Tìm hiểu dân ca sli trong đời sống của người nùng phàn slình ở huyện bình gia, tỉnh lạng sơn - Pdf 29

TRƢỜNG ĐẠI HỌC SƢ PHẠM HÀ NỘI 2
KHOA LỊCH SỬ

MÔNG THỊ MÁCH
TÌM HIỂU DÂN CA SLI TRONG
ĐỜI SỐNG CỦA NGƢỜI NÙNG PHÀN
SLÌNH Ở HUYỆN BÌNH GIA,
TỈNH LẠNG SƠN

KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
Chuyên ngành: Lịch sử văn hóa Ngƣời hƣớng dẫn khoa học
Th.S NINH THỊ HẠNH HÀ NỘI - 2014


LỜI CAM ĐOAN

Em xin cam đoan đề tài khóa luận này được hoàn thành do sự cố gắng,
nỗ lực tìm hiểu, nghiên cứu của bản thân, cùng với sự giúp đỡ tận tình của
Th.S Ninh Thị Hạnh
Đề tài khóa luận này không trùng với kết quả nghiên cứu của các tác
giả khác. Nếu sai em xin hoàn toàn chịu trách nhiệm.
Hà Nội, ngày 10 tháng 5 năm 2014
Tác giả Mông Thị Mách

2.2.2. Hát trong nghi lễ và các phiên chợ 30
2.2.2.1. Hát trong đám cưới 30
2.2.2.2. Hát trong lễ mừng thọ 33
2.2.2.3. Hát trong đám tang 33
2.2.2.4. Hát ở trong các phiên chợ 34
2.2.3. Hát trong sinh hoạt gia đình và trong sinh hoạt ăn uống 35
2.2.3.1. Hát trong sinh hoạt gia đình 35
2.2.3.2. Hát trong các cuộc uống rượu 37
2.2.4. Hát giao duyên 38
2.2.4.1. Hát giao duyên đối đáp tự do 39
2.2.4.2. Hát giao lưu đêm dài 44
2.3. KẾT CẤU TRONG DÂN CA SLI 47
2.3.1. Kết cấu đối đáp 48
2.3.2. Kết cấu lặp 50
2.4. GIÁ TRỊ PHẢN ÁNH TRONG DÂN CA SLI CỦA NGƢỜI NÙNG
PHÀN SLÌNH Ở HUYỆN BÌNH GIA, TỈNH LẠNG SƠN 52
2.4.1. Tiếng hát ca ngợi con người 52
2.4.2. Tiếng hát tâm tình của đôi lứa 57
2.4.3. Vẻ đẹp thiên nhiên trong dân ca Sli 59
2.4.3.1. Bức tranh thiên nhiên 59
2.4.3.2. Bức tranh lao động 63
2.5. BẢO TỒN DÂN CA SLI TRONG ĐỜI SỐNG CỦA NGƢỜI NÙNG
PHÀN SLÌNH Ở HUYỆN BÌNH GIA, TỈNH LẠNG SƠN 66
KẾT LUẬN 73
TÀI LIỆU THAM KHẢO 74
PHỤ LỤC
1

