NGHIÊN CỨU ẢNH HƯỞNG CỦA BỘT LÔNG VŨ THỦY PHÂN TRONG KHẨU PHẦN TỚI SỨC SẢN XUẤT THỊT CỦA GÀ LƯƠNG PHƯỢNG NUÔI TẠI VIỆN CHĂN NUÔI - Pdf 29

LỜI CẢM ƠN
Để thực hiện đề tài nghiên cứu và hoàn thành bản luận văn này, em đã nhận
được rất nhiều sự giúp đỡ của các cá nhân và tập thể. Nhân dịp này, em xin gửi lời
cảm ơn chân thành tới:
Cô giáo hướng dẫn - TS. Văn Lệ Hằng đã tận tình chỉ bảo, hướng dẫn em
trong suốt quá trình thực hiện đề tài và hoàn thành bản luận văn này. Với lòng
kính trọng và biết ơn sâu sắc em xin gửi tới cô lời cảm ơn chân thành nhất!
TS. Nguyễn Huy Hoàng – Viện Hàn lâm khoa học và công nghệ Việt Nam.
Trong suốt thời gian thực hiện đề tài, đã không quản ngại khó khăn tận tình giúp
đỡ, chỉ bảo để tôi có thể thực hiện tốt được đề tài này.
Ban Giám đốc Trung tâm thực nghiệm và bảo tồn vật nuôi – Viện chăn nuôi
Quốc gia đã tạo mọi điều kiện để em thực hiện đề tài, đặc biệt TS.Bạch Mạnh Điều
và Ths. Chu Thị Thủy đã trực tiếp hướng dẫn và giúp đỡ em trong suốt quá trình
thực hiện đề tài tại trung tâm.
Em cũng xin bày tỏ lòng cảm ơn tới các thầy cô giáotrong bộ môn Sinh lý
người & động vật, các thầy cô giáo Khoa Sinh học đã trang bị cho em những kiến
thức cần thiết để thực hiện đề tài. Em xin cảm ơn Ban giám hiệu, Phòng sau đại
học Trường Đại học Sư phạm Hà Nội đã tạo mọi điều kiện để em hoàn thành
chương trình đào tạo.
Tôi xin cảm ơn Ban Giám Hiệu trường THPT Thuận Thành 1 – Thuận Thành
– Bắc Ninh, các đồng nghiệp trong đơn vị đã tạo điều kiện thuận lợi và chia sẻ
công việc giúp tôi hoàn thành nhiệm vụ học tập và nghiên cứu.Tôi xin gửi lời cảm
ơn sự quan tâm, động viên, khích lệ của gia đình, bạn bè, các em học sinh. Đó là
nguồn động viên tinh thần lớn lao giúp tôi vượt qua khó khăn để hoàn thành luận
văn.
Tôi xin chân thành cảm ơn!
Hà Nội, tháng năm 2014
Học viên
Phạm Thị Lan
1
LỜI CAM ĐOAN

4
DANH MỤC BẢNG
5
DANH MỤC HÌNH
6
PHẦN I: MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài
Trước đây, ngành chăn nuôi gia cầm ở nước ta chủ yếu ở quy mô nhỏ
tiêu thụ ngay trên thị trường địa phương hoặc các tỉnh lân cận, nhưng đến nay
đã có nhiều thay đổi, chăn nuôi gia cầm ở quy mô lớn và tập trung. Nhiều
công ty cũng đã tập trung vào đầu tư dây chuyền chế biến giết mổ gia cầm với
công xuất lớn. Công ty cổ phần Group dự định xây dựng thêm 2 nhà máy chế
biến gia cầm mới ở ngoại ô Hà Nội với công suất 50.000 con gia cầm/tuần và
một nhà máy sẽ được đặt tại Đồng Nai, các chợ đầu mối gia cầm cũng giết mổ
hàng vạn con gia cầm mỗi tuần. Theo tổng cục thống kê, năm 2012 tổng số
gia cầm của Việt Nam lên tới 308,5 triệu con và cho ra sản lượng thịt gia cầm
đạt tới 729,4 nghìn tấn[79]. Lông chiếm tới 1-2% trọng lượng cơ thể gia cầm
do đó lượng lông vũ từ gia cầm sau giết mổ có thể là 36,5 nghìn tấn năm, còn
chưa kể các chất thải khác như ruột, phân đây là loại rác thải gây ô nhiễm
môi trường tại địa bàn có khu giết mổ gia cầm tập trung. Hiện nay, các nhà
khoa học đã có những nghiên cứu và chế biến các chất thải sau giết mổ gia
cầm để làm thức ăn cho gia súc, gia cầm.
