chuột với thời gian sinh trưởng ngắn, năng suất
cao, là một trong những cây trồng chủ lực trong cơ cấu luân canh tăng vụ. Với
thời gian giữ đất tương đối ngắn từ khi gieo đến lúc kết thúc thu hoạch trên dưới
100 ngày mà tiềm năng năng suất cao khoảng 40-60 tấn/ha. Như vậy dưa chuột là
một trong những cây trồng có tiềm năng trong cơ cấu thâm canh, tăng vụ đem lại
hiệu quả kinh tế trên một đơn vị diện tích trồng tăng thu nhập cho người lao động.
Theo số liệu thống kê của FAO, 2012, diện tích dưa chuột của cả nước năm
2009 là 30.925 ha thì năm 2011 là 31.570 ha nhưng ở miền Bắc diện tích lại có xu
hướng giảm dần từ năm 2009 là 9.978 ha và năm 2010 diện tích là 9.508 ha và
năm 2011 là 8.419 ha. Sở dĩ diện tích dưa chuột ở miền Bắc giảm chủ yếu là giảm
diện tích dưa chuột phục vụ chế biến đóng lọ, chế biến muối mặn,… do các nước
nhập khẩu với số lượng ít hơn so với trước. Thay vào đó là diện tích dưa chuột ăn
tươi, tuy nhiên giống dưa chuột phục vụ ăn tươi chủ yếu là của nước ngoài. Các
giống của các Viện Nghiên cứu, các trường đại học còn rất ít.
Thực tế hiện nay giống sử dụng cho sản xuất chủ yếu là các giống địa
phương có khả năng chống chịu bệnh tốt nhưng năng suất không cao, giống ưu
2
thế lai nhập nội năng suất cao nhưng chống chịu bệnh kém đồng thời giá hạt
giống rất cao. Trong chương trình hợp tác giữa Việt Nam và Nhật Bản về công
tác “ Đánh giá tài nguyên di truyền cây rau về tính kháng bệnh mà Việt Nam và
Nhật Bản cùng quan tâm”, Nhật Bản cung cấp bộ giống dưa chuột chất lượng
cao và chống chịu bệnh sương mai và phấn trắng, đây cũng là nguồn gen quý
phục vụ công tác nghiên cứu chọn tạo giống dưa chuột trong tương lai. Để đánh
liệu phục vụ cho công tác chọn tạo giống dưa chuột ưu thế lai có tiềm năng cho
năng suất cao phù hợp trong điều kiện miền Bắc Việt Nam.
3. Phạm vi nghiên cứu
Đề tài chỉ giới hạn nghiên cứu về các đặc điểm nông học, khả năng sinh
trưởng phát triển, mức độ nhiễm sâu bệnh hại trên đồng ruộng, khả năng cho
năng suất, đặc điểm hình thái và phẩm chất quả đối với cây dưa chuột 4
Chương 1. TỔNG QUAN TÀI LIỆU
1.1. Yêu cầu ngoại cảnh của cây dưa chuột
Nghiên cứu mối quan hệ giữa cây trồng và điều kiện ngoại cảnh hết sức
quan trọng. Việc nghiên cứu này nhằm mục đích tạo điều kiện cho cây trồng
phát triển trong điều kiện tối ưu nhất nhằm đạt năng suất tối đa, mặt khác có thể
C cây mất cân bằng giữa quá trình đồng hoá và dị
hoá. Do nhiệt độ quá thấp phá vỡ quá trình trao đổi chất thông thường và một số
quá trình sinh hoá bị ngừng trệ, toàn bộ chu trình sống bị đảo lộn dẫn đến cây
tích luỹ độc tố. Nhiệt độ thấp kéo dài số lượng độc tố tăng lên làm chết các tế
bào (Trần Khắc Thi, 1985)
Phản ứng của cây với nhiệt độ ở các pha sinh trưởng khác nhau là khác
nhau. Theo Edeshtein (1953) nhiệt độ 3
o
C làm tổn thương và chết bộ lá ở cây
chưa ra hoa sau 3 ngày đêm, cây đang thời kỳ ra nụ – sau 7 ngày đêm, còn cây
5
có hoa – sau 9 ngày đêm. Nhiệt độ ảnh hưởng trực tiếp tới hoa khoảng 20 ngày
sau khi nảy mầm, 26 ngày cho ra hoa cái. Nhiệt độ càng thấp thời gian ra hoa
càng chậm (Trần Khắc Thi, 1984)
Nhiệt độ không chỉ ảnh hưởng tới sinh trưởng, ra hoa của cây dưa chuột
mà còn ảnh hưởng trực tiếp tới sự nở hoa cũng như quá trình thụ phấn, thụ tinh.