MỞ ĐẦU


móc công nghiệp đã dần thay thế sức lao động của con người, hoạt động sản
xuất mang tính cộng đồng không được đề cao cùng với nền văn hóa ngoại lai
đã xâm nhập vào đời sống của người dân nên làn điệu Sli đã và đang ngày
càng bị mai một, không còn đóng vai trò quan trọng trong đời sống của người
Nùng Phàn Slình như trước đây. Cùng xu hướng hội nhập quốc tế hiện nay
việc giữ gìn nhưng nét văn hoá dân tộc mang một ý nghĩa quan trọng, bởi
không ít những thế lực phản động đang từng ngày từng giờ lợi dụng vấn đề
dân tộc để gây xung đột chia rẽ khối đoàn kết dân tộc. Chính vì vậy việc bảo
tồn và phát huy nền văn hoá dân tộc là một vấn đề cấp thiết của từng dân tộc.
Chính bởi vậy mà việc nghiên cứu hát Sli vừa để góp phần bảo tồn làn
điệu dân ca của dân tộc đứng trước nguy cơ bị mai một, vừa có được nhận
thức sâu sắc hơn về thế giới tâm hồn của đồng bào dân tộc Nùng Phàn Slình ở
huyện Bình Gia, tỉnh Lạng Sơn.
Là một người con người dân tộc Nùng Phàn Slình của huyện Bình Gia,
ngay từ khi còn nhỏ em đã được tiếp xúc với những làn điệu Sli mượt mà do
bố mẹ, các cô các bác thể hiện. Hơn nữa, là sinh viên đang theo học chuyên
ngành Lịch sử văn hóa, bản thân em tự nhận thức được cần phải bảo tồn và
phát huy nét văn hoá độc đáo, đặc sắc này.
Xuất phát từ những lí do trên nên em chọn đề tài: “Tìm hiểu dân ca Sli
trong đời sống của người Nùng Phàn Slình ở huyện Bình Gia, tỉnh Lạng
Sơn” làm đề tài khoá luận tốt nghiệp của mình.
2. Lịch sử nghiên cứu vấn đề
Không phải đến bây giờ làn điệu Sli của người Nùng mới được quan
tâm. Từ lâu dân ca Sli đã thu hút được sự quan tâm của nhiều nhà nghiên cứu.
Họ đã có công sưu tầm, tìm hiểu, giới thiệu những khía cạnh văn hóa của dân
ca Sli.
3

Tác giả Vi Hồng với cuốn “Sli, Lượn dân ca trữ tình Tày - Nùng”. Nội
dung của tác phẩm này đã nghiên cứu về đời sống văn hóa tinh thần của đồng

cộng cuộc xây dựng và phát triển đất nước hiện nay.
3.2. Nhiệm vụ
Để thực hiện được mục đích đã nêu, đề tài lần lượt giải quyết các
nhiệm vụ cơ bản sau:
- Khảo sát một số không gian diễn xướng Sli cụ thể để góp phần cung
cấp một tư liệu thực tế cho việc nghiên cứu Sli nói chung và Sli của người
Nùng Phàn Slình ở huyện Bình Gia nói riêng.
- Tìm hiểu các yếu tố văn hóa tín ngưỡng và đánh giá một cách khách
quan vị trí của Sli trong đời sống của người Nùng Phàn Slình ở huyện Bình
Gia, tỉnh Lạng Sơn.
- Rút ra những giá trị cũng như hạn chế của Sli để từ đó đưa ra những
đề xuất cho việc bảo tồn và phát huy trong đới sống hiện nay.
3.3. Phạm vi nghiên cứu
-Về nội dung: Khóa luận đi sâu vào nghiên cứu nội dung của dân ca Sli
trong đời sống cuả người Nùng Phàn Slình ở huyện Bình Gia, tỉnh Lạng Sơn
nhằm góp phần cung cấp tư liệu và làm rõ những đặc điểm của Sli trong đời
sống của cộng đồng.
- Về không gian: Khóa luận tập trung tìm hiểu dân ca Sli trên địa bàn
cư trú của người Nùng Phàn Slình tại huyện Bình Gia, tỉnh Lạng Sơn.
4. Nguồn tƣ liệu và phƣơng pháp nghiên cứu
4.1. Nguồn tư liệu
Để thực hiện được đề tài này người viết chủ yếu sử dụng những tư liệu
sau:
Tư liệu của các nhà nghiên cứu trước như: Sli Lượn dân ca trữ tình Tày
- Nùng, NXB Văn hóa dân tộc xuất bản năm 1979, Thì thầm dân ca nghi lễ,
5

NXB Văn hóa dân tộc (2001) của tác giả Vi Hồng. Cuốn Dân tộc Nùng ở Việt
Nam, NXB văn hóa dân tộc (2002) của tác giả Hoàng Nam. Mông Ky Slay,
Lê Chí Quế, Hoàng Huy Phách (1992), Dân ca Nùng, NXB Văn hóa dân tộc.

