Tìm hiểu về tình hình độc quyền điện ở nước ta hiện nay - Pdf 28

1. MỞ ĐẦU
Vào những năm gần đây ,ngành điện trong nước cụ thể là tổng công ty điện
lực Việt Nam EVN đã dần đà biểu hiện những bê bối của mình trong vấn đề sản xuất
kinh doanh, phân phối, cũng như điều hành. Cụ thể là vụ bê bối điện kế điện tử vào
năm 2004-2005 gây ra nhiều tổn thất lớn cho người tiêu dùng , rồi đến vụ tăng giá
điện vào đầu tháng 1/2007 trong khi tình trạng cắt điện xảy ra liên tục trên diện rộng,
sau đó là việc trả lại cho Nhà Nước 13 dự án nhiệt điện than vì lý do thiếu vốn, và
gần đây nhất là việc xin 1002 tỉ đồng làm tiền thưởng dẫn đến việc Kiểm Toán Nhà
Nước phát hiện EVN bị kiểm toán thiếu 600 tỷ đồng … Đó chỉ là một số trong những
thiếu sót mà ta có thể thấy được từ ngành điện nước ta .
Ngành điện là một trong các ngành công nghiệp quan trọng, và là 1 ngành
công nghiệp mũi nhọn của nước ta hiện nay, vì thế việc tập trung phát triển sản xuất,
quản lý, phân phối điện năng sao cho hợp lý, đáp ứng được nhu cầu tiêu dùng, phát
triển của đất nước là tối cần thiết.
Tuy nhiên do vốn đầu tư ban đầu rất lớn, không phải một doanh nghiệp nào
có thể dễ dàng tham gia xây dựng kinh doanh trong thị trường này, và chính những
rào cản đó mà ngành điện nước ta ngay từ đầu đã được nhà nước đầu tư cơ sở, nền
tảng, giao trách nhiệm cho một doanh nghiệp duy nhất quản lý.
Và từ khi thành lập đến nay, nước ta cũng chỉ có một và chỉ một doanh
nghiệp độc quyền quản lý gần như tuyệt đối trong các lãnh vực sản xuất, xây dựng
mạng lưới, truyền tải, phân phối điện năng…đến người tiêu dùng.
Mặc dù ở các nước khác trên thế giới từ lâu đã phá vỡ thế độc quyền của
ngành điện, để mang lại giá trị, chất lượng cũng như độ thoả mãn tối đa nhất cho
người dân, nhưng nước ta đến hiện nay vẫn giữ nguyên cơ chế độc quyền của ngành
điện.
Chính vì thế mà đã sinh ra lắm căn bệnh, bệnh cửa quyền, bệnh mập mờ,
thiếu trung thực, bệnh quản lý yếu kém gây thất thoát hiệu quả đầu tư…Từ đó dẫn
đến những chỉ trích, phê phán, thắc mắc cần giải quyết của đông đảo người dân.
Tìm hiểu về tình hình độc quyền điện ở nước ta hiện nay, nhóm 4 mong muốn
đưa ra 1 cái nhìn tổng quan về vấn đề này.
1

96,7%
44655
96,7%
49250
94,6%
55911
94,7%
Ngoài
nhà
nước
" 11,0 5,4 7,0 7,0 9,0 9,0 11,0
ĐTNN " 1700 2120,1 2104 1385 1538 2819 3127
Từ bảng trên, chúng ta có thể thấy cơ cấu ngành điện về cơ bản không có gì thay
đổi trong giai đoạn từ năm 2000-2006, Nhà nước (thực chất là Nhà nước giao cho
EVN) vẫn gần như chiếm vị thế độc quyền tuyệt đối trong việc phân phối điện năng
(chiếm trên 93% sản lượng điện phát ra).
Chính do cơ chế độc quyền như vậy đã tạo điều kiện hình thành nên những
“căn bệnh độc quyền” trong ngành điện.
Trước hết chúng ta cần tìm hiểu đôi nét về Tập đoàn Điện lực Việt Nam EVN
– đơn vị được giao độc quyền phân phối điện năng tại Việt Nam.
Tập đoàn Điện lực Việt Nam là một doanh nghiệp nhà nước
của Việt Nam kinh doanh đa ngành. Theo báo cáo của UNDP 2007, EVN là
doanh nghiệp lớn thứ ba Việt Nam (sau Agribank và VNPT). Lĩnh vực kinh doanh
chính là sản xuất, truyền tải và xuất nhập khẩu điện năng.
Hiện nay EVN vẩn sử dụng mức giá bán được điều chỉnh và áp dụng từ ngày
1/1/2007 vẫn theo mô hình bậc thang và phương pháp bù trừ chéo như cũ.
2
Trong lĩnh vực chính là kinh doanh điện năng, EVN có 5 công ty điện lực
chính và 5 công ty truyền tải điện kinh doanh đến khách hàng đó là :
• Công ty điện lực 1.

USD để đầu tư xây dựng khu resort tại khu vực Thừa Thiên Huế.
Trong tổng số vốn đầu tư tài chính dài hạn 49.700 tỉ đồng thì lượng vốn đầu tư
ra ngoài lĩnh vực sản xuất kinh doanh điện (như đầu tư vào viễn thông điện lực,
chứng khoán, ngân hàng, bảo hiểm, bất động sản là 3.590 tỉ đồng, chiếm 7,22% vốn
3
đầu tư và 4,82% tổng vốn chủ sở hữu). Nhìn chung, đầu tư vào các lĩnh vực ngoài
điện của EVN đều hiệu quả, kinh doanh có lãi nhưng cũng cần được kiểm soát chặt
chẽ.
Theo nhóm nghiên cứu CEPR (Trung tâm Nghiên cứu và chính sách) của Đại
học Quốc gia Hà Nội thì EVN chiếm 74% sản lượng điện sản xuất, chiếm 100% về
truyền tải và 94% về phân phối điện trên cả nước.
Sơ đồ:
Sản lượng điện sản xuất theo nguồn
Nguồn
Sản lượng điện sản
xuất (triệu kWh)
Tổng điện phát và mua 52 050
Sản lượng điện của các nhà máy thuộc EVN 41183
Thuỷ điện 16 130
Nhiệt điện than 8 125
Nhiệt điện dầu (FO) 678
Tua bin khí (khí+dầu) 16 207
Diesel 43
Sản lượng điện của các IPP 10 867
4
IPP: nhà máy điện độc lập EVN: 74%Nguồn
Truyền tải
Phân phối
EVN
EVN


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status