Hiện nay, phụ phẩm sau giết mổ gia cầm đã được sử dụng để sản xuất
bột lông vũ qua quá trình xử lý vật lý và hóa học. Bột lông vũ có thành phần
chủ yếu là protein đạt 80-85%. Tuy nhiên, quá trình sản xuất bột lông vũ chỉ
tạo ra được sản phẩm có chất lượng dinh dưỡng thấp, chưa phá hủy được lớp
keratine ở lông nên giảm khả năng tiêu hóa protein. Sử dụng enzyme từ vi
khuẩn có nhiều ưu điểm hơn, giá thành thấp hơn và thân thiện với môi trường
hơn. Enzyme thủy phân lông vũ có nguồn gốc từ vi khuẩn đang là hướng
nghiên cứu rất được quan tâm. Vì thế, việc nghiên cứu enzyme creatinase từ

PHẦN II:NỘI DUNG
Chương I:
TỔNG QUAN TÀI LIỆU VÀ CƠ SỞ KHOA HỌC CỦA ĐỀ TÀI
1.1. Cơ sở khoa học của đề tài
1.1.1. Bột lông vũ và hướng sử dụng bột lông vũ làm thức ăn chăn nuôi
1.1.1.1. Bột lông vũ khi chưa thủy phân
Lông vũ bao bọc cơ thể gia cầm, nó chiếm 1-2% khối lượng cơ thể.
Thành phần hóa học của lông vũ gồm: 88,4% vật chất khô; 83,3% protein thô;
1,6% lipit thô; 1,2% xơ; 6,3% khoáng tổng số; 8,2% nước; 1,23% canxi; 0,6%
photpho[38]. Protein trong bột lông vũ có chứa một số axít amin không thay
thế cần thiết cho sự phát triển của gia súc, gia cầm. Đặc biệt lông vũ có lượng
protein keratin thô rất cao (80-85%) và phần lớn protein trong lông vũ không
hòa tan trong nước. Cấu trúc cơ bản bậc hai của keratin bao gồm 2 dạng α-
helix (của tóc và len) và β-sheets của lông vũ. Các sợi keratin ở cả hai dạng α-
helix và β-sheets xoắn song song với nhau để đảm bảo độ bền ổn định của sợi.
Mặc dù rất khó bị phân hủy, nhưng các chất thải keratin có thể bị phân hủy
bởi các chủng vi khuẩn, xạ khuẩn và nấm tạo ra các protease keratin –
keratinase.
Bột lông vũ có thể thay thế 15% bột cá trong khẩu phần ăn mà không có
sự tăng trưởng khác nhau và hiệu quả sử dụng thức ăn của cá hồi[56].
Somseueb và Boonyaratpalin (2001) cũng báo cáo rằng có thể thay thế tối đa
5% bột cá bằng bột lông vũ trong khẩu phần ăn của cá trê lai. Chumlong và
Chutinthorn (2000)[82]đã tiến hành nghiên cứu thay thế một phần bột cá
bằng bột lông vũ lên men trong khẩu phần ăn của cá rô phi. Thí nghiệm được
tiến hành với 5 tỷ lệ bột lông vũ lên men/ bột cá khác nhau là 0/100, 25/75,
50/50 75/25 và 100/0 . Tất cả các chế độ ăn có hàm lượng protein là 30 %,
9
nuôi trong 12 tuần. Kết quả của nghiên cứu này chỉ ra rằng lên men bột lông
vũ có thể được sử dụng từ 25% đến 50% mức ăn cho cá rô phi mà không ảnh
hưởng đến tăng trưởng và hiệu quả sử dụng thức ăn.

