I HM HÀ NI 2
- Thông tin
HÀ NI - 2014
1. Bảng 1: Cơ cấu môn loại sách trong thư viện huyện Ninh Giang.
2. Bảng 2.1: Nhu cầu tin về các lĩnh vực khoa học.
3. Bảng 2.2: Nhu cầu tin về ngôn ngữ tài liệu.
4. Bảng 2.3: Nhu cầu tin về loại hình tài liệu.
5. Bảng 2.4: Thời gian người dùng tin nghiên cứu và khai thác thông tin tại
thư viện.
6. Bảng 2.5: Bảng đánh giá mức độ đáp ứng nhu cầu tìm tài liệu tại thư viện.
7. Bảng 2.6: Hình thức tra cứu thông tin của người dùng tin tại thư viện.
2.2.1. Phương thức thỏa mãn nhu cầu tin thông qua phiếu yêu cầu 20
2.2.2. Phương thức thỏa mãn nhu cầu tin qua hình thức mượn tài liệu 21
2.3. Hiện trạng nhu cầu tin của người dùng tin tại thư viện 21
2.3.1. Nhu cầu tin về các lĩnh vực khoa học 22
2.3.2. Nhu cầu về ngôn ngữ tài liệu 22
2.3.3. Nhu cầu tin về loại hình tài liệu 24
2.4. Tập quán sử dụng thông tin của người dùng tin 25
2.5. Mức độ đáp ứng của tài liệu 26
2.5.1. Mức độ đáp ứng tài liệu của thư viện 26
2.5.2. Tác dụng của bộ máy tra cứu 27
2.5.3. Một số sản phẩm dịch vụ và dịch vụ thông tin và công tác chuyên môn
khác của thư viện 29
Chương 3. MỘT SỐ GIẢI PHÁP NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG NHU CẦU
TIN TẠI THƯ VIỆN 32
3.1. Những thuận lợi và khó khăn ảnh hưởng tới nhu cầu tin của thư viện 32
3.2. Những giải pháp thúc đẩy hơn nữa nhu cầu tin tại thư viện 36
3.2.1. Bổ sung và nâng cao trình độ cán bộ thư viện 36
3.2.2. Đẩy mạnh công tác tuyên truyền giới thiệu sách, báo trong
thư viện 39
3.2.3. Xây dựng và đảm bảo cơ cấu vốn tài liệu hợp lý 40
3.2.4. Đẩy mạnh ứng dụng công nghệ thông tin 41
3.2.5. Phát triển nâng cao chất lượng các sản phẩm và dịch vụ TT-TV . 42
3.2.6. Đào tạo người dùng tin 42
3.2.7. Tăng cường cơ sở vật chất, trang thiết bị cho họa động TT -TV. 44
3.3. Kiến Nghị 45
KẾT LUẬN 48
TÀI LIỆU THAM KHẢO 49
1
thần của người dùng tin, ảnh hưởng tới tâm lý của họ, tới hệ thống các nhu
cầu khác, trong đó không thể thiếu nhu cầu tin. Vì vậy, nghiên cứu nắm vững
nhu cầu của người dùng tin trong không gian và thời gian cụ thể là vấn đề
quan trọng hàng đầu định hướng hoạt động thông tin thư viện phát triển đúng
hướng và đạt hiệu quả cao.
Thư viện ngày nay không đơn thuần là nơi lưu trữ, xử lý và đáp ứng nhu
cầu đơn giản của người dùng tin, mà còn là nơi đáp ứng, thỏa mãn tối đa yêu
cầu của người dùng tin một cách nhanh chóng, chính xác nhất.
Nhận thức được tầm quan trọng đó, thư viện huyện Ninh Giang không
ngừng đẩy mạnh công tác bạn đọc, đa dạng hóa các sản phẩm, dịch vụ thông
tin thư viện, hiện đại hóa các trang thiết bị phục vụ tốt hơn người dùng tin của
thư viện.
