LỜI CẢM ƠN
Tác giả luận văn xin chân thành cảm ơn Ban giám hiệu, phòng Sau Đại
học, ban chủ nhiệm khoa Vật lý và tổ bộ môn Lý luận và phương pháp dạy
học bộ môn Vật lý trường ĐHSP Hà Nội đã tạo điều kiện thuận lợi cho tác
giả trong suốt quá trình học tập và nghiên cứu.
Đặc biệt, tác giả luận văn xin trân trọng và biết ơn PGS.TS. Nguyễn
Mạnh Thảo đã quan tâm và tận tình hướng dẫn tác giả trong suốt quá trình
thực hiện đề tài nghiên cứu.
Cuối cùng tác giả luận văn xin bày tỏ lòng biết ơn đối với gia đình, bạn
bè, đồng nghiệp và các bạn học viên cùng lớp cao học K22 đã động viên,
giúp đỡ tác giả trong suốt thời gian học tập và nghiên cứu.
Hà Nội, tháng 09 năm 2014
Tác giả luận văn
Bùi Thị Thuận
1
MỤC LỤC
2
DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT
GV Giáo viên
HS Học sinh
SGV Sách giáo viên
SGK Sách giáo khoa
SBT Sách bài tập
TN Thí nghiệm
TNTH Thí nghiệm thực hành
THPT Trung học phổ thông
TBTN Thiết bị thí nghiệm
3
MỞ ĐẦU
1. Lí do chọn đề tài
Ngày nay nhiều thành tựu khoa học và công nghệ xuất hiện một cách
TBTN trong dạy học là rất quan trọng, đòi hỏi người GV không những biết
hướng dẫn HS thiết kế phương án, lắp ráp và tiến hành các thí nghiệm mà đòi
hỏi họ phải biết chế tạo các bộ thí nghiệm không có sẵn. Chính vì thế, đổi mới
phương pháp dạy học vật lí phải hướng cả tới việc chế tạo và sử dụng có hiệu
quả thí nghiệm vật lí.
Thực tế dạy học ở một số trường phổ thông và đặc biệt là việc dạy học
các kiến thức phần sóng cơ học trong chương trình vật lí lớp 12 chủ yếu vẫn
theo kiểu dạy học truyền thống, có nghĩa thầy là trung tâm của hoạt động dạy học.
Trong giờ học chủ yếu là hoạt động trình diễn của giáo viên.Giáo viên chỉ cố gắng
thông báo đầy đủ những kiến thức trong sách giáo khoa, giảng giải cho học sinh
hiểu và chấp nhận nó. Đặc biệt là thí nghiệm hầu như không có.
Các kiến thức phần sóng cơ học (SGK Vật lí 12) khá trừu tượng, sách
giáo khoa trình bày nặng nề về tính toán. Các thí nghiệm ít và nếu có thì chủ
yếu là trình bày dưới dạng định tính.
Để tạo điều kiện phát triển hoạt động nhận thức, hoạt động tìm tòi sáng
tạo của học sinh trong học tập, học sinh có thể tiếp thu một cách sâu sắc khi
học phần này, tôi thấy cần phải chế tạo và tiến hành một số các thí nghiệm
giúp học sinh tiếp thu được những kiến thức thực sự là các kiến thức có chất
lượng, sâu sắc, vững chắc.
Với những lí do trên, tôi đã chọn đề tài “Chế tạo và sử dụng bộ thí
nghiệm về giao thoa sóng nước trong dạy học vật lí lớp 12” làm đề tài
nghiên cứu.
2.Mục đích nghiên cứu
5
Nghiên cứu chế tạo và sử dụng bộ thí nghiệm trong dạy học phần giao
thoa sóng nước – Vật lí 12 THPT nhằm phát huy hoạt động nhận thức tích
cực, sáng tạo của HS trong học tập.
3.Giả thuyết khoa học
Nếu chế tạo được và sử dụng hợp lí bộ thí nghiệm trong dạy học vật lí
có thể góp phần làm phát huy hoạt động nhận thức tích cực, sáng tạo của HS
cứu sau:
- Phương pháp nghiên cứu lí luận: nghiên cứu các tài liệu về lí luận dạy học có
liên quan đến đề tài dùng làm cơ sở định hướng cho quá trình nghiên cứu.