Theo các tác giả Nhật Bản hoa bắt đầu nở ở 15
o
C (sáng sớm) và bao phấn mở ở
17
o
C. Nhiệt độ thích hợp cho sự nảy mầm của hạt phấn 17 – 24
o
C, nhiệt độ quá
cao hay quá thấp so với ngưỡng này đều làm giảm sức sống của hạt phấn, đó
cũng chính là nguyên nhân gây giảm năng suất của giống. Hầu hết các giống
dưa chuột đều qua giai đoạn xuân hoá ở nhiệt độ 20 –22
o
C (Trần Khắc Thi,
I.Lvova, dưa chuột bắt đầu phản ứng với chu kỳ ánh sáng ở thời kỳ 5 – 7 ngày
sau nảy mầm.
Cường độ chiếu sáng mạnh sẽ làm tăng tốc độ ra hoa, cường độ ánh sáng
yếu sẽ làm cho quá trình ra hoa bị chậm lại. Trong điều kiện thiếu ánh sáng cây
sinh trưởng, phát triển kém, ra hoa cái muộn, màu sắc hoa nhạt, vàng úa, hoa cái
dễ rụng, năng suất quả thấp, chất lượng quả giảm, hương vị kém (Mai Phương
Anh và cs., 1996)
Theo N.Kraxin (1985) khi giảm cường độ chiếu sáng gây ức chế sinh
trưởng của cây, làm giảm hàm lượng glutamin và vitamin trong tế bào. Cường độ
chiếu sáng thích hợp cho dưa chuột nằm trong phạm vi từ 15000 – 17000 lux
(Nguyễn Văn Hiển, 2000)
Cường độ ánh sáng và chất lượng ánh sáng có vai trò quan trọng trong
việc hình thành màu sắc quả và thời hạn sử dụng quả dưa chuột loại quả dài ở
nước Anh (Cucumis sativus L.). Cường độ ánh sáng thấp rút ngắn thời gian sử
dụng quả, trung bình thời gian sử dụng là 8,5 đến 1 ngày tương ứng với trường
hợp tiếp nhận 100%, 60%, hay 31% ánh sáng tự nhiên. Ánh sáng đỏ thường cho
quả xanh hơn hoặc như nhau và thời gian sử dụng lâu hơn ánh sáng đỏ xa. Như
vậy việc bố trí mật độ, khoảng cách cây nhằm cải thiện màu xanh quả cũng như
thời gian sử dụng quả trong điều kiện nhà kính cần phải thấy tầm quan trọng của
cường độ ánh sáng và chất lượng ánh sáng (Trần Khắc Thi và Trần Ngọc Hùng,
2005). Theo các tác giả hiệp hội khoa học trồng trọt Mỹ (1997) việc tỉa thưa và
che bóng đã ảnh hưởng đến động thái tăng chiều dài quả, màu sắc quả lúc thu
hoạch và phổ diệp lục của vỏ quả .