Với tư cách là một trung tâm văn hóa, thông tin của địa phương, sứ
mệnh thỏa mãn nhu cầu tin, và hơn thế, kích thích phát triển nhu cầu tin lành
mạnh cho tầng lớp nhân dân thì hoạt động của thư viện huyện Ninh Giang
đang đứng trước thời cơ và thách thức là làm thế nào để thu hút nhiều hơn bạn
đọc đến thư viện, đồng thời nâng cao nguồn lực thông tin cả về số lượng và
chất lượng trong thời đại bùng nổ thông tin hiện nay với nguồn kinh phí còn
hạn hẹp. Bên cạnh đó là việc nâng cao hiệu quả quản lý và khai thác nguồn
lực hiện có, đồng thời đáp ứng nhu cầu của người dùng tin trên cơ sở khai
thác, tận dụng nguồn lực thông tin của thư viện một cách tối ưu. Trước những
thách thức đó, thư viện Ninh Giang vẫn giữ vững truyền thống hăng say làm
việc tận tâm trong công tác, không ngừng học hỏi nâng cao chuyên môn
nghiệp vụ góp phần đưa thư viện vượt lên khó khăn, thử thách để hoàn thành
xuất sắc nhiệm vụ được giao và hiện đại hóa hơn nữa công tác phục vụ và đáp
ứng nhu cầu tin của thư viện cho bạn đọc.
3
Qua quá trình tìm hiểu, nghiên cứu nhu cầu tin và khả năng đáp ứng nhu
cầu tin của thư viện huyện Ninh Giang chúng ta có thể đánh giá chính xác
- Phạm vi nghiên cứu
+ Phạm vi thời gian: Người dùng tin đến thư viện huyện Ninh Giang.
+ Phạm vi không gian: Tại thư viện huyện Ninh Giang.
6. P
- Khảo sát thực tế.
- Phỏng vấn trực tiếp hoặc bằng phiếu Anket.
- Phân tích tổng hợp tài liệu.
- Thống kê, so sánh, phân tích, đánh giá kết quả.
Khóa luận của tôi sử dụng phương pháp nghiên cứu bằng phiếu AnKet.
Vì vậy, phiếu điều tra bao gồm 15 câu hỏi. Có 300 phiếu được phát ra và thu
về là 128 phiếu.
Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo và phụ lục,
khóa luận gồm 3 chương:
Chương 1: Thư viện huyện Ninh Giang - Trung tâm thông tin văn hóa
giáo dục của huyện Ninh Giang
Chương 2: Nghiên cứu nhu cầu tin của người dùng tin tại thư viện
Huyện Ninh Giang
Chương 3: Một số giải pháp nâng cao chất lượng nhu cầu tin tại thư viện 5
N NINH GIANG -
1.1. Khái qu
Thư viện huyện Ninh Giang là thư viện công cộng nhà nước cấp huyện
nằm trong hệ thống thư viện công cộng do Bộ Văn hóa - Thể thao và Du lịch
quản lý.
Thư viện huyện Ninh Giang là một đơn vị sự nghiệp nằm trong cơ cấu tổ
Ninh Thanh để lại cho thư viện huyện Thanh Miện mà Ninh Giang không
nhận cuốn sách nào, ban đầu không có trụ sở làm việc nhưng lãnh đạo phòng
Văn hóa - Thông tin - Thể thao quan tâm đã thuê địa điểm để triển khai cho
thư viện huyện hoạt động. Đồng thời, tập trung bổ sung nhiều sách, báo và
hướng phát triển về cơ sở thông qua đề án xây dựng hệ thống thư viện huyện.
Thư viện huyện Ninh Giang mới đưa vào hoạt động gần một năm đã có
10.531 bản sách, 25 loại báo và tạp chí, thu hút 12.180 lượt bạn đọc với
48.720 lượt sách luân chuyển mỗi năm.
Đầu năm 2004 được sự quan tâm của UBND tỉnh và UBND huyện Ninh
Giang, thư viện huyện Ninh Giang được khởi công xây dựng với diện tích sử
dụng là 800m
2
(2 tầng, trên khuôn viên 1200m
2
nằm ở trung tâm thị trấn Ninh
Giang, cuối năm 2005 thư viện huyện Ninh Giang khánh thành và đưa vào sử
dụng có các phòng đọc tổng hợp, phòng mượn, phòng báo, tạp chí, phòng
thiếu nhi, phòng nghe nhìn.
Bên cạnh đó thư viện huyện Ninh Giang còn chú trọng công tác tuyên
truyền giới thiệu sách, báo. Cứ mỗi độ tết đến, xuân về, thư viện huyện Ninh
Giang lại tổ chức trưng bày báo xuân, triển lãm thư pháp Hán Nôm. Vào dịp hè
thư viện thường xuyên tổ chức tập huấn nghiệp vụ cho cán bộ thư viện cơ sở.