Nghiên cứu các tài liệu vật lí, SGK, SGV, SBT… mà trọng tâm là các kiến
thức về giao thoa sóng, nhằm đảm bảo cho việc thực hiện mục đích nghiên
cứu.
- Phương pháp nghiên cứu thực tiễn: Thử nghiệm trong phòng TN để cải tiến
những dụng cụ đã có sẵn, chế tạo những dụng cụ mới để phù hợp với các yêu
cầu đề ra.
- Phương pháp điều tra ( trao đổi với giáo viên, học sinh, dự giờ): tìm hiểu thực
tiễn về việc dạy và học các kiến thức phần giao thoa sóng tại một số trường
THPT.
- Thực nghiệm sư phạm (dự giờ, ghi chép, rút kinh nghiệm, điều chỉnh)
- Phương pháp thống kê toán học: hỗ trợ cho việc xử lý, đánh giá kết quả thực
nghiệm sư phạm.
7.Những đóng góp của đề tài
- Chế tạo mới một số TBTN về giao thoa sóng để có thể sử dụng trong dạy học.
- Sơ đồ logic tiến trình dạy học bài “ giao thoa sóng” có sử dụng TBTN.
8.Cấu trúc của luận văn
Gồm 3 phần:
Phần I: Mở đầu
Phần II: Nội dung
Chương 1: Cơ sở lí luận
7
Chương 2: Chế tạo và sử dụng bộ thí nghiệm trong tổ chức hoạt động nhận
thức của học sinh khi dạy học kiến thức giao thoa sóng – Vật lí 12 THPT
Chương 3: Thực nghiệm sư phạm
Kết luận và kiến nghị
Phần III: Tài liệu tham khảo
CHƯƠNG I : CƠ SỞ LÍ LUẬN CỦA VIỆC SỬ DỤNG THÍ
một hoạt động nhận thức đặc thù riêng, một mặt nó phải tuân theo qui luật
chung của hoạt động nhận thức sáng tạo, mặt khác phải phù hợp với đặc điểm
của khoa học vật lí.
* Những đặc trưng cơ bản của hoạt động nhận thức vật lí:
Hoạt động nhận thức vật lí của học sinh là hoạt động có đối tượng, đối
tượng chính là các hiện tượng tự nhiên, các vật thể tồn tại xung quanh chúng
ta. Hoạt động nhận thức vật lí của học sinh nhằm tác động vào các đối tượng
tự nhiên, các vật thể, bằng cách tiến hành các thí nghiệm và thực hiện các
phép đo vv…buộc chúng bộc lộ ra những mục đích, bản chất và những qui
luật biến đổi của mình. Qua đó, học sinh sẽ phát hiện được những thuộc tính,
bản chất cùng với qui luật của các hiện tượng tự nhiên, các vật thể.
Hoạt động nhận thức vật lí của học sinh là hoạt động có mục đích với
những động cơ phù hợp. Những động cơ đó gắn liền với nội dung học tập,
nghĩa là động cơ nắm lấy các tri thức, kĩ năng, kĩ xảo để áp dụng vào đời sống
9
và lao động sản xuất đem lại lợi ích cụ thể; mặt khác để tự hoàn thiện mình,
rèn luyện cho mình khả năng hoạt động thực tiễn và khả năng tư duy sáng tạo.
Tính mục đích là điều kiện cần thiết tạo cho học sinh niềm say mê, hứng thú
trong quá trình hoạt động nhận thức.
Hoạt động nhận thức của học sinh là hoạt động mang tính chủ thể, chủ
thể của hoạt động ở đây chính là cá nhân học sinh. Trong quá trình học tập đòi
hỏi học sinh phải thực hiện và hoàn thiện các kĩ năng, kĩ xảo như: kĩ năng
thao tác các thí nghiệm vật lí, kĩ năng mô tả và giải thích cấu tạo các thiết bị,
các nguyên tắc hoạt động và ứng dụng của một số các dụng cụ và thiết bị kĩ
thuật…Hay các kĩ xảo như: sử dụng các dụng cụ cân đo, lực kế, ampe kế…
chính xác.
Để hoạt động nhận thức vật lí của học sinh đạt kết quả cao thì trong quá
trình học tập cần có sự giúp đỡ và định hướng của giáo viên.
1.1.2. Hoạt động dạy vật lí
1.1.2.1. Hoạt động dạy
Quan niệm Học là quá trình tiếp thu và
lĩnh hội qua đó hình thành
kiến thức , kĩ năng, tư tưởng,
tình cảm.