7
1.1.3 Yêu cầu về độ ẩm đất và không khí
Dưa chuột là loại cây chịu hạn, chịu úng kém. Trong thân cây nước chiếm
91,3%, trong quả chứa tới 93-95% nước, bộ lá dưa chuột to, hệ số thoát hơi
nước lớn nên dưa chuột yêu cầu độ ẩm cao, là cây đứng đầu về nước trong họ
bầu bí, độ ẩm thích hợp cho cây dưa chuột là 85-90%, độ ẩm không khí: 90-
cải bắp) (Tạ Thu Cúc và cs., 2000)
Khi nghiên cứu về hiệu suất sử dụng phân khoáng chủ yếu của dưa chuột
thấy rằng: dưa chuột sử dụng kali với hiệu suất cao nhất, thứ đến đạm rồi đến lân.
Khi bón N60 P60 K60 thì dưa chuột sử dụng 92% đạm, 33% lân và 100% kali.
Dưa chuột không chịu được nồng độ phân cao nhưng lại nhanh chóng phản ứng với
hiện tượng thiếu dinh dưỡng. Phân hữu cơ, đặc biệt là phân chuồng có tác dụng rõ
rệt làm tăng năng suất ruộng dưa chuột (Mai Phương Anh và cs., 1996)
Bên cạnh các nguyên tố đa lượng thì các nguyên tố vi lượng đóng vai trò hết
sức quan trọng. Khi bổ sung các nguyên tố vi lượng vào dung dịch phân đa lượng
bón cho cây sẽ thu được quả có chất lượng cao, đặc biệt trộn hạt dưa với phân vi
lượng trước sẽ làm tăng năng suất từ 50-60 tạ/ha (Nguyễn Như Hà, 2006)
Cây dưa chuột là cây trồng rất mẫn cảm với điều kiện ngoại cảnh, việc
nghiên cứu mối quan hệ này giúp nhà chọn giống điều chỉnh các yếu tố nhiệt độ,
ánh sáng, độ ẩm và dinh dưỡng phù hợp với từng mục tiêu tạo giống năng suất,
chất lượng hay chống chịu sâu, bệnh…
1.2. Tình hình sản xuất và nghiên cứu dưa chuột trên thê giới
1.2.1. Tình hình sản xuất dưa chuột trên thế giới
Dưa chuột là loại rau ăn quả thương mại quan trọng, được trồng lâu đời
trên thế giới và trở thành thực phẩm của nhiều nước và được xếp thứ 4 trong số
các cây rau trồng phổ biến trên thế giới
Dưa chuột là cây rau ăn quả có thời gian sinh trưởng ngắn lại cho năng
suất cao, sản phẩm dưa chuột vừa sử dụng ăn tươi, vừa chế biến xuất khẩu.
Trong những năm gần đây diện tích trồng dưa chuột trên thế giới ngày càng tăng
nhưng năng suất lại giảm và sản lượng cũng giảm theo.Trong công tác nghiên
cứu chọn tạo giống rau nói chung và giống dưa chuột nói riêng, mục tiêu chọn
9
tạo giống cho năng suất cao được xem là mục tiêu quan trọng nhất. Tạo ra giống
có năng suất cao không chỉ tăng hiệu quả sản xuất mà còn góp phần gia tăng
lượng sản phẩm trên một đơn vị diện tích trong điều kiện đất canh tác ngày càng
83.680
73.000
Mỹ 63.920
61.700
59.480
Năng suất
(tạ/ha)
Trung Quốc 170.597
169.716
165.890
Iran 223.506
220.512
219.512
Thổ Nhĩ Kỳ 299.935
283.827
284.537
1.678.770
Nga 1.423.210
1.386.810
1.000.000
Mỹ 908.170
930.970
963.000
Nguồn: FAO statistical data base 2009, 2010, 2011. 10
Dưa chuột là sản phẩm rau quả có giá trị và thị trường xuất nhập khẩu rất
sôi động. Mỹ là nước có lượng nhập khẩu lớn nhất thế giới khoảng 2 triệu tấn
với giá trị khoảng 1,7-2 tỷ đô la Mỹ. Mặc dù lượng nhập khẩu và giá trị nhập
khẩu rất lớn nhưng lượng xuất khẩu và giá trị xuất khẩu tương đương với nhập
khẩu. Nga là nước nhập khẩu rất nhiều khoảng 90 triệu USD năm 2011 và Thổ
Nhĩ Kỳ là nước có giá trị xuất khẩu cao 30 triệu USD năm 2011.