văn hóa dân gian của quê hương.
- Thông qua đề tài này, em muốn góp một phần công sức nhỏ bé trong
công tác tìm hiểu, bảo tồn và phát huy những giá trị văn hoá truyền thống của
người Nùng Phàn Slình ở huyện Bình Gia, tỉnh Lạng Sơn.
6. Bố cục khóa luận
Ngoài phần mở đầu, kết luận và tài liệu tham khảo thì nội dung chính
của khóa luận bao gồm hai chương:
Chương 1: Cơ sở để hình thành dân ca Sli trong đời sống của người
Nùng Phàn Slình huyện Bình Gia, tỉnh Lạng Sơn
Chương 2: Dân ca Sli của người Nùng Phàn Slình huyện Bình Gia, tỉnh
Lạng Sơn 7

Chƣơng 1
CƠ SỞ HÌNH THÀNH DÂN CA SLI TRONG ĐỜI SỐNG CỦA
NGƢỜI NÙNG PHÀN SLÌNH HUYỆN BÌNH GIA, TỈNH LẠNG SƠN

1.1. VỊ TRÍ ĐỊA LÍ VÀ ĐIỀU KIỆN TỰ NHIÊN CỦA HUYỆN BÌNH
GIA, TỈNH LẠNG SƠN
1.1.1. Vị trí địa lí
Huyện Bình Gia, là huyện vùng cao miền núi nằm ở phía Tây Bắc của
tỉnh Lạng Sơn, cách trung tâm thành phố 75 Km theo hướng Đông bắc, cách
thủ đô Hà Nội 170 km, nằm trong toạ độ từ 21°80′ đến 22°26′ vĩ bắc và từ
106°10′ đến 106°54′ kinh đông, phía Tây giáp huyện Bắc Sơn, phía Tây Bắc
giáp huyện Na Rì (Bắc Kạn), phía Bắc giáp huyện Tràng Định, phía Đông
giáp huyện Văn Lãng, phía Đông Nam giáp huyện Văn Quan Tổng diện tích
tự nhiên 109.066,2 ha, gồm 19 xã (Bình La, Minh Khai, Hoa Thám, Vĩnh
Yên, Thiện Hòa, Thiện Thuật, Tân Hòa, Quang Trung, Yên Lỗ, Hòa Bình,

sau.
Nằm ở vị trí gần địa đầu phía bắc, lại là thung lũng lòng chảo được bao
quanh bởi các dãy núi cao tạo thành phễu hút gió mùa đông bắc làm cho Bình
Gia trở thành một trong những nơi rét nhất toàn quốc vào mùa đông. Gió mùa
đông bắc chiếm ưu thế suốt từ tháng 9 đến tháng 3 năm sau, những đợt gió
cuối mùa vẫn ảnh hưởng khá lớn với các đợt không khí lạnh tràn về kèm theo
giông, gây gió mạnh và mưa rào.
Vào mùa nóng ẩm (từ tháng 4 đến tháng 9), nhiệt độ không khí bình
quân 21,4
0
C, nhiệt độ cao nhất có hôm lên tới 39
0
C. Mùa đông nhiệt độ trung
bình 13
0
C, tháng rét nhất xuống tới 6
0
C, ngày rét nhất có thể xuống tới 0
0
C.
Nhiệt độ trung bình năm là 21
0
C. Độ ẩm không khí mùa nóng là 81%, mùa rét
67%.
9

Lượng mưa bình quân cả năm là 1439 mm, chia làm 2 mùa: mùa khô,
lượng mưa chiếm 75% so với cả năm; mùa khô lượng mưa chiếm 25% so với
cả năm. Tháng 1 có lượng mưa thấp nhất trong năm, bình quân khoảng 22
mm, có năm xuống tới 6 mm.