lượng phân tử 33 kDa, pH tối ưu đã được xác định 7,5, nhiệt độ tối ưu là 50°C
và ổn định khi bảo quản ở -20°C. Đối với chủng B. subtilis, keratinase có khối
lượng phân tử là 25,4 kDa, pH tối ưu là 7,5 và nhiệt độ tối ưu là 70°C theo
công bố của Gupta và Ramnani (2006)[63]. Nhiều nghiên cứu ghi nhận rằng
keratinase được phân lập từ chủng B. licheniformis và B. subtilis là thành viên
của nhóm protease serine điều này đã được đề cập đến trong công bố của
Brandelli (2008) [56]. Đây là nhóm enzyme thương mại, có nhiều ứng dụng
quan trọng trong các ngành công nghiệp, trong các quá trình công nghệ sinh học
liên quan đến chất thải có chứa creatine từ ngành công nghiệp gia cầm và công
nghệ da. Mặt khác keratin sau khi bị thủy phân có thể làm thức ăn chăn nuôi,
phân bón, keo, tạo ra các axit amin hiếm như serine, cystein và proline và làm
giảm ô nhiễm môi trường.
1.1.2. Đặc điểm cấu tạo bộ máy tiêu hóa của gia cầm
Gia cầm có tốc độ trao đổi chất và năng lượng cao hơn so với động
vật có vú. Cường độ tiêu hoá mạnh ở gia cầm được xác định bằng tốc độ di
chuyển của thức ăn qua ống tiêu hoá. Ở gà còn non, tốc độ này là 30 - 39 cm
trong 1 giờ; ở gà lớn hơn là 32 - 40cm và ở gà trưởng thành là 40 - 42cm. Chiều
dài của ống tiêu hoá gia cầm không lớn, thời gian mà khối thức ăn được giữ lại
trong đó không vượt quá 2 - 4 giờ, ngắn hơn rất nhiều so với động vật khác. Do
đó, để quá trình tiêu hoá thức ăn diễn ra thuận lợi và có hiệu quả cao, thức ăn cần
phải được chế biến phù hợp với trạng thái sinh lý và lứa tuổi của gia cẩm và
đồng thời có hàm lượng xơ ở mức thích hợp.
11
Hình 1.1: Sơ đồ hệ tiêu hoá của gà
1 - Thực quản; 2 -Diều; 3 -Dạ dày tuyến; 4 - Dạ dày cơ; 5 - Lá lách; 6 - Túi
mật; 7 - Gan; 8 - Ống mật; 9 - Tuyến tuỵ; 10 - Ruột hồi manh tràng; 1 1 -
Ruột non; 12 - Ruột thừa (manh tràng); 13 - Ruột già; 14 - Ổ nhớp
- Tiêu hoá ở miệng
Gia cầm lấy thức ăn bằng mỏ. Hình dáng và độ lớn của mỏ ở các loài gia
cầm rất khác nhau. Gà có mỏ ngắn, nhọn và cứng, hơi cong. Đường vành mỏ

ướt và trơn thức ăn khi nuốt.
- Tiêu hoá ở diều
Ở gà, gà tây, gà phi và chim bồ câu, diều là một chỗ phình rộng hơn,
hình túi. Diều nằm bên phải, chỗ đi vào khoang ngực, ngay trước chạc ba nối
liền 2 xương đòn phải trái. Mặt ngoài của diều được tiếp xúc trực tiếp với cơ
da, cơ này giúp cho nó giãn nở rộng khi thức ăn rơi vào. Các lỗ dẫn vào và dẫn
ra của diều rất gần nhau và có các cơ thắt. Giữa các cơ thắt lại có ống diều - là
một phần của diều. Khi gia cầm đói, thức ăn theo ống này đi thẳng vào dạ dày,
không qua túi diều. Ở gà, diều chứa được 100 - 120g thức ăn. Thức ăn ở diều
13
được làm mềm ra, quấy trộn và được tiêu hoá từng phần bởi các men của thức ăn
và các vi khuẩn nằm trong thức ăn thực vật.
