LI CM N Để hoàn thành khóa luận tốt nghiệp này tôi luôn nhận đợc sự giúp đỡ
tận tình của PGS.TS. Khut ng Long, Viện Sinh thái và Tài nguyên sinh vật
ngời ã dnh thi gian quý báu ca mình chỉ bảo và hng dn khoa hc
trong sut thi gian tôi thc tp.
Tôi xin bày tỏ lòng biết ơn chân thành và sâu sắc đến ThS. Đào Duy
Trinh, Trờng Đại học S phạm Hà Nội 2 đã tận tình hớng dẫn và tạo mọi
điều kiện cho tôi hoàn thành bản khóa luận này.
Tôi xin chân thnh cm n s giúp nhit tình ca CN. ng Th Hoa
v các cán b khoa học Phòng Sinh thái côn trùng ở Vin Sinh thái v Ti
nguyên sinh vt, các thy cô giáo trong b môn ng vt, các thy cô trong
khoa Sinh-KTNN ca trng i hc S phm H Ni 2 v các bn cùng
khóa ã to iu kin tt nht cho tôi hon thnh bn khóa lun ny.
Qua ây tôi cng by t lòng bit n ca mình ti nhân dân cm Trm,
cm Nha, cm Thạch Bàn, qun Long Biên, thnh ph H Ni đã tạo điều
kiện giúp đỡ trong quá trình thu mẫu.
Cuối cùng tôi vô cùng biết ơn b, m v gia ình, nhng ngi ã ht
lòng ng h v giúp tôi hon thnh bn khóa lun ny.
H Ni ngy 30 tháng 4 nm 2010
Sinh viên
Trần Bích Phơng LI CAM ĐOAN
MC LC
Trang
Lời cảm ơn iii
Lời cam đoan iv
Mục lục v
Danh mục các bảng vii
Danh mục các hình viii
Danh mục các từ viết tắt ix
Mở đầu 1
Chng 1. Tng quan ti liu
3
1.1. Nguồn gốc, giá trị kinh tế và giá trị sử dụng của cây đậu tơng 3
1.2. Tình hình nghiên cứu sâu hại đậu tơng 4
1.2.1. Sơ lợc về tình hình nghiên cứu sâu hại đậu tơng ở nớc ngoài 4
1.2.2. Sơ lợc về tình hình nghiên cứu sâu hại đậu tơng ở trong nớc 5
1.3. Tình hình nghiên cứu thiên địch của sâu hại đậu tơng 6
1.3.1. Sơ lợc về tình hình nghiên cứu thiên địch của sâu hại đậu tơng ở
nớc ngoài 6
1.3.2. Sơ lợc về tình hình nghiên cứu thiên địch của sâu hại đậu tơng ở
trong nớc 7
Chơng 2: Nội dung và phơng pháp nghiên cứu 9
2.1. Địa điểm nghiên cứu 9
2.2. Đối tợng nghiên cứu 9
danh mục các bảng
STT
t
ên bảng
Trang
1
Thành phần sâu hại đậu tơng khu vực Long Biên, Hà Nội
và phụ cận (2009-2010)
14
2
Thành phần ký sinh sâu hại đậu tơng khu vực Long Biên,
Hà Nội và phụ cận (2009-2010)
16
3
Tỷ lệ bắt gặp của sâu cuốn lá đậu tơng Lamprosema
indicata và tập hợp ong ký sinh vụ xuân hè 2010 tại Long
Biên, Hà Nội và phụ cận
19
4
Tỷ lệ
bắt gặp của sâu khoang Spodoptera litura và tập
hợp ong ký sinh vụ xuân hè 2010 tại Long Biên, Hà Nội
và phụ cận
22
5
indicata và tập hợp ong ký sinh của chúng (vụ xuân hè
2010 tại Long Biên, Hà Nội)
20
2
Sự xuất hiện của sâu khoang Spodoptera litura và tập hợp
ký sinh của chúng (vụ xuân hè 2010 tại Long Biên, Hà Nội)
22
3
So sánh thời gian sống của ong trởng thành loài
Trathala flavo-orbitalis
28
4
So sánh thời gian sống của ong trởng thành loài
Microplitis manilae
30
Bảo vệ Thực vật
BVTV
10
Cộng tác viên
CTV
11
Nhà xuất bản
NXB
Mở ĐầU
1. Đặt vấn đề
Đậu tơng - tên khoa học là Glycine max L. là cây công nghiệp ngắn
ngày có giá trị dinh dỡng, giá trị kinh tế cao và khả năng cải tạo đất tốt, nên
hiện nay trên thế giới cũng nh ở Việt Nam, cây đậu tơng là cây có diện
tích, năng suất và sản lợng lớn nhất trong các cây họ Đậu.
Đậu tơng là cây trồng có nhiều tác dụng. Nó góp phần đắc lực vào
việc giải quyết vấn đề protein cho ngời và vật nuôi. Đồng thời đậu tơng
còn đáp ứng yêu cầu xuất khẩu và phát triển ngành công nghiệp chế biến ở
nớc ta. Cây đậu tơng còn có tác dụng chữa một số bệnh nh: suy dinh
dỡng, tim mạch, loãng xơng, thiếu máu, Ngoài ra, bộ rễ của cây đậu
tơng còn có các vi khuẩn cộng sinh, chúng có khả năng cố định Nitơ trong
đất giúp cải tạo các vùng đất nghèo dinh dỡng.
Trên thực tế, một trong những nguyên nhân chính cản trở sự phát triển
sản xuất đậu tơng ở nớc ta là sự tấn công gây hại của các loài dịch hại,
chủ yếu là nhóm sâu hại. Các điều kiện khí hậu nhiệt đới nớc ta rất thích
hợp cho các loài sâu bệnh phát triển với số lợng tăng nhanh, mức độ gây
hại lớn. Những loài sâu hại trên cây đậu tơng thờng đợc chia ra làm ba
nhóm: sâu hại lá, sâu hại hoa quả, sâu hại thân rễ. Chính vì vậy, năng suất và
chất lợng của cây đậu tơng bị giảm sút rất nhiều ở vào tất cả các giai đoạn
(Lepidoptera) và côn trùng ký sinh của chúng ở Long Biên, Hà Nội.
- Cung cấp một số dẫn liệu khoa học về diễn biến mật độ nhóm sâu ăn
lá, đặc điểm sinh học của một số loài ong ký sinh của chúng trên cây đậu
tơng khu vực Long Biên, Hà Nội và phụ cận.
CHƯƠNG 1: TổNG QUAN TàI LIệU
1.1. Nguồn gốc, giá trị kinh tế và giá trị sử dụng của cây đậu tơng
Cây u tơng còn có tên khác nh đỗ tơng, đu nành (tên khoa học
Glycine max L.) l loi cây họ Đu (Fabaceae), c im ca ht u tơng
giàu hm lợng protein, chính vì vy l cây thực phm quan trọng cho ngời
v gia súc. Trên th giới có trên 1,000 loại u tơng với nhiu ặc im khác
nhau, hạt u tơng có kích thớc nhỏ nht nh hạt đậu Hà lan (pea) cho tới
lớn nhất giống trái anh o (cherry), ht u có nhiu mu sc nh đỏ, vàng,
xanh, nâu v mu en.
Theo từ điển thực phẩm, cây đậu tơng đợc biết có nguồn gốc xa xa
từ Trung Quốc và đợc coi là cây thực phẩm cho đời sống con ngời từ hơn
4000 năm trớc, sau đó đợc truyền sang Nhật Bản vào khoảng thế kỷ thứ 8,
vào nhiều thế kỷ sau có mặt ở các nớc ở á Châu nh Thái Lan, Malaisia,
Korea v Vit Nam. Cây u tng có mt Âu Châu vo u th k 17 v
Hoa K vo th k 18. Ngy nay Hoa K l quc gia ng u sn xut u
tng chim 50% sn lng trên ton th gii, ri n Ba Tây, Trung Quc,
n Đ.