Với truyền thống là địa phương dẫn đầu toàn tỉnh về phong trào đọc và
làm theo sách, phong trào xây dựng tủ sách cơ sở, thôn, thư viện Ninh Giang
7
là điểm sáng của hệ thống thư viện công cộng tỉnh Hải Dương. Góp phần
quan trọng trong phong trào toàn dân đoàn kết xây dựng đời sống văn hóa cơ
sở và công cuộc xây dựng nông thôn mới. Cùng với đội ngũ cán bộ thư viện
có trình độ chuyên môn cao, phục vụ độc giả nhiệt tình thư viện Ninh Giang
Nhận thức được tầm quan trọng của thư viện trong nền giáo dục với tiêu
chí: Giáo dục là quốc sách hàng đầu. TV NG không ngừng nỗ lực cố gắng
thực hiện tốt chức năng giáo dục của mình. Hiện nay, TV NG có 1/3 số sách
trong kho được tổng hợp là sách phục vụ cho học tập, nghiên cứu, góp phần
to lớn vào sự nghiệp giáo dục đào tạo trong huyện nói riêng và cả nước nói
chung.
Chức năng thông tin
TV NG là trung tâm luân chuyển sách báo phục vụ độc giả trên địa bàn
huyện Ninh Giang. Từ đây, sách báo được luân chuyển đi khắp các xã, thị
trấn, để đáp ứng tốt hơn nhu cầu tinh thần cho nhân dân.
TV NG là nơi thu thập, xử lý, lưu trữ, cung cấp thông tin cho người dùng
tin với các hình thức như: thư mục thông báo sách mới, thư mục chuyên đề,
thư mục tổng quan …
Chức năng giải trí
TV NG là trung tâm giao lưu văn hóa tinh thần và giải trí lành mạnh. Đối
tượng người dùng tin là: người cao tuổi, cán bộ hưu trí đến thư viện với nhu
cầu giải trí. Học sinh đến thư viện để học tập, nghiên cứu và giải trí.
TVNG tham gia vào việc sử dụng thời gian nhàn rỗi cho nhân dân bằng
cách cung cấp sách báo và các phương tiện khác nhằm đáp ứng nhu cầu giải
trí cho nhân dân ngày một hiệu quả.
Nhiệm vụ của thư viện Ninh Giang
Là thư viện trung tâm của huyện, thư viện huyện Ninh Giang có các
nhiệm vụ đặc trưng sau:
9
Tổ chức việc đọc sách tại chỗ và luân chuyển cho mượn sách báo rộng
rãi cho mọi đối tượng. Bảo quản vốn sách, báo, cơ sở vật chất, kỹ thuật, tài
sản khác của thư viện.
Tổ chức hướng dẫn, bồi dưỡng chuyên môn nghiệp vụ cho các thư viện
xã, các tủ sách của các làng văn hóa.
Trung tâm.
Tổ chức, sắp xếp, lưu trữ, bảo quản, quản lý tài liệu; xây dựng hệ thống tra
cứu tích hợp; từng bước thiết lập mạng lưới nhập và tìm kiếm tìm tin tự động
hóa; xây dựng cơ sở dữ liệu, biên soạn, xuất bản phẩm thông tin theo quy định
của pháp luật.
Trong suốt quá trình hoạt động, Thư viện luôn xác định rõ chức năng
nhiệm vụ để từ đó đề ra các kế hoạch cụ thể nhằm hoàn thành tốt các công
việc được giao, góp phần không nhỏ vào sự nghiệp phát triển văn hóa thông
tin của huyện Ninh Giang, tỉnh Hải Dương.
1.2.2. Cơ cấu tổ chức của thư viện huyện Ninh Giang
Hiện nay, tổng số cán bộ của thư viện gồm có 04 cán bộ, trong đó có 02
tốt nghiệp đại học chuyên ngành TTTV, 01 đang theo học, 01 hợp đồng.