- Tiêu hoá ở dạ dày
Dạ dày gia cầm gồm dạ dày tuyến và dạ dày cơ. Thức ăn từ diều được
chuyển vào dạ dày tuyến, nó có dạng ống ngắn, vách dày, được nối với dạ dày
cơ bằng một eo nhỏ. Vách dạ dày tuyến cấu tạo gồm màng nhày, cơ và mô
liên kết. Bề mặt của màng nhầy có những nếp gấp dễ thấy, đậm và liên tục. Ở
đáy màng nhầy có những tuyến hình túi phức tạp. Khối lượng của dạ dày
tuyến ở gà vào khoảng 3,5 - 6g. Các mô có tuyến nhầy chiếm tới 51,4%.
Dịch dạ dày được tiết vào trong khoang của dạ dày tuyến, có axit
clohidric, enzim và musin. Cũng như ở động vật có vú, pepsin được tiết ra ở
dạng không hoạt động - pepsinogen và được hoạt hoá bởi axit clohidric. Các
tế bào hình ống của biểu mô màng nhầy bài tiết ra một chất nhầy đặc rất giàu
musin, chất này phủ lên bề mặt niêm mạc của dạ dày. Sự tiết dịch dạ dày ở gia
cầm là liên tục, sau khi ăn thì tốc độ tiết tăng lên.
Dịch dạ dày tinh khiết là một chất lỏng không màu hoặc hơi trắng đục, có
pH axit. Độ pH của dịch dạ dày ở gia cầm trung bình là 3,0; thường là 2,6. Độ
pH sẽ giảm xuống sau khi tiếp nhận thức ăn giàu chất kiềm, cacbonat canxi, bột
xương. Ở gà, số lượng dịch dạ dày và độ axit tăng dần lên cùng với độ tuổi. Ở gà
con vài ngày tuổi, dịch dạ dày có tính axit (pH = 4,2 - 4,4). Axit clohidric tự do

mề. Sự co bóp nhịp nhàng của mề xảy ra trong 2 pha: trong pha đầu, 2 cơ
chính co bóp; và sau đó là các cơ trung gian (pha thứ 2). Thời gian của mỗi
nhịp co của 2 đôi cơ ở gà trong khoảng 2 - 3 giây, còn cả chu kỳ co bóp là 20
giây. Tần số co bóp phụ thuộc vào độ rắn của thức ăn. Khi ăn thức ăn ướt có 2
lần co bóp, còn thức ăn cứng - 3 lần trong 1 phút. Tần số co bóp của mề trung
15
bình ở gà là: khi đói 2,6; sau khi cho ăn 2,9; một giờ sau khi ăn 2,3 lần/phút.
Sỏi và các dị vật chứa trong dạ dày có một ý nghĩa nhất định trong việc
nghiền và làm sạch những tiểu thể thức ăn trong khoang dạ dày. Chúng làm
tăng tác dụng nghiền của vách dạ dày.
Đối với gia cầm, sỏi tốt nhất là từ thạch anh, chúng bền với axit
clohidric của dịch dạ dày. Để hệ tiêu hoá hoạt động bình thường thì kích
thước của các viên sỏi với gà con mới nở nên nhỏ (đường kính 2,5 - 3mm) và
tăng lên theo tuổi. Gia cầm đã trưởng thành có thể nuốt được loại sỏi có
đường kính đến10 mm. Không nên thay sỏi bằng cát, đá vôi, thạch cao, vỏ sò,
vỏ ốc hến, phấn. Cát sẽ đi rất nhanh từ dạ dày vào ruột và gây kích thích.
Những chất khác đã kể trên sẽ bị axit clohidric hoà tan và gây rối loạn tiêu
hoá ở dạ dày, sau đó là ở ruột. Nếu không có sỏi trong dạ dày cơ thì sự hấp
thu các chất dinh dưỡng và hệ số tiêu hoá thức ăn bị giảm xuống. Ở gia cầm
non, việc thiếu sỏi trong dạ dày làm giảm khối lượng tuyệt đối của dạ dày 30 -
35%. Các cơ của dạ dày sẽ trở nên nhũn và xuất hiện những vết loét trên
màng nhầy.