Học là quá trình kiến tạo; học
sinh tìm tòi, khám phá, phát
hiện, luyện tập, khai thác và xử
lí thông tin… tự hình thành hiểu
biết, năng lực và phẩm chất
Bản chất Truyền thụ tri thức, truyền thụ
và chứng minh chân lí của
giáo viên
Tổ chức hoạt động nhận thức
cho học sinh. Dạy học sinh cách
tìm ra chân lí.
Mục tiêu Chú trọng cung cấp tri thức,
kĩ năng, kĩ xảo. Học để đối
phó với thi cử. Sau khi thi
xong những điều đã học
thường bị bỏ quên hoặc ít
dùng
Chú trọng hình thành các năng
lực(sáng tạo, hợp tác…) dạy
phương pháp và kĩ thuật lao
động khoa học, dạy cách học.
Học để đáp ứng những yêu cầu
của cuộc sống hiện đại và tương
11
lai. Những điều đã học cần thiết,
bổ ích cho bản thân học sinh và
đối diện với giáo viên.
1.1.2.2. Hoạt động dạy vật lí
Như ta đã biết, mục đích của hoạt động dạy là làm cho học sinh lĩnh hội
được kiến thức, kĩ năng, kinh nghiệm xã hội, đồng thời hình thành và phát
triển ở họ phẩm chất và năng lực. Như vậy, hoạt động dạy của giáo viên là tổ
chức, hướng dẫn, tạo điều kiện cho học học sinh thực hiện thành công các
hành động học của họ. Do đó, dạy vật lí không phải là giảng giải, minh họa
12
cho học sinh hiểu ý nghĩa của những khái niệm, định luật vật lí, uốn nắn họ
thực hiện đúng những kĩ năng của nhà nghiên cứu vật lí, nhồi nhét vào đầu
học sinh những kinh nghiệm xã hội đã được đúc kết hoàn chỉnh, như quan
điểm cổ truyền về dạy học. Theo quan điểm hiện đại, dạy vật lí là tổ chức,
hướng dẫn cho học sinh thực hiện các hành động nhận thức vật lí đã nói ở
trên, để họ tái tạo được kiến thức, kinh nghiệm xã hội và biến chúng thành
vốn liếng của mình, đồng thời làm biến đổi bản thân học sinh, hình thành và
phát triển những phẩm chất năng lực của họ.
Để tạo ra những điều kiện thuận lợi giúp học sinh có thể thực hiện tốt
các hành động học tập, giáo viên cần thực hiện những hành động sau đây
trong quá trình dạy vật lí [9]:
• Xây dựng tình huống có vấn đề
Tạo mâu thuẫn nhận thức, gợi động cơ, hứng thú đi tìm cái mới, kích
thích học sinh hăng hái, tự giác hoạt động, tạo ra không khí lớp học thuận lợi
ủng hộ những cuộc phát biểu trao đổi ý kiến thảo luận về những kết quả thực
hiện hành động học tập của học sinh.
• Lựa chọn một lôgic nội dung bài học thích hợp
Nội dung kiến thức vật lí ở trường phổ thông không phải là nguyên dạng
kiến thức vật lí trong khoa học ở dạng đầy đủ nhất, hiện đại nhất mà đã được
biến độ đi, trình bày dưới dạng đơn giản hơn, phù hợp với trình độ học sinh.
Do đó, công việc của giáo viên lên làm là phân chia bài học thành những vấn
đề nhỏ, phù hợp với trình độ xuất phát của học sinh, xác định hệ thống những
+ Phát hiện những đặc tính bản chất của vật gốc.
14
+ Lựa chọn hệ thống những vật thể, kí hiệu mà ta đã biết rõ quy luật hành
động của chúng để biểu thị những đặc tính của vật gốc. Đặc biệt quan trọng là
những mô hình lí tưởng.
+ Cho mô hình hoạt động, suy ra một hệ quả có thể kiểm tra được trong
thực tế.
+ Bố trí thí nghiệm kiểm tra hệ quả dự đoán.
+ Kết luận.
Học sinh cần nắm được nội dung các giai đoạn chính của những phương
pháp nhận thức này xem như một định hướng khái quát trên con đường đi tìm
chân lí, làm cho kiến thức vật lí thu được phản ánh đúng thực tế khách quan.