người Nùng, ruộng có nhiều loại: Nà nặm (ruộng nước), có thể trồng lúa một
hay hai vụ hoặc có thể trồng xen với hoa màu, Nà lẹng (ruộng cạn chờ mưa),
thường là ruộng bậc thang cao, khó lấy nước, chỉ có thể trồng một vụ vào mùa
mưa, Nà lụm (ruộng lầy), thường ở các khe núi, cuối cánh đồng, có thể trồng
một vụ một năm. Vào mấy thập kỉ gần đây, do đẩy mạnh làm thủy lợi nên
diện tích đất canh tác hai vụ đã tăng lên.
Đặc trưng nổi bật nhất của loại hình canh tác ruộng nước ở thung lũng
của cư dân người Nùng là hệ thống thủy lợi theo kiểu mương, phai. Đây là hệ
thống thủy lợi cổ truyền, phù hợp với loại hình canh tác ruộng nước ở thung
lũng. Lợi dụng dòng nước chảy liên tục, người Nùng đắp phai (đập) để ngăn
dòng nước lại làm cho nước suối dâng lên sau đó chảy vào mương rồi dẫn vào
trong những thửa ruộng. Phai được xây dựng ở vị trí đầu nguồn nước của
cánh đồng. Quy mô của phai to hay nhỏ còn tùy thuộc vào diện tích của cánh
đồng rộng hay hẹp. Phai có cấu trúc khá đơn giản, không tốn kém mà lại có
hiệu quả, thường làm bằng tre, gỗ, đất, đá. Họ đóng cọc vào các trụ đá rồi bắc
các đầm tre, gỗ ngang dòng suối, lót phên tre, đổ đất, đá ngăn một phần dòng
nước lại. Thực ra đây là hệ thống đập tràn, chỉ giữ lại một lượng nước cần
thiết vừa đủ tưới, còn nước thừa không dùng tới vẫn có thể chảy qua “nuôi
sống” dòng suối để những người dân dưới hạ nguồn vẫn có nước để dùng.
Thực chất đây là hình thức “chia” nước giữa những cộng đồng làng bản sinh
sống dọc các sông suối, lại có tác dụng chống bồi lắng, dễ sửa chữa hay xây
dựng lại khi bị lũ lụt tàn phá.
Trong hệ thống nông cụ của người Nùng thì chiếc cày giữ vai trò chủ
đạo, khiến hệ thống nông nghiệp của người Nùng đạt tới trình độ canh tác
11

nông nghiệp dùng cày và thủy lợi, trình độ canh tác nông nghiệp cao của xã
hội truyền thống. Cày (thay) của người Nùng thuộc loại hình cày thân bắp,
không có chân đế, dùng trâu, bò kéo, thích hợp với các thửa ruộng hẹp, địa
hình không thật bằng phẳng, cái cày của người Nùng cũng giống với cày của

nhập quan trọng của gia đình. Nghề làm gốm, ngói lợp nhà, nhất là loại ngói
âm dương vẫn là sản phẩm ưa thích của người Nùng.
Do địa hình chủ yếu là đồi núi nên ở Bình Gia người dân còn chú ý
phát triển các cây công nghiệp nhưng hồi, sở, bông, cây mác mật, cam Nền
kinh tế tự cung tự cấp của người Nùng Phàn Slình giờ đây đã chuyển dần
sang nền kinh tế hàng hóa, nhờ nền kinh tế hàng hóa có sự lưu thông thường
xuyên nên ở đây đã hình thành các cụm chợ huyện, chợ xã, chợ không chỉ là
nơi trao đổi hàng hóa mà còn là nơi giao lưu văn hóa. Người Nùng Phàn Slình
đi chợ để gặp gỡ bạn bè, người thân qua những làn điệu Sli, Lượn, tuy nhiên
hiện nay do sự tác động của nền kinh tế thị trường nên hoạt động hát Sli,
Lượn trong các phiên chợ không còn nữa, đây là một điều đáng tiếc trong các
phiên chợ miền núi nói chung và chợ phiên trong huyện Bình Gia nói riêng.
Huyện có hệ thống chợ: Chợ thị trấn Bình Gia, chợ Pác Khuông thuộc xã
Thiện Thuật, chợ Văn Mịch thuộc xã Hồng Phong. Trong đó chợ chính là chợ
thị trấn Bình Gia, họp chính 5 ngày một lần vào các ngày mùng 1, 6, 11, 16,
21, 26 hàng tháng theo âm lịch. Chợ Bình Gia là nơi diễn ra các hoạt động
trao đổi mua bán chủ yếu của nhân dân trong huyện.
1.2.2. Dân cƣ
Người Nùng gần như sinh sống chủ yếu ở vùng núi Việt Bắc. Đây là
vùng núi với những dãy núi đá vôi cao ở mức trung bình và thấp, xem vào đó
là các thung lũng hẹp. Khí hậu ít nhiều mang tính á nhiệt đới, chịu ảnh hưởng
của gió mùa, có mùa đông lạnh, giới sinh vật khá phong phú về chủng loại,
nhưng do khai thác nhiều, nên nay đã nghèo nàn đi khá nhiều.
13