Trong dạ dày cơ, ngoài việc nghiền thức ăn cơ học, còn xảy ra quá trình
hoạt động của các men. Dưới tác động của axit clohidric, các phân tử protein
trở nên căng phồng và dễ bị phân giải.
- Tiêu hoá ở ruột
Quá trình tiêu hoá các chất dinh dưỡng đều xảy ra ở ruột non gia cầm.
Nguồn các men tiêu hoá quan trọng nhất là từ dịch dạ dày, cùng với mật đi
vào manh tràng, chất tiết của các tuyến ruột có ý nghĩa kém hơn.
Dịch ruột gà là một chất lỏng đục, có phản ứng kiềm yếu (pH - 7,42) với

cầm là một chất lỏng màu sáng hoặc xanh đậm, kiềm tính (pH 7,3 - 8,5). Dịch
trong túi mật đậm đặc hơn và có màu đậm hơn. Về thành phần mật, ở các loài
17
gia cầm khác nhau không giống nhau. Lượng chất khô chứa trong mật gan ở
gà là 3 - 4%, còn trong túi mật 7,9; độ đặc là 1,01 - 1,04. Các thành phần điển
hình của mật là các axit mật, sắc tố, và cholesterin, ngoài ra còn có gluxit, các
axit béo và các lipit trung tính, musin, các chất khoáng và các sản phẩm trao
đổi chất có chứa nitơ. Ngoài sự tham gia vào quá trình tiêu hoá ở ruột, gan
còn đóng vai trò quan trọng trong trao đổi protein, gluxit, lipit và khoáng.
Trong gan, các axit uric, các chất cặn bã khác, hồng cầu chết bị phân huỷ,
chất độc hại được trung hoà và thải vào nước tiểu. Trong các tế bào của gan
có chứa glycogen, là nguyên liệu để tạo nên các vitamin quan trọng (A, D, và
các vitamin khác).
Các men trong ruột hoạt động trong môi trường axit yếu, kiềm yếu; pH
dao động trong những phần khác nhau của ruột. Trong tá tràng, dưới tác động
của axit clohidric và các men của dịch dạ dày (pepsin và chimosin), protein bị
phân giải đến pepton và polypetit. Các men proteolytic của dịch tuỵ tiếp tục
phân giải chúng đến các axiTamin trong hồi tràng; gluxit của thức ăn được
phân giải đến các monosacarit, do tác động của amilaza của dịch tuỵ và một
phần do amilaza của mật và của dịch ruột; Sự phân giải lipit được bắt đầu
trong tá tràng, dưới tác động của dịch mật, dịch tuỵ và tạo ra các sản phẩm là
monoglyserit, glyserin và axit béo.
Các quá trình tiêu hoá và hấp thu ở ruột non xảy ra đặc biệt tích cực. Sự
phân giải các chất dinh dưỡng không chỉ có trong khoang ruột (tiêu hoá ở
khoang), mà cả ở trên bề mặt các lông mao của các tế bào biểu bì (sự tiêu hoá
ở màng). Tiêu hoá ở khoang là sự thuỷ phân thức ăn, còn tiêu hoá ở màng là
các giai đoạn tiếp theo, tạo ra các sản phẩm cuối cùng của sự tiêu hoá để hấp
thu. Các cấu trúc phân tử và trên phân tử của thức ăn có kích thước lớn được
phân giải dưới tác động của các men trong khoang ruột, tạo ra các sản phẩm
trung gian nhỏ hơn, chúng đi vào vùng có nhiều nhung mao của các tế bào

19
Hấp thu mỡ trong ruột, dưới tác động của men lipaza, mỡ được phân
giải đến glyserin và axit béo. Các sản phẩm của sự phân giải mỡ, về cơ bản
được hấp thu trong phần mỏng của ruột. Glyserin được hoà tan rất tốt trong
nước và được hấp thu rất nhanh. Các axit béo kết hợp với các axit mật, kali và
natri tạo thành các hợp chất hoà tan được trong nước sau đó mới được hấp
thu. Người ta cho rằng một phần nhỏ của lipit dưới dạng các nhũ tương có thể
được hấp thu trực tiếp.