• Hướng dẫn, tạo điều kiện để học sinh phát triển, trao đổi, tranh luận về các
kết quả hoạt động của mình, động viên khuyến khích kịp thời.
Đây không chỉ đơn thuần là việc rèn luyện ngôn ngữ, trình bày bằng lời
lẽ sáng sủa, chính xác những ý nghĩ, tư tưởng của mình mà còn là cách hợp
thức hóa các kết quả nghiên cứu, làm cho những người trong cộng đồng thừa
nhận sự đúng đắn của các kết quả nghiên cứu cá nhân. Có như thế, kiến thức
xây dựng được mới trở thành kiến thức khoa học khách quan. Mặt khác,
việc trao đổi tranh luận này cũng giúp cho việc đánh giá các kết quả hành
động được khách quan, tránh được những sai lầm chủ quan nhiều khi không
tự nhận thấy được.
• Lựa chọn và cung cấp cho học sinh những phương tiện, công cụ cần thiết
để thực hiện các hành động.
Về phương tiện vật chất thì cần những dụng cụ thiết bị thí nghiệm,
những dụng cụ đo lường, những mô hình vật chất, những hình vẽ biểu đổ. Các
phương tiện tinh thần là những khái niệm khoa học đã biết, những phương
pháp suy luận, chúng cần được củng cố để học sinh có thể sử dụng đúng với ý
nghĩa của chúng.
15
tự giác, chủ động, sáng tạo và năng lực tự học của người học” [19].
1.2. Tổ chức dạy học theo hướng phát huy tính tích cực, sáng tạo của học sinh
1.2.1. Tính tích cực của học sinh trong học tập
Tích cực học tập thực chất là tính tích cực nhận thức đặc trưng ở
khát vọng hiểu biết, cố gắng trí lực và có nghị lực cao trong quá trình chiếm
lĩnh tri thức. Theo Kharlanop “ tính tích cực trong học tập có nghĩa là hoàn
thành một cách chủ động, tự giác, có nghị lực, có hướng đích rõ rệt, có sáng
kiến và đầy hào hứng, những hành động trí óc và chân tay nhằm nắm vững
kiến thức , kĩ năng, kĩ xảo, vận dụng chúng vào học tập và thực tiễn”. Như
vậy, tính tích cực là một đức tính quý báu rất cần thiết cho mọi quá trình nhận
thức, là nhân tố rất quan trọng tạo nên hiệu quả học tập.
Trong dạy học, việc phát triển tính tích cực của HS là điều kiện quan
trọng quyết định đến chất lượng kiến thức và việc rèn luyện năng lực hoạt
động của HS. Quá trình dạy học cần được thực hiện sao cho các tác động từ phía
GV lên HS cộng hưởng được với các nỗ lực học tập của chính bản thân họ. Để
làm được điều này, cách tốt nhất là hướng HS vào các hoạt động say mê tìm tòi
giống như các nhà khoa học tìm cách giải quyết các vấn đề khoa học.
1.2.1.1. Các dấu hiệu của tính tích cực nhận thức
Chúng ta có thể nhận biết được tính tích cực trong hoạt động nhận thức
của HS dựa vào nhiều dấu hiệu khác nhau. Theo GS.TSKH Thái Duy Tuyên,
những dấu hiệu đó có thể phân chia thành các nhóm sau:
-Những dấu hiệu bên ngoài thông qua thái độ, hành vi và hứng thú
Những biểu hiện cụ thể thể hiện sự hứng thú của HS:
+ Thích thú, chủ động tiếp xúc với đối tượng:
17
* HS hay đặt câu hỏi, nêu thắc mắc, đòi hỏi giải thích cặn kẽ những vấn
đề chưa đủ rõ.
* HS mong muốn đóng góp với GV, với bạn những thông tin mới lấy từ
nguồn khác nhau, thích thú, chủ động tiếp xúc với đối tượng cần nhận thức,
không nản chí khi gặp khó khăn.
nhận thức vấn đề mới, kiên trì hoàn thành các bài tập, không nản lòng trước
những tình huống khó khăn thì kết quả học tập sẽ tốt hơn.