Bảng 1.2. Tình hình thương mại dưa chuột trên thế giới
Năm Trung
Quốc
Iran Thổ
Nhĩ Kỳ
72.856
22
121.085
459.242
1.894.749
Giá trị nhập
khẩu (1.000
$)
Năm 2009 20
16.847
1
32.626
319.164
1.372.768
Năm 2010 20
107.055
48.774
1.718.717
Năm 2010 18.575
-
51.688
34
21.040
2.355.553
Năm 2011 33.124
-
58.492
48
43.765
1.926.276
Giá trị xuất
30.412
55
55.776
1.878.284
Nguồn: FAO statistical data base 2009, 2010, 2011.
Hiện nay để tăng sản lượng của dưa chuột, nhiều nước trên thế giới đã áp
dụng nhiều biện pháp như tăng diện tích trồng trọt, luân canh tăng vụ, tăng đầu
tư giống, cơ sở vật chất kỹ thuật…trong đó việc tăng đầu tư cở sở vật chất kỹ
thuật đặc biệt là khâu giống được các nhà đầu tư quan tâm nhiều nhất.
11
Bảng 1.3. Sản xuất dưa chuột toàn thế giới (2001 – 2011)
Năm Diện tích (ha) Năng suất (tạ/ha) Sản lượng (tấn)
2001 1.953.445 179,3 35.397.195
2002 2.011.462 180,9 36.397.195
2003 2.377.888 158,1 37.607.067
2004 2.427.436 168,3 40.860.985
2005 2.471.544 174,6 42.958.445
2006 1.905.882 262,8 50.078.270
2007 1.983.496 273,0 54.159.192
2008 1.927.400 304,2 58.628.902
2009 1.988.580 307,4 61.133.063
2010 2.021.529 310,7 62.804.043
2011 2.090.629 312,5 65.334.911
Nguồn: FAO statistical data base 2001- 2011 [38].
Bản, nhưng đến năm 1965, diện tích gieo trồng đã đạt 95%. Trong sản xuất, giá
hạt giống dưa chuột lai cao gấp 3 lần so với giống dưa chuột thụ phấn tự do. Tuy
nhiên, người sản xuất vẫn chấp nhận sử dụng giống lai bởi vì khả năng cho năng
suất của giống lai cao hơn, chất lượng cũng được cải thiện trong các giống lai.
Tại Nhật Bản, diện tích gieo trồng dưa chuột lai tăng rất nhanh, tính đến năm
1987, 100% diện tích trồng dưa chuột ở Nhật Bản đã sử dụng giống dưa chuột
lai để cung cấp cho thị trường ăn tươi (Sing và cs. 2004). Tuy nhiên, công việc
duy trì dòng bố mẹ tự phối rất tốn kém trong lai đơn, do vậy năm 1918, Jones đã
đề xuất phép lai kép để khắc phục nhược điểm này. Tuy nhiên việc ứng dụng lai
kép mãi đến năm 1940 mới được ứng dụng trên quy mô lớn (Chahal và Gosal,
2002).
Ở Mỹ, nhờ việc sử dụng cặp lai đơn giữa dòng cây toàn hoa cái và dòng
lưỡng tính, cùng với việc sử dụng duy trì dòng mẹ đơn tính cái bằng Gibberellic
axit nồng độ 25-500 ppm, sản xuất của giống dưa chuột F1 chiếm 95% diện tích
và được trồng tập trung tại Michigan với diện tích hàng năm là 8.000 - 9.000 ha
(Boos và cs., 1990).