Trong tương bào của biểu mô ruột, các axit béo bị tách ra khỏi các axit
mật và một phần được tái tổng hợp thành các phân tử của lipit. Các axit béo
được giải phóng ra trong quá trình hấp thu kích thích sự hấp thu lẫn nhau,
chẳng hạn, khi có các axit béo không bão hoà thì vận tốc hấp thu các axit béo
bão hoà như palmitinic và stearinic được tăng lên trong ruột non gà con. Hiệu
quả của việc bổ sung lipit vào khẩu phần của gà con phụ thuộc vào tỷ lệ giữa
các axit béo bão hoà và không bão hoà trong khẩu phần.
Hấp thu nước ở gia cầm được thực hiện trong tất cả các phần ruột non
và ruột già. Có từ 30 - 50% nước được hấp thu, quá trình này phụ thuộc áp
suất thẩm thấu trong ruột, trong máu và các mô. Người ta đã xác định được
rằng trong một số trường hợp, ở gia cầm có sự tuần hoàn nước, một phần
nước đã được hấp thu từ ruột vào máu rồi lại bị bài tiết trở lại vào diều, làm
nó căng phồng lên.
Các chất khoáng được hấp thu trên toàn bộ chiều dài ruột non. Diều, dạ
dày và ruột già hấp thu các chất khoáng không đáng kể. Các muối natri, kali
clorua hoà tan được trong chymus, được hấp thu một cách chọn lọc và với tốc
độ khác nhau, phụ thuộc vào nhu cầu về các chất đó của cơ thể. Natri clorua
đặc biệt dễ được hấp thu trong ruột gà con, vịt con và gà tây con. Khi cho ăn
thừa, muối này sẽ sinh ra sự rối loạn trao đổi chất, gà sẽ bị nhiễm độc muối.
20
Cường độ hấp thu canxi phụ thuộc vào nồng độ canxi trong máu, tính
chất của khoáng trong thức ăn cũng như hàm lượng dịch mật và vitamin D3

Lương Phượng đã được giám định kỹ thuật của Ủy ban Khoa học thành phố Nam
Ninh. Gà Lương Phượng được nhập vào nước ta trong những năm gần đây. Gà
Lương Phượng dễ nuôi, tính thích nghi cao, chịu đựng tốt với điều kiện khí hậu
nóng ẩm và nhất là thịt thơm ngon nên được nhiều người tiêu dùng ưa chuộng.
* Đặc điểm và chỉ tiêu năng suất
- Đặc điểm
Đặc điểm ngoại hình của gà Lương Phượng rất giống với gà địa
phương: mào, yếm, mặt, tích, tai đều màu đỏ. Con mái lông vàng nhạt, điểm
các đốm đen ở cổ, cánh. Con trống lông sặc sỡ nhiều màu, sắc tía ở cổ, nâu
cánh dán ở lưng, nâu xanh đen ở đuôi. Da, mỏ, chân màu vàng. Mào, yếm,
tích, tai phát triển, mào đỏ tươi, mào đơn. Ức sâu nhiều thịt. Gà Lương
Phượng dễ nuôi, có tính thích nghi cao, chịu đựng tốt với khí hậu nóng ẩm,
đòi hỏi chế độ dinh dưỡng không cao, có thể nuôi nhốt (kiểu nuôi công
nghiệp), bán công nghiệp (vừa nhốt, vừa thả) hoặc nuôi thả vườn, ngoài đồng,
trên đồi.