Tộc danh Nùng có thể có từ tên họ Nùng, một dòng họ có thế lực ở
vùng Tả Giang và Hữu Giang tỉnh quảng Tây thời Nhà Đường. Nếu như
người Tày hầu như không có sự phân biệt rõ rệt giữa các nhóm địa phương,
thì ở người Nùng điều này là nét phổ biến. Hiện tại căn cứ vào tên gọi của các
nhóm người Nùng thì có thể phân chia thành hai loại: Loại tên gọi căn cứ vào

sinh sống lâu đời và đan xen giữa các dân tộc nên dân cư ở Bình Gia đã có sự
giao lưu, tiếp xúc và tiếp biến văn hóa với nhau tạo nên một Bình Gia đậm đà
bản sắc văn hóa.
1.3. ĐIỀU KIỆN VĂN HÓA
Nền văn hoá cơ bản của huyện Bình Gia là nền văn hoá Nùng - Tày, đó
là nền văn hoá bản địa gắn liền với sự phát triển và tồn tại của xã hội, vừa
phong phú, đa dạng của văn hoá vật thể và phi vật thể, toàn huyện hiện có 3 di
tích lịch sử văn hoá cấp quốc gia đó là hang Thẩm Khuyên, Thẩm Hai và
hang Kéo Lèng, các di tích lịch sử cách mạng, di tích danh thắng, di tích khảo
cổ học, di tích kiến trúc tôn giáo tín ngưỡng.
Bản: Là tổ chức xã hội truyền thống ở cơ sở của người Nùng. Mỗi bản
đều có tên riêng thường mang tên địa danh nơi bản đó tạo dựng.
Trước nhất, bản là một đơn vị quần cư, cùng cư trú (cộng cư), bản
thường được lập ở chân núi, thung lũng, dọc các trục đường giao thông, cạnh
cánh đồng hay ven các con sông suối lớn, đó là nơi thấp nhất ở vùng núi, khác
với người H’Mông, Dao ở trên sườn hay đỉnh núi cao. Bởi thế, môi trường
tồn tại của các bản làng người Nùng là các thung lũng.
Thứ hai, làng bản của người Nùng là một cộng đồng sở hữu. Trước
nhất, mỗi làng bản có một phạm vi “lãnh thổ” riêng, được xác định ranh giới
bằng các ngọn đồi, khe núi, con suối. Phân định với đất đai, “lãnh thổ” của
các bản khác. Trong “lãnh thổ”, bao gồm rừng núi, sông, suối, đồng ruộng,
rừng cấm, nơi chăn thả trâu bò, đất đai thổ cư Về nguyên tắc, toàn bộ “lãnh
15

thổ” đó của bản đều là của chung và mọi người đều phải có nghĩa vụ bảo vệ
và sử dụng.
Thứ ba, làng bản của người Nùng là một cộng đồng “cộng mệnh”, tức
là sự gắn bó cộng đồng trên cơ sở cũng tôn thờ những biểu tượng về tâm linh
và sự che chở của thần bản mệnh của chung thôn bản. Trước hết, bản của
người Nùng bao giờ cũng có miếu thổ thần, tọa lạc ở một nơi ở bên trong bản