13
1.2.2.2. Hướng tạo giống ưu thế lai ở cây dưa chuột
Raymond (1989) cho biết, công tác chọn giống của dưa chuột trên thế giới
hiện nay chủ yếu đi theo hướng chọn tạo giống theo các phương thức sử dụng:
chọn giống cho ăn tươi và chọn giống cho chế biến. Theo Tatlioglu (1993),
ngoài chọn tạo giống theo phương thức sử dụng, có nhiều nhân tố cần quan tâm
trong trong chương trình chọn tạo giống dưa chuột.
Chọn giống năng suất và chất lượng
Đối với mỗi loại cây trồng, việc đánh giá hiệu quả sản xuất chính dựa
vào năng suất cuối cùng của giống cùng với chất lượng sản phẩm. Năng suất là
một trong những tính trạng số lượng điển hình nhất và cũng chịu ảnh hưởng của
nhiều yếu tố, trong đó có yếu tố môi trường và đặc tính sinh trưởng. Đối với dưa
chuột chế biến đóng hộp nguyên quả, quả bao tử có giá bán cao hơn so với dưa
đánh giá nguồn gen chống chịu và xác định gen chống chịu được nhiều nhà khoa
học quan tâm.
Chọn giống cho chế biến công nghiệp
Sản phẩm của dưa chuột được chế biến dưới các hình thức rất đa dạng,
bao gồm: dưa chuột muối chua đóng hộp nguyên quả, dưa chuột chẻ thanh, dưa
chuột cắt lát và dưa chuột muối mặn. Đối với mỗi loại sản phẩm có yêu cầu khắt
khe về tiêu chuẩn của công nghiệp chế biến khác nhau.
Chọn giống quả trinh sinh (parthenocapy) không hạt trồng trong điều kiện
nhà kính, nhà lưới
Tạo quả không hạt là việc có thể hình thành và phát triển quả mà không
cần thụ phấn. Quả dưa chuột không qua thụ phấn vẫn phát triển bình thường, tuy
nhiên sẽ tạo quả không hạt, trong quả chỉ là các hạt mềm, có vỏ trắng, dạng quả
đó được gọi là parthenocarpy. Tính trạng này được kiểm tra bởi gen trội không
hoàn toàn Pc, theo De Ponti và Garretsen, tính di truyền của hiện tượng tạo quả
không qua thụ phấn là nhờ tương tác của 3 gen chính độc lập đồng phân với tác
15
dụng cộng (Tatlioglu, l993). (Sun và cs., 2004) đã khẳng định parthenocarpy là
một trong những chỉ tiêu kinh tế quan trọng liên quan đến năng suất của dưa
chuột. Trong một nghiên cứu khác, (Denna, 1973) đã phát hiện ra mối liên kết
giữa gen kiểm soát tính trạng toàn hoa cái/cây, tạo quả không hạt và tính trạng
quy định màu sắc gai quả. Các giống cho quả không qua thụ phấn thường cho thu
hoạch sớm hơn và thường xuyên hơn.
Tính trạng tạo quả không hạt có ý nghĩa lớn trong sản xuất dưa chuột
trong nhà khi không có tác nhân thụ phấn. Hầu hết các giống dưa chuột ăn tươi
trồng trong nhà kính, nhà lưới ở các nước châu Âu hiện nay đều thuộc nhóm
này. Ở Đức, ngay cả các giống sản xuất cho chế biến công nghiệp phần lớn dùng
giống parthenocarpic. Hiện nay nhu cầu về các giống parthenocarpic rất lớn đối
với sản xuất dưa chuột trong nhà kính tại rất nhiều quốc gia trên thế giới như
Mỹ, Úc, Hà Lan, Trung Quốc, Nhật Bản… (Ponti và Garretsen, 1976),