Từ các dấu hiệu của tính tích cực, chúng tôi đưa ra các tiêu chí để
đánh giá tính tích cực. Các dấu hiệu bên ngoài và các dấu hiệu bên trong được
đánh giá dựa trên quan sát quá trình hoạt động cá nhân, hoạt động nhóm, kế
hoạch cá nhân, nhóm, hồ sơ học tập… Những dấu hiệu thông qua kết quả học
tập được đánh giá thông qua điểm số của phiếu học tập, bài báo cáo, bài thu
hoạch, nội dung bài thuyết trình,…và các sản phẩm của HS.
1.2.1.2. Các cấp độ của tính tích cực trong học tập
- Bắt chước, tái hiện: gắng sức làm theo mẫu của GV, của bạn bè.
- Tìm tòi: độc lập giải quyết vấn đề đã nêu ra, tìm ra cách giải quyết hợp lí
nhất.
- Sáng tạo: nghĩ ra cách thiết kế, chế tạo cụng cụ thí nghiệm và các phương án
thí nghiệm mới.
1.2.1.3. Các biện pháp tích cực hóa hoạt động nhận thức của HS trong quá trình dạy
học
Theo GS.TSKH Thái Duy Tuyên: để nâng cao tính tích cực nhận thức
của HS, GV cần chú ý các biện pháp sau
- Giác ngộ ý, thức học tập, kích thích tinh thần trách nhiệm và hứng thú học tập
của các em bằng cách nói lên ý nghĩa lí thuyết và thực tiễn, tầm quan trọng
của vấn đề nghiên cứu.
- Kích thích hứng thú qua nội dung:
19
+ Không chỉ quan tâm đến kiến thức lí thuyết, chú trọng kĩ năng thực
hành, vận dụng kiến thức, năng lực phát triển và giải quyết các vấn đề của
thực tiễn.
+ Gắn vốn hiểu biết, kinh nghiệm và nhu cầu của HS với tình huống thực
tế, bối cảnh và môi trường địa phương, những vấn đề HS quan tâm.
- Kích thích hứng thú qua phương pháp:
+ Để tích cực hoạt động nhận thức của HS phải phối hợp nhiều phương
1.2.2. Phát triển năng lực sáng tạo của HS trong học tập
1.2.2.1. Khái niệm năng lực
Năng lực là những thuộc tính tâm lí riêng của cá nhân, nhờ những thuộc
tính này mà con người hoàn thành tốt đẹp một loạt hành động nào đó, mặc dù
phải bỏ ra ít sức lao động nhưng vẫn đạt kết quả cao.
Năng lực gắn liền với kĩ năng, kĩ xảo trong lĩnh vực hoạt động tương
ứng. kĩ năng, kĩ xảo liên quan đến việc thực hiện một loạt hành động hẹp
chuyên biệt, đến mức thành thạo, tự động hóa, máy móc còn năng lực chứa
đựng yếu tố mới mẻ, linh hoạt trong hành động, có thể giải quyết nhiệm vụ
thành công trong nhiều tình huống khác nhau, trong một lĩnh vực hoạt động
rộng hơn.
1.2.2.2. Sự hình thành và phát triển năng lực
Tâm lí học hiện đại cho rằng: con người mới sinh ra chưa có năng lực,
chưa có nhân cách. Chính trong quá trình sống, học tập, lao động, giao lưu
con người đã hình thành và phát triển nhân cách của mình.
Sự hình thành và phát triển năng lực của con người chịu tác động của
nhiều yếu tố:
- Yếu tố sinh học: Vai trò của di truyền trong sự hình thành năng lực
- Yếu tố hoạt động của chủ thể.
- Yếu tố môi trường xã hội.
- Vai trò của giáo dục, dạy học.
21
1.2.2.3. Khái niệm năng lực sáng tạo
“Sáng tạo là một hoạt động mà kết quả của nó là một sản phẩm tinh thần
hay vật chất có tính đổi mới, có ý nghĩa xã hội, có giá trị.”
Năng lực sáng tạo có thể hiểu là khả năng tạo ra những giá trị mới về vật
chất và tinh thần, tìm ra cái mới, giải pháp mới, công cụ mới, vận dụng thành
công những hiểu biết đã có vào hoàn cảnh mới.
Như vậy, sản phẩm của sự sáng tạo không thể suy ra từ cái đã biết bằng
cách suy luận logic hay bắt chước làm theo.
Kiến thức Vật lí trong trường phổ thông là những kiến thức đã được loài
người khẳng định; tuy vậy, chúng luôn luôn là mới mẻ đối với học sinh. Việc
xây dựng kiến thức mới sẽ thường xuyên tạo ra những tình huống đòi hỏi học
sinh phải đưa ra những ý kiến mới, giải pháp mới đối với chính bản thân họ.