Hội lễ với những hình thức vui chơi, giải trí tạo nên không khí hồ hởi,
hào hứng trước các sinh hoạt văn hóa cổ truyền dân tộc, là nơi gặp gỡ, giao
lưu tình cảm thông qua các hình thức hát đối đáp, là nơi để thế hệ trẻ “nhập
thân” vào hoạt động văn hóa chung, tiếp nhận các giá trị văn hóa tiêu biểu từ
thế hệ cha anh truyền lại Tất cả những điều đó, trải qua bao đời nay đã tạo
nên niềm cộng cảm văn hóa, góp phần tạo nên tính cộng đồng cao của làng
bản người Nùng.
Tên bản thường được đặt theo tên gọi của đồi núi, khúc sông như Nà
Mèo, Nà Ngần, Nà Vẹn Mỗi bản trung bình có 40 - 50 nhà có bản có 60 - 70
nhà, bản lớn có thể lên tới 100 nhà, đứng đầu làng bản là trưởng bản, là người
có trình độ, am hiểu về các lễ nghi phong tục tập quán và được người dân
trong làm bản tin tưởng, quý mến.
Ngôn ngữ: Người Nùng Phàn Slình ở huyện Bình Gia cũng như người
Nùng sinh sống trong cả nước từ lâu đời đã có một đời sống văn hóa đa dạng
và phong phú. Mặc dù người Nùng giao tiếp chủ yếu bằng hệ ngôn ngữ Tày -
Thái, song chỉ những từ ngữ về thiên nhiên, chỉ sự vật hiện tượng trong sinh
hoạt giao tiếp hàng ngày mới là của người Nùng, ngoài ra chủ yếu là từ vay
mượn tiếng Việt, tiếng Hán hoặc từ Hán Việt. Ngôn ngữ của người Nùng
Phàn Slình ở huyện Bình Gia, tỉnh Lạng Sơn ảnh hưởng rất lớn đến dân ca
Sli, vì khi hát Sli người ta chủ yếu hát bằng ngôn ngữ của dân tộc Nùng, nên
những lời hát, những câu hát rất mượt mà mà mộc mạc, thể hiện đậm tính
cách của chân thật người dân vùng cao huyện Bình Gia.
17

Văn hóa vật chất:
Nhà ở: Nhà sàn là loại hình nhà đặc trưng của dân tộc Nùng nói chung
và người Nùng Phàn Slình nói riêng, hiện tại do những chuyển biến kinh tế -
xã hội, sự thay đổi môi trường nhất là giao lưu ảnh hưởng giữa các dân tộc
nên có sự biến đổi nhà ở của người Nùng từ nhà sàn xuống nhà đất. Tuy nhiên
cách bố trí trong nhà như nơi thờ cúng, nơi ăn ngủ của những người trong gia

dạng, tạo nên những sắc thái riêng của mỗi nhóm. Điều này có thể giải thích
bởi các nhóm Nùng ở Việt Nam, như Nùng Phàn Slình, Nùng Cháo, Nùng
Inh, Nùng Lòi, Nùng An, Nùng Dín tất cả những dân tộc Nùng này đều có
gốc gác từ các vùng khác nhau ở Trung Quốc, khi vào Việt Nam thì lại cư trú
thành những vùng riêng biệt, ít có liên hệ với nhau nên các nét sinh hoạt văn
hóa trong đó có trang phục đều mang những sắc thái riêng. Tuy chất liệu đều
được dệt từ cây bông, nhuộm chàm nhưng hoa văn trang trí, cách thức cắt
may giữa các nhóm Nùng có nét khác biệt. Cùng là màu chàm nhưng người
Nùng Giang ưa màu xanh nhạt, người Nùng Dín ưa xanh thẫm hay tím than,
Nùng Lòi lại là màu xanh đen phớt nâu, còn đối với người Nùng Phàn Slình
sau khi nhuộm chàm xong họ còn dùng một loại củ có nhựa màu đỏ trên rừng
về nhuộm tạo cho màu áo có màu tím phớt hồng rất riêng biệt. Cũng vẫn
chiếc áo, phụ nữ Nùng Giang quen đáp những khoanh vải mầu rộng, còn
người Nùng Lòi thì khổ khoanh vải mầu đáp ở tay áo hẹp hơn, tay áo Nùng
An thì lại để trơn, còn đối với trang phục của người Nùng Phàn Slình thì họ
thường mặc 1 áo hoa cánh ngắn ở bên trong và áo chàm 5 thân ở bên ngoài,
cúc áo của người Phàn Slình thường được gắn những đồng bạc trắng tạo nên
sự quyền quý và thanh thoát cho người mặc Tương tự như vậy ta có thể thấy
những nét khác biệt giữa các nhóm Nùng trên phần ngực áo dài của phụ nữ
hoặc ở phần thắt lưng
Trang phục của người Nùng Phàn Slình được cắt may từ vải sợi bông
nhuộm chàm, đơn giản, không thêu thùa, trang trí. Nam giới mặc quần chân
19

