Lễ bỏ mả của người Gia Rai ở Tây Nguyên (KL06690) - Pdf 29



TRƢỜNG ĐẠI HỌC SƢ PHẠM HÀ NỘI 2
KHOA LỊCH SỬ
=======***======= CAO THỊ HƢƠNG
LỄ BỎ MẢ CỦA NGƢỜI GIA RAI
Ở TÂY NGUYÊN

KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
Chuyên ngành: Lịch sử Văn hóa

Ngƣời hƣớng dẫn khoa học:
ThS. Nguyễn Thị Tuyết Nhung
HÀ NỘI - 2014

LỜI CẢM ƠN

Đối với mỗi sinh viên năm thứ tƣ, ai cũng mong muốn đƣợc làm khóa
luận tốt nghiệp. Khóa luận tốt nghiệp sẽ giúp cho sinh viên chúng em có đƣợc
một cái nhìn toàn diện, sâu sắc, vừa rèn luyện đƣợc kĩ năng làm việc độc lập,
vừa trau dồi khả năng tập trung cao độ vào một vấn đề cụ thể.
Em xin gửi lời cảm ơn chân thành tới các thầy cô trong khoa Lịch sử, đã
Cao Thị Hƣơng MỤC LỤC
MỞ ĐẦU 1
1. Lý do chọn đề tài 1
2. Lịch sử nghiên cứu vấn đề 2
3. Mục đích, nhiệm vụ và phạm vi nghiên cứu 4
4. Nguồn tƣ liệu và phƣơng pháp nghiên cứu 4
5. Đóng góp của đề tài 4
6. Bố cục đề tài 5
NỘI DUNG 6
Chƣơng 1. NHỮNG YẾU TỐ HÌNH THÀNH LỄ BỎ MẢ CỦA NGƢỜI
GIA RAI Ở TÂY NGUYÊN 6
1.1. ĐIỀU KIỆN TỰ NHIÊN - KINH TẾ - VĂN HÓA - XÃ HỘI CỦA
NGƢỜI GIA RAI Ở TÂU NGUYÊN 6

dựng cho mình một lâu đài văn hóa đồ sộ, một truyền thống văn hóa riêng để
phân biệt với các dân tộc khác. Những giá trị văn hóa đó tạo nên bản sắc văn
hóa tộc ngƣời, tạo thành những chuẩn mực để phân biệt tộc ngƣời này với tộc
ngƣời kia. Nếu dân tộc nào để mất đi văn hóa truyền thống của mình thì nó
không còn là một cộng đồng tộc ngƣời riêng biệt nữa.
Việt Nam là một quốc gia đa dân tộc với một nền văn hóa đa dạng
trong thống nhất. Vì vậy, văn hóa dân tộc ngoài những nét chung còn có
những nét riêng của mỗi dân tộc. Văn hóa Việt Nam mang đậm yếu tố tâm
linh, nói lên quan niệm của ngƣời Việt về một thế giới khác về thế giới ngƣời
sống: Thế giới thần linh và thế giới linh hồn (hay thế giới của ngƣời chết).
Tức là con ngƣời Việt Nam ngoài mối giao lƣu với cộng đồng, xã hội mà
mình đang sống còn có và rất chú trọng tới mối giao lƣu giao cảm với những
thần linh, với những ngƣời đã chết (thƣờng là ngƣời thân trong gia đình). Hệ
thống các tín ngƣỡng dân gian của các dân tộc khắp các miền đất nƣớc đã nói
lên điều đó. Hầu hết các dân tộc ở Việt Nam đều có tín ngƣỡng và có những
nghi thức lễ hội riêng của mình.
Từ lâu đề tài về lễ hội Tây Nguyên nói chung và lễ bỏ mả nói riêng đƣợc
nhiều học giả quan tâm nghiên cứu. Tuy nhiên, việc nghiên cứu những đặc
trƣng văn hóa của mỗi dân tộc là chƣa rõ nét. Đặc biệt là lễ bỏ mả nơi tập
trung khá nhiều nét độc đáo của các loại hình văn hóa nghệ thuật.
Ở Tây Nguyên hầu hết các dân tộc thiểu số đều có lễ bỏ mả, nhƣng mỗi
dân tộc, mỗi nhóm tộc lại có lễ bỏ mả khác nhau, và tộc ngƣời Gia rai cũng có
những nét riêng cho mình, vì tộc ngƣời Gia rai có nhiều nhóm ngƣời khác
2
nhau, định cƣ trên một vùng đất khá rộng. Mặt khác tộc ngƣời Gia rai lại
chiếm số đông hơn so với các tộc anh em khác ở Tây Nguyên. Văn hóa của
tộc ngƣời này có sự pha trộn giữa văn hóa Nam Đảo và văn hóa Nam Á. Do
địa hình cƣ trú ngƣời Gia rai lại chia thành nhiều nhóm. Vì vậy, sinh hoạt văn
hóa của họ ngoài những nét chung cho tộc ngƣời Gia rai, thì mỗi nhóm ngƣời
Gia rai lại có những nét riêng của mình.