Khi xây dựng kiến thức mới, nếu tổ chức quá trình nhận thức Vật lí theo
chu trình sáng tạo sẽ giúp cho học sinh trên con đường hoạt động sáng tạo dễ
nhận biết được: chỗ nào có thể suy nghĩ dựa trên những hiểu biết đã có, chỗ
nào phải đưa ra kiến thức mới, giải pháp mới. Việc tập trung sức lực vào chỗ
mới đó sẽ giúp cho hoạt động sáng tạo có hiệu quả, rèn cho tư duy trực giác
biện chứng nhạy bén, phong phú. Trong nhiều trường hợp giáo viên có thể
giới thiệu cho học sinh những kinh nghiệm sáng tạo của các nhà bác học.
Theo quan điểm hoạt động, quá trình Vật lí được xây dựng đi từ dễ đến
khó, phù hợp với trình độ học sinh, tận dụng được những kinh nghiệm sống
hằng ngày của họ, tạo điều kiện cho họ có cơ hội đề xuất ra những ý kiến mới
mẻ, có ý nghĩa, làm cho họ cảm nhận được hoạt động sáng tạo là hoạt động
thường xuyên có thể thực hiện được với sự cố gắng nhất định. Sự tự tin trong
hoạt động sáng tạo là một yếu tố tâm lí rất quan trọng làm cho chủ thể nhận
thức thoát khỏi những sự ràng buộc, hạn chế của những hiểu biết cũ hay bởi ý
kiến của người khác [14].
*Luyện tập phỏng đoán, dự đoán, xây dựng giả thuyết.
23
Dự đoán có vai trò rất quan trọng trên con đường sáng tạo khoa học. Dự
đoán dựa chủ yếu vào trực giác, kết hợp với kinh nghiệm phong phú và kiến
thức sâu sắc về mỗi lĩnh vực. Dự đoán khoa học không phải là tùy tiện mà
luôn luôn phải có một cơ sở nào đó, tuy chưa thật là chắc chắn. Trong dạy học
Vật lí có thể có những căn cứ để đưa ra dự đoán [9]:
- Dựa vào liên tưởng tới một kinh nghiệm đã có.
- Dựa trên sự tương tự.
- Dựa trên sự xuất hiện đồng thời giữa hai hiện tượng mà dự đoán giữa chúng
có quan hệ nhân quả.
tập sáng tạo.
Khi giải những bài tập sáng tạo, ngoài việc phải vận dụng một số kiến
thức đã học học sinh bắt buộc phải có những ý kiến độc lập mới mẻ, không
thể suy ra một cách logic từ những kiến thức đã học.
Có hai loại bài tập sáng tạo là bài tập thiết kế và bài tập nghiên cứu.
Trong bài tập thiết kế, đòi hỏi học sinh phải đề xuất một thiết bị để thỏa mãn
yêu cầu tạo ra một hiện tượng Vật lí nào đó. Trong bài tập nghiên cứu, yêu
cầu học sinh nghiên cứu để giải thích một hiện tượng mới gặp nào đó.
Theo chương trình Vật lí phổ thông, người ta đặc biệt chú trọng rèn
luyện cho học sinh khả năng dự đoán và đề xuất phương án thí nghiệm kiểm
tra dự đoán đó, nhằm hình thành và phát triển năng lực sáng tạo của học sinh.
[10]
*Tổ chức cho học sinh học nhóm
Học nhóm là một hình thức học tập, trong học nhóm có sự kết hợp giữa
cá nhân tự lực nghiên cứu và sự gợi ý, tiếp sức của tập thể trên con đường tìm
tòi cũng như sự tranh luận để hợp thức hóa các kết quả nghiên cứu.
Theo lí thuyết về vùng phát triển gần của Vưgôtxki, mỗi cá nhân có thể
vươn tới những tầm hiểu biết rộng hơn nhờ sự trao đổi với bạn bè. Việc thảo
luận trong tập thể không những tạo điều kiện cho học sinh có thể giúp đỡ, gợi
ý hỗ trợ lẫn nhau trong việc tìm tòi nghiên cứu mà thông qua tập thể ý kiến của
mỗi cá nhân được điều chỉnh, khẳng định hay bác bỏ. Qua đó hình thành cho học
25