- Chỉ tiêu năng suất
Khối lượng gà Lương Phượng nuôi thịt ở vụ xuân ở giai đoạn 70 ngày tuổi
con trống đạt 2104,23g, con mái đạt 1619,83g, tiêu tốn thức ăn cho 1kg tăng
khối lượng ở con trống là 2,48kg và con mái là 2,65kg, tỷ lệ nuôi sống đạt
97,84%. Khối lượng gà thịt Lương Phượng nuôi vụ hè ở giai đoạn 70 ngày tuổi
con trống đạt 1908,87g, con mái đạt 1632,27g, tiêu tốn thức ăn cho 1kg tăng
khối lượng ở con trống là 2,61kg và con mái 2,71kg, tỷ lệ nuôi sống đạt 99,16%
ở con trống, 97,56% ở con mái.
Theo tác giả Đào Văn Khanh (2002)[15], thì màu sắc của gà thịt giống
Lương Phượng như sau: Con trống có màu đỏ, mút của lông đuôi, lông cánh
và lông cổ có màu đen. Con mái có màu sắc phong phú với nhiều loại màu
22
như: Nâu thẫm có đốm đen, nâu nhạt, vàng đen, màu lá chuối khô, điểm mút
của lông đuôi có mùa đen. Mỏ và chân vàng hoặc nâu xám.
1.1.4. Cơ sở khoa học của việc đánh giá các chỉ tiêu nghiên cứu

trứng thương phẩm thường có lông màu nâu. Phân biệt trống, mái: gà
Hyline, Goldline trống thương phẩm màu trắng, mái màu nâu. Bình thường
gia cầm thay lông theo mùa. Khi thay lông gia cầm không sinh sản, trạng
thái sinh lý không ổn định, khả năng chống bệnh tật giảm sút. Sự thay lông
đầu tiên lúc còn nhỏ ở gà và gà tây ở cuối năm tuổi thứ nhất. Gà mọc lông
cánh sớm, ngay ở lúc sau hai tuần tuổi chúng đã có thể sử dụng cánh để bay
nhẩy. Ở gà cao sản đã không còn thay lông theo mùa.
+ Chân: Những gà giống tốt phải có chân chắc chắn nhưng không được
thô. Gà có chân hình chữ bát, các ngón cong, chân khuyết tật không nên sử
dụng làm giống. Chân gà thường có bốn ngón, cá biệt có giống có năm ngón
(gà Ác), chân gà có vẩy sừng bao bọc, phần cơ tiêu giảm chỉ còn gân và da:
da chân có thể màu vàng, trắng, đen (gà Ác) hay đỏ (gà Chọi). Bàn chân và
ngón chân được bao bọc một lớp vẩy sừng có màu sắc tương tự như mỏ. Gà
có đặc điểm chân cao thì khả năng cho thịt thấp và khả năng phát dục chậm,
gà mái có khả năng đẻ tốt thì chân thấp. Móng phát triển từ phần cuối cùng
của ngón, gồm các tế bào biểu bì. Cựa có ở gà trống, là dấu hiệu sinh dục thứ
cấp. Khi gà trống non cựa ngắn và tù, khi gà trống già cựa dài, sắc và cứng.
Cựa có vai trò trong khi cạnh tranh và đấu tranh sinh tồn của loài.
+ Da: Da của gia cầm thường mỏng và dễ tách khỏi cơ thể, đó là điểm
khác hơn so với gia súc. Da của gia cầm không có tuyến mồ hôi và tuyến mỡ,
chỉ có ở đuôi có tuyến mỡ, tuyến này có mùi vị đặc biệt, gia cầm dùng mỏ hút
lấy tuyến mỡ này bôi lên lông mình để bảo vệ thân thể khỏi bị ướt. Trạng thái
da của cơ thể có liên quan đến sinh sản và sức khỏe của gà. Gà khỏe mạnh da
của nó mềm và đàn hồi, ở gà bệnh da thường xấu thô và cứng [30].
24
1.1.4.2. Kích thước, khối lượng cơ thể và tốc độ mọc lông
* Kích thước cơ thể
Kích thước cơ thể là một chỉ tiêu quan trọng cho sự sinh trưởng, tương
ứng với từng giai đoạn sinh trưởng, từng giống, qua đó góp phần vào phân biệt
giống, dòng. Giới hạn kích thước của loài, của cá thể do tính di truyền quy


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status