què ống rộng, cạp lá toạ, dài tới mắt cá chân, áo nam giới may kiểu cổ đứng
xẻ ngực, cài khuy bằng nút vải, có từ 2 đến 4 túi không nắp. Áo của phụ nữ là
áo 5 thân cài cúc bên nách phải, mặc quần chân què, cạp lá toạ, luốn dây để
buộc rút ngang hông, có dây thắt lưng cũng bằng vải chàm buông thõng ở
phía sau trên cổ áo có ba chiếc cúc bạc. Các loại khăn, các kiểu quấn khăn của
người phụ nữ Nùng rất phong phú về chủng loại và kiểu cách. Riêng với

trong khẩu phần ăn hàng ngày của gia đình đó là các loại rau xanh do người
dân trồng cấy, các loại rau củ thu hái trong rừng như nấm, măng Còn đối
với riêng người Nùng ở Bình Gia thì ẩm thực mang những nét đặc trưng của
ẩm thực Lạng Sơn với các món như: lợn quay, vịt quay, Khâu nhục, bánh dày,
bánh chưng dài Đặc biệt trong các món quay không thể thiếu lá Mác Mật (là
lá một loại cây mọc nhiều ở vùng núi Lạng Sơn, lá có mùi thơm, quả khi chín
có vị ngọt rất ngon).
Văn hóa tinh thần:
Đối với người Nùng nói chung và người Nùng Phàn Slình nói riêng thì
tín ngưỡng, phong tục và lễ hội là lĩnh vực rất quan trọng của đời sống văn
hóa tâm linh, nó có vai trò chi phối rất lớn đến tâm tư, tình cảm, hành vi của
con người trong xã hội. Về cơ bản tín ngưỡng tôn giáo của người Nùng là tín
ngưỡng dân gian xây dựng trên quan niệm linh hồn và vạn vật hữu linh, người
sống thì có “khoắn” (hồn), chết thì thành “phi” (ma) với nhiều loại phi khác
nhau như phi phạ (ma trời), phi bản (thần bản), phi lườn (ma nhà) Từ những
quan niệm đó ở người Nùng hình thành nhiều hình thức tín ngưỡng dân gian
khác nhau như trong phạm vi gia đình có thờ tổ tiên, thờ bà Mụ (mẻ bióc),
ngoài làng bản thì thờ thổ thần (thờ ở miếu – thó). Đặc biệt, ở trong bản làng
có các thầy cúng Mo, Then, Tào, Pựt là những người chủ yếu thực hành các
nghi lễ tín ngưỡng, có vai trò to lớn trong đời sống tâm linh của người dân.
Tín ngưỡng Mo, Then, Tào, Pựt vừa có cái riêng, lại vừa có nét chung, khiến
người ta rất khó phân biêt giữa chúng. Về bản chất, tín ngưỡng Mo, Then,

Trích đoạn Hát giao lưu đêm dài Tiếng hát tâm tình của đôi lứa Bức tranh thiên nhiên Bức tranh lao động
Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status