Do đặc điểm và điều kiện của huyện Ninh Giang nên hiện nay Thư viện
huyện Ninh Giang vẫn nằm trong phòng Văn hóa và Thông tin của huyện và
chịu sự quản lý điều hành của trưởng phòng Văn hóa và Thông tin. Tuy hiện
nay thư viện huyện Ninh Giang vẫn chịu sự chỉ đạo trực tiếp của Phòng Văn
hóa và Thông tin của UBND huyện Ninh Giang và Sở Văn hóa, Thể thao và
Du lịch tỉnh Hải Dương nhưng được sự quan tâm của các cấp chính quyền
đồng thời đáp ứng nguyện vọng của nhân dân, thư viện huyện Ninh Giang đã
11
được đầu tư xây dựng trên diện tích khuôn viên 1.200m
2
với các phòng ban
chức năng sau:
- Phòng đọc tổng hợp phục vụ đọc tại chỗ cho tất cả mọi đối tượng.
- Phòng mượn đáp ứng nhu cầu mượn của độc giả thực hiện luân chuyển
sách, báo, tạp chí.
- Phòng nghe nhìn được trang bị các máy tính để phục vụ độc giả tra cứu
nhu cầu tin của mình một cách nhanh nhất và hiệu quả nhất.
trong tổng số diện tích 1862
m
2
.( 2 tầng, nằm ở trung tâm thị trấn Ninh Giang).
Thư viện được chia thành:
Trụ sở chính là dãy nhà 2 tầng gồm các phòng ban:
Tầng 1: phòng mượn, phòng nghiệp vụ.
Tầng 2: Phòng đọc tổng hợp, phòng phong trào.
Nhà bảo vệ.
Một lán để xe.
Tất cả các phòng ban đều được trang bị đầy đủ các trang thiết bị tiện
nghi phù hợp cho việc hỗ trợ công việc của nhân viên làm việc tại thư viện.
Hiện nay, thư viện đã trang bị được máy tính nối mạng, máy in, cùng hệ
thống kệ giá để sách, đèn điện, quạt điện trong các phòng, đặc biệt là kho bảo
quản tài liệu.
Vốn tài liệu
Vốn tài liệu của thư viện là tài sản quý giá, là tiềm lực, sức mạnh và
niềm tự hào của thư viện. Mặt khác, vốn tài liệu còn là di sản văn hóa, bộ nhớ
của dân tộc, thước đo trình độ phát triển của mỗi quốc gia.
Vốn tài liệu của TV NG phong phú về nội dung và đa dạng về hình thức
với đủ môn loại tri thức với các loại hình tài liệu khác nhau.
Sách
Tổng số sách hiện có tại thư viện huyện Ninh Giang tính đến cuối năm
2013 là hơn 20.000 cuốn. Trong đó:
- Sách mới bổ sung đầu năm 2013 là hơn 1.700 cuốn.
13
Sách văn học
25%
những cán bộ có trình độ chuyên môn nghiệp vụ, tin học và ngoại ngữ tốt.
Hiện nay, tổng số cán bộ của thư viện gồm có 04 cán bộ, trong đó có 02
cán bộ tốt nghiệp đại học chuyên ngành TTTV, 01 cán bộ đang theo học, 01
cán bộ hợp đồng.
14
Hạ tầng cơ sở thông tin và trang thiết bị
Hạ tầng cơ sở thông tin: TV NG đã tiến hành nối mạng với thư viện Hải
Dương.
Trang thiết bị gồm:
Giá sách: Với 06 giá/ phòng.
Giá báo: 02 chiếc.
Bàn thủ thư mỗi phòng: 01 bàn.
Bàn nghiệp vụ: 02 bàn.
Bàn ghế cho bạn đọc: 40 chiếc.
Tủ mục lục: 02.
Hộp thẻ: 01.
Máy in: 02.
Máy vi tính: 03.
Ngoài ra còn có 01 chiếc máy hút bụi, bình cứu hỏa và các trang thiết
bị điện: quạt, bóng điện…
Năm 2012 thư viện được tài trợ 01 chiếc giá để trưng bày sách, báo, tạp
chí mới.
Quan hệ với cơ quan khác
Thư viện thường xuyên tham gia các cuộc hội thảo, tập huấn nghiệp vụ
do TV Hải Dương tổ chức.
Hàng tuần, thư viện huyện đều luân chuyển tài liệu về cơ sở, trực tiếp
xuống địa bàn kiểm tra, hướng dẫn nghiệp vụ, hướng dẫn xây dựng phong
trào đọc sách cho từng xã, thị trấn.
1.3. n
lý
Nhóm NDT này là nhà lãnh đạo, quản lý trong các cơ quan Đảng, chính
quyền trong huyện và các cấp cơ sở, các ngành… là những người cần thông
16
tin ra quyết định chỉ đạo và điều hành công việc. Thông tin cung cấp cho
nhóm độc giả này là những thông tin mang tính thời sự, nóng hổi, các tài liệu
chỉ đạo như: chỉ thị, nghị quyết, các phương pháp quản lý. NDT làm công tác
lãnh đạo, quản lý chiếm 10% số lượng độc giả. Nội dung của tài liệu phải
mang tính tổng kết, có tầm bao quát rộng và giá trị thực tế cao. Vì vậy,
phương pháp phục vụ chủ yếu của nhóm này là phổ biến thông tin có chọn
lọc, có hàm lượng khoa học và giá trị thông tin cao, phản ánh khách quan…
Hình thức sử dụng thông tin của họ là các thông tin chuyên đề, thông tin tóm
tắt, tổng quan. NCT của nhóm này không ổn định đòi hỏi các cán bộ thư viện
phải kịp thời nắm bắt thông tin luôn thay đổi để đáp ứng được nhu cầu.
Những người này trực tiếp tham gia giảng dạy tại các trường Tiểu học,
THCS, THPT trên địa bàn Huyện. Họ thường sử dụng thư viện với cường độ
cao. Họ chiếm 5% độc giả. Loại hình tài liệu được họ quan tâm chủ yếu là
nhóm tài liệu chuyên ngành, giáo khoa… và đặc biệt là những thông tin mới
mang tính khoa học và giáo dục cao.
Với đặc điểm nhu cầu thông tin như vậy, cán bộ thư viện phải là những
người hiểu sâu, biết rộng về chuyên môn nghiệp vụ và sự hiểu biết về các vấn
đề kinh tế, xã hội, văn hóa… mới có thể đáp ứng được nhu cầu thông tin cho
nhóm độc giả này.
iên
Họ là nhóm độc giả được nhiều sự quan tâm của thư viện. Với số lượng
đông đảo đó là học sinh - sinh viên của các trường Đại học, Cao đẳng, Trung
cấp là những sinh viên của huyện, THPT, THCS, Tiểu học nằm trên địa bàn
của Huyện.
NDT có vai trò đặc biệt quan trọng trong sự nghiệp thư viện, không chỉ
với thư viện Ninh Giang mà tất cả thư viện nói chung.
NDT là người trực tiếp sử dụng thông tin, những sản phẩm và dịch vụ
của hoạt động thông tin nhằm thỏa mãn NCT của mình. Như vậy, NDT vừa là
khách hàng vừa là đối tác của hoạt động thông tin - thư viện. NDT cũng là
chủ thể của NCT - một yếu tố quan trọng trong hoạt động thông tin.
Theo quan điểm hiện đại, NDT là “thượng đế” đối với những người
tham gia hoạt động thông tin thư viện. Điều đó có nghĩa là hoạt động này
muốn tồn tại và phát triển phải quan tâm đến nhu cầu của NDT trong từng
thời điểm cũng như trên từng địa bàn cụ thể. NCT là loại nhu cầu tinh thần
đặc biệt, là đòi hỏi khách quan của con người với thông tin, tri thức nhằm duy
trì và thực hiện các hoạt động sống của mình. NCT là yếu tố quan trọng tạo
nên động cơ của hoạt động thông tin, vì vậy có thể coi NCT của NDT là
nguồn gốc nảy sinh hoạt động thông tin - thư viện. NCT chịu ảnh hưởng của
những đặc điểm sinh lý, điều kiện sống và hoạt động của chính NDT đó. NCT
luôn biến đổi dưới tác động của các yếu tố khách quan và chủ quan.
Thư viện huyện Ninh Giang là một trong những bộ phận đảm bảo thông
tin và đáp ứng các yêu cầu học tập và nghiên cứu. Cũng như các cơ quan TT-
TV bất kỳ, NDT và NCT là một trong những yếu tố quan trọng trong hoạt
động thông tin tại thư viện. NDT được coi là yếu tố tương tác hai chiều.
Trước hết, NDT là đối tượng phục vụ, là khách hàng, là người tiêu thụ các
SP&DV của thư viện. NDT thể hiện cụ thể NCT của chủ thể hoạt động tức là