Trong hạt đậu tơng có các thành phần hóa học sau: Protein (38- 40%),
Lipit (18-20%), Gluxit (30 - 40%); có các muối khoáng Ca, Fe, Mg, P, K, Na,
S; các vitamin A, B1, B2, D, E, F; các enzyme, sáp, nhựa, cellulose. Trong đậu
tơng có đủ các axit amin cơ bản nh: isoleucin, leucin, lysin, metionin,
phenylalanin, tryptophan, valin. Ngoài ra, đậu tơng đợc coi là một nguồn
cung cấp protein hoàn chỉnh vì chứa một lợng đáng kể các amino axit không
thay thế cần thiết cho cơ thể (Đoàn Thị Thanh Nhàn và cộng sự, 1996 ) [9].
Đậu tơng có hàm lợng protein cao, chứa các axit amin cần thiết cho
(Tetranychus urticae) [12].
ở thái Lan, theo Napompeth (1997), sâu ăn lá gây hại suốt giai đoạn
sinh dỡng và đầu giai đoạn chín của cây đậu tơng. Các loài phổ biến là: Sâu
khoang (S.litura), sâu keo
(
Spodoptera littoralis Boisduval), sâu keo da láng
(Spodoptera exigua Hubner) và sâu cuốn lá đầu nâu (Hedylepta indicata
Fabr.) [15].
ở châu á, theo Talekar và Lin (1993), sâu ăn lá chủ yếu thuộc bộ Cánh
Vảy (Lepidoptera) và Cánh Cứng Coleoptera. Có các loài sâu hại chính là: Sâu
khoang (S.litura), sâu keo (Spodoptera littoralis Boisduval), sâu keo da láng
(Spodoptera exigua Hubner) và sâu cuốn lá đầu nâu (Hedylepta indicata
Fabr.), sâu đo xanh (Plusia orchalcea F.), sâu đo (Plusia chalcites Esper) và
bọ ăn lá (Phaedonia inclusa Stal), sâu đục quả chính là Leguminivora
glycinivorella Matsumura, Matsumuraeses phaseoli Matsumura, Etiella
zinckenella (Treitschke) và Etiella hobson (Butler) [18].
1.2.2. Sơ lợc về tình hình nghiên cứu sâu hại đậu tơng ở trong nớc
Theo kết quả điều tra côn trùng cơ bản năm 1967 - 1068 của Viện Bảo
vệ Thực vật trên cây đậu tơng có 88 loài sâu hại, với 63 loài thờng xuyên
xuất hiện và trên 10 loài (chiếm 12,5%) hại chính [11].
Theo kết quả điều tra cơ bản côn trùng miền Bắc Việt Nam (1967 -
1968) của Bộ Nông nghiệp và PTNT, trên cây đậu tơng có 59 loài sâu hại
trong đó có gần 10 loài là loài sâu hại chính. Những loài sâu hại đậu tơng có
thể chia thành 2 nhóm:
+ Nhóm sâu hại lá, thân đậu tơng gồm: Giòi đục thân, sâu khoang, sâu
xanh, sâu cuốn lá.
+ Nhóm hại quả gồm các loại: Sâu đục quả đậu tơng, bọ xít xanh,bọ
xít dài, bọ xít hai vai gù.
Nguyễn Văn Cảm và Hà Minh Trung (1979) cho biết trên đậu tơng ở
10 loài kí sinh thuộc bộ Hai cánh (3 loài thuộc họ Tachinidae) và 7 loài thuộc
bộ Cánh Màng, trong đó họ Braconidae 3 loài, họ Ichneumonidae 2 loài, họ
Eulophidae 1 loài và họ Trichogrammatidae 1 loài. Bị ký sinh nhiều nhất trong
giống Spodoptera là loài Spodoptera litura F. loài này bị hơn 20 loài ký sinh,
trong đó Diptera có 5 loài, Hymenoptera có 15 loài: 5 loài thuộc
Ichneumonidae, 6 loài thuộc Braconidae, Eulophidae 1 loài, Trichogramatidae
2 loài và Scelionidae 1 loài [16].
Grazzoni và cộng sự (1994), trên cây đậu tơng ở vùng nhiệt đới có tới
52 loài ký sinh thuộc bộ Cánh Màng (có ở 3 họ: Braconidae, Ichneumonidae,
Chalcididae) và bộ Hai cánh (có chủ yếu ở họ Tachinidae) [13].
Theo Napompeth (1990) thì cả pha trứng và pha sâu non sâu khoang
đều bị ký sinh, trứng bị 2 loài ký sinh thuộc họ Braconidae và Scelionidae, còn
sâu non bị 1 loài ký sinh thuộc họ Braconidae [14].
1.3.2. Sơ lợc về tình hình nghiên cứu thiên địch của sâu hại đậu tơng ở
trong nớc
Kết quả điều tra thành phần cơ bản thành phần côn trùng năm 1967 -
1968 của Viện Bảo vệ Thực vật và nhóm điều tra cơ bản côn trùng Viện sinh
học từ năm 1960 - 1970 (Viện Bảo vệ Thực vật 1976) Mai Phú Quý (1981) thì
số lợng các thiên địch là rất đa dạng, phong phú. Kết quả ghi nhận có 75 loài
Bọ xít ăn sâu (Reduvidae), 67 loài thuộc họ Chân chạy (Carabidae), 20 loài
thuộc họ Hổ trùng (Cicinllidae), 10 loài ong ký sinh thuộc họ Braconidae.
Hà Quang Hùng (1998) nghiên cứu thành phần ong ký sinh ruồi đục
thân đậu tơng ở vùng Gia Lâm, Hà Nội đã thu đợc 7 loài, trong đó 6 loài ký
sinh pha nhộng và 1 loài ký sinh pha sâu non [7].
Phạm Văn Lầm (1993) cho biết kết quả điều tra thu thập kẻ thù tự nhiên
của sâu hại đậu tơng (từ 1982-1992) đã thu đợc 64 loài thuộc 4 bộ côn
trùng: bộ Cánh Màng 40 loài (chiếm 62,5% tổng số loài thu đợc), bộ Cánh
Cứng 14 loài (chiếm 21,9%), bộ Cánh Nửa 7 loài (chiếm 10.9%), bộ Hai cánh
3 loài. Riêng ký sinh sâu khoang có 2 loài, ký sâu cuốn lá có 14 loài [8].
Vũ Quang Côn, Đặng Thị Dung, Khuất Đăng Long (1999), loài ong đen
- Các loài thiên địch của sâu hại đậu tơng.
2.3. Phơng pháp nghiên cứu
2.3.1. Phơng pháp điều tra thành phần sâu hại. côn trùng ký sinh
- Để thu thập thành phần sâu hại đậu tơng và côn trùng ký sinh của chúng,
chúng tôi điều tra trên đồng ruộng trong vụ xuân hè năm 2010 theo phơng
pháp điều tra của Cục Bảo vệ thực vật (2002), mỗi tuần 3 lần.
- Dụng điều tra:
Vợt côn trùng, túi nilon.
ống nghiệm, hộp nhựa.
Hộp nhựa nuôi sâu.
Panh, ống hút.
Bút, giấy.
Ghim côn trùng.
Hóa chất: cồn 60%,
Kính kiển vi.
- Để thu thập các mẫu ong ký sinh trên đồng ruộng bằng phơng pháp vợt và
nuôi sinh học: tất cả các pha phát triển của sâu hại (trứng, sâu non, nhộng và
trởng thành) đợc thu từ cây trồng, sau đó các mẫu sâu non đợc nuôi trong
phòng thí nghiệm.
+ Mẫu trứng và nhộng sâu hại:
Đợc giữ theo từng cá thể hoặc theo từng ổ trong các ống tuýt sạch
đợc nút miệng kín bằng bông thấm nớc. Đánh số thứ tự cho các ống
tuýt.
Khi thấy xuất hiện kén ong ký sinh, nhộng sâu hại, chuyển kén ong ký
sinh từ ống tuýt cũ sang ống tuýt mới, tiếp tục theo dõi, ghi chép ngày
vũ hóa và giới tính.
+ Mẫu sâu non:
Đợc nuôi trong các lọ nhựa (sâu cuốn lá, cắn lá, sâu đục quả) hoặc đĩa
peptri. Thức ăn nuôi sâu đợc thay hằng ngày và đợc kiểm tra vật chủ
cao nhất định đối với kim, cụ thể sau khi cắm kim thì 1/3
chiều dài của kim sẽ nằm ở trên, còn 2/3 chiều dài của
kim sẽ nằm ở dới cơ thể côn trùng.
Các nhãn ghi nh ở mẫu ngâm.
+ Cách ghi nhãn vào tiêu bản bao gồm các nội dung nh sau:
Địa điểm thu mẫu
Cây trồng
Ngày thu mẫu
Ngày vũ hóa
Ngời thu mẫu
* Số liệu đợc xử lý bằng phơng pháp thống kê sinh học.
* Các chỉ số đợc tính toán theo các công thức sau:
Tỷ lệ ký sinh chung (%) =
Tổng số (trứng, sâu non, nhộng) sâu hại
bị các loài ký sinh
x 100
Tổng số (trứng, sâu non, nhộng) sâu hại
theo dõi
Tỷ lệ ký sinh từng loài (%) =
Tổng số (trứng, sâu non, nhộng) sâu hại
bị ký sinh do từng loài
x 100
Tổng số (trứng, sâu non, nhộng) sâu hại
theo dõi
Số lần thu mẫu
CHƯƠNG 3: kết quả và thảo luận3.1. Thành phần và sự phong phú của sâu hại thuộc bộ Cánh Vảy trên
đậu tơng ở khu vực Long Biên, Hà Nội và phụ cận
Nhìn chung, thành phần sâu hại trên cây đậu tơng khá đa dạng. Tuy
nhiên, số lợng và thành phần các loài sâu hại trên cánh đồng trồng đậu đỗ nói
chung và cây đậu tơng nói riêng không ổn định mà thay đổi tùy theo thời kỳ
sinh trởng và phát triển của cây đậu tơng, kỹ thuật canh tác và điều kiện
kinh tế xã hội. Ngoài ra, thành phần sâu hại trên cây đậu tơng có thể thay đổi
theo từng nơi, từng năm, từng mùa vụ cụ thể.
Để điều tra thành phần sâu hại trên đậu tơng vụ xuân hè 2010 của khu
vực Hà Nội, chúng tôi đã nghiên cứu tại ba địa điểm là: cụm Thạch Bàn, cụm
Nha và cụm Trạm thuộc quận Long Biên, thành phố Hà Nội. Kết quả cho thấy
thành phần sâu hại trên cây đậu tơng khá phong phú và đa dạng, riêng các
loài sâu hại thuộc bộ Cánh Vảy (mà trong phần này của khóa luận chúng tôi
gọi tắt là sâu hại) gặp 14 loài thuộc 7 họ (Arctiidae, Lymantridae, Noctuidae,
Pyralidae, Tortricidae, Crambidae, Geometridae). Kết quả đợc thể hiện trong
bảng 1.
Spodoptera litura
Fabricius
Noctuidae
++++
5 Sâu xanh
Helicoverpa armigera
Hubner
Noctuidae
++
6 Sâu đo xanh
Plusia eriosoma
Daubleday
Noctuidae
+
7
Sâu cuốn lá đầu
nâu *
Lamprosema indicata
Fabricius
Pyralidae
++++
8 Sâu đục quả đậu
Maruca vitrata Fabricius
Crambidae
++
9 Sâu cuốn lá
Nacoleia comixta Butler
Pyralidae
Sâu đo nâu
Acidalia lactea Butler
Geometridae
+
Ghi chú : +: Rất ít gặp (<5% Tỷ lệ ký sinh); ++: ít gặp (5-10% TLKS)
+++: Trung bình (10,1-20% TLKS) ; ++++: Nhiều (>20% TLKS)
*: Sâu hại quan trọng.
So với kết quả điều tra sâu hại trên cây đậu tơng trong 3 năm 1995-
1997 tại Hà Nội, Bắc Ninh và Hà Tây của Vũ Quang Côn (1998) thì số liệu ở
bảng 1 cho thấy thành phần sâu hại thuộc bộ Cánh Vảy của chúng tôi phong
phú hơn. Chúng tôi có thấy sự xuất hiện thêm 6 loài: Sâu gập lá (Cacoecia
sp.), Sâu đo nâu (Acidalia lactea Butler), Sâu róm nâu đen (Amsacta sp.), Sâu
róm (Orgyia sp.), Sâu róm gù vàng (Origyia postica Walker), Sâu cuốn lá đầu
đen (Archips asiaticus Walsingham).
Đặc biệt, trong quá trình thu mẫu và nuôi sinh học chúng tôi thấy có
một loài sâu róm trải qua nhiều lần lột xác trở thành con trởng thành. Con
trởng thành không cần qua giao phối mà vẫn có khả năng đẻ trứng màu
trắng, với số lợng trứng khá nhiều. Tuy nhiên, do cha đủ tài liệu phân loại
nên chúng tôi cha xác định đợc tên loài sâu róm này.
Qua quá trình nghiên cứu cho thấy cây đậu tơng bị sâu gây hại trên tất
cả các bộ phận của cây và trong suốt quá trình sinh trởng của cây. Các loài
sâu ăn lá gặp phổ biến là: sâu khoang (S. litura) và sâu cuốn lá đầu nâu (L.
indicata). Chúng cắn thủng lá làm giảm diện tích quang hợp của lá, ảnh hởng
đến sinh trởng và phát triển của cây. Các loài sâu hại hoa quả phổ biến là:
sâu xanh, sâu đục quả Chúng thờng gây hại khi cây mới có nụ hoa cho đến
khi quả chín thu hoạch do đó ảnh hởng đến năng suất và chất lợng nếu
không phòng trừ tốt các loài sâu hại này.
3.2. Thành phần và sự phong phú của ký sinh sâu hại thuộc bộ Cánh Vảy
trên đậu tơng ở khu vực Long Biên, Hà Nội và phụ cận
Nuôi
sinh
học
Bộ cánh màng: HYMENOPTERA
Họ: Bethylidae
1
Goniozus sp. nr.
hanoiensis
Sâu cuốn lá
Lamprosema
indicata
Sâu non
+
Họ: Braconidae
2
Apanteles hanoii
Tobias et Long
L. indicata
Sâu non
+
3
Apanteles
L. indicata
Nhộng
+ Hä: Ichneumonidae
7
Charops bicolor
(Szepligeti)
S. litura
S©u non
+
8
Xanthopimpla
punctata
(Fabricius)
L. indicata
Nhéng
+ + 1 0,69
9
Trathala flavo-
orbitalis
(Cameron)
L. indicata
S©u non
Nhéng
+
Hä: Pteromalidae
13
Ong ký sinh bËc
2
M. manilae
Nhéng
+
1 1.75
Bé hai c¸nh: Diptera
Hä: Ruåi ký sinh Tachinidae
14
Actia sp. S. litura
S©u non
+ +
1 1.75
Kết quả cho thấy trên đậu tơng vụ xuân hè 2010 tại Long Biên, Hà Nội
khi tần suất và mật độ sâu hại cao thì các loài côn trùng ký sinh cũng tăng và
có mật độ cao. Bằng phơng pháp nuôi sinh học cho thấy sâu cuốn lá đậu
tơng L. indicata bị 2 loài ký sinh chủ yếu là: Trathala flavo-orbitalis
(Cameron) ký sinh giai đoạn sâu non, Xanthopimpla punctata (Fabricius) ký
sinh giai đoạn nhộng. Trong đó loài T. flavo-orbitalis chiếm số lợng rất lớn
với tỷ lệ bắt gặp là: 99,31%. Nhng khi thu mẫu và nuôi sinh học chúng tôi lại