giả đã nói về văn hóa vật chất và tinh thần của con ngƣời Gia rai. Đồng thời
cũng nói về phong tục ma chay, trong đó có lễ bỏ mả của, tác giả đã trình bày
khái quát về quá trình tiến hành lễ bỏ mả. Tuy nhiên, nó chƣa đi sâu vào lễ bỏ
mả, vẫn còn mang tính khái quát.
Cuốn “Nhà mồ người Gia-Rai”, Nxb bảo tàng dân tộc học Việt Nam, Hà
Nội, 2005 đã miêu tả rất chi tiết về nhà mồ, từ cách giải nóc nhà tới trang trí.
Tuy nhiên, nó chỉ đề cập tới một vấn đề trong lễ bỏ mả mà chƣa nói hết đƣợc
các giá trị của lễ bỏ mả.
Cuốn “Tượng gỗ Tây Nguyên” của T.S Đào Huy Quyền, Nxb tổng hợp
thành phố Hồ Chí Minh, 2007. Bằng những lời ngắn gon, xúc tích số trang
viết không nhiều nhƣng lại có giá trị rất lớn. Bằng những hình ảnh đi chụp
thực tế đƣợc qua nhiều năm nghiên cứu minh họa cho những gì tác giả viết đã
kiến cho ngƣời đọc dễ hình dung ra đƣợc những ngôi nhà mồ cùng với những
bức tƣợng xung quanh nhà mồ. Tuy nhiên, đó chỉ là một vấn đề trong lễ bỏ
mả, chƣa đi sâu vào lễ bỏ mả.
Cuốn “Bơthi cái chết được hồi sinh” của Ngô Văn Doanh, Nxb thời đại,
Hà Nội, 2010 là tập hợp tất cả các nghiên cứu của các tác giả trong nhiều năm
qua về lễ bỏ mả,nhà mồ, tƣợng mồ của hai dân tộc Gia rai và Ba na. Tác giả
đã nói rất cụ thể về lễ bỏ mả của hai dân tộc Gia rai và Ba na.
Những công trình nghiên cứu này là nguồn tài liệu quý để tôi tham khảo
cho nội dung khóa luận. Tuy nhiên, cho đến nay vẫn chƣa có một công trình
4
nghiên cứu riêng về lễ bỏ mả trong đời sống của ngƣời Gia rai.
3. Mục đích, nhiệm vụ và phạm vi nghiên cứu
3.1. Mục đích
Làm rõ những nét độc đáo, những giá trị văn hóa trong lễ bỏ mả của
ngƣời Gia rai ở Tây Nguyên.
3.2. Nhiệm vụ
Để đạt đƣợc mục đích trên cần phân tích đƣợc những yếu tố hình thành
nên lễ bỏ mả; Cần dựng lại nghi thức trong lễ bỏ mả và phân tích đƣợc giá trị

Nguyên
Chƣơng 2. Lễ bỏ mả trong hệ thống tang ma của ngƣời Gia rai

6
NỘI DUNG
Chƣơng1
NHỮNG YẾU TỐ HÌNH THÀNH LỄ BỎ MẢ CỦA NGƢỜI GIA
RAI Ở TÂY NGUYÊN
1.1. ĐIỀU KIỆN TỰ NHIÊN – KINH TẾ-VĂN HÓA- XÃ HỘI CỦA NGƯỜI
GIA RAI Ở TÂY NGUYÊN
1.1.1. Điều kiện tự nhiên
Theo thống kê điều tra dân số năm 2009 ở Việt Nam cho biết, dân tộc
Gia rai có 411.275 ngƣời và là tộc ngƣời có số dân đông nhất trong 20 tộc
ngƣời bản địa tại khu vực Trƣờng Sơn-Tây Nguyên. Họ cƣ trú tập trung chủ
yếu tại các vùng bắc Tây Nguyên (nay là hai tỉnh Kon Tum và Gia Lai), phía
bắc tỉnh Đắc Lắc và tây bắc tỉnh Phú Yên. Tại miền đông bắc Campuchia, nơi
giáp ranh với sƣờn phía tây của tỉnh Gia Lai cũng có khoảng trên 10 ngàn
ngƣời Gia Lai sinh sống bên dòng sông Xêxan [10, tr.10].
Nơi quần cƣ chủ yếu của ngƣời Gia rai ơ các huyện Chƣ Păh, Chƣ
Prông, Ayun Pa, Krông Pa, thứ đến là các huyện An Khê, Mang Yang đều
thuộc tỉnh Gia rai. Lùi xuống phía nam địa bàn nói trên họ còn phân bố ở các
huyện: Đắc Tô, Sa Thầy và thị xã Kon Tum thuộc tỉnh Kon Tum.
Vùng bắc Tây nguyên chủ yếu là núi cao và cao nguyên. Nếu phía bắc là
vùng núi cao thì phía nam là cả một vùng cao nguyên khá bằng phẳng và màu

ngƣời. Ngƣời Gia rai còn đƣợc gọi bằng những âm tƣơng cận nhƣ: j‟rai, Giơ-
rai, drai (có nghĩa là thác nƣớc) hay chơ rai. Với ngƣời Gia rai, đó là tên gọi
có từ lâu đời, cũng là tên gọi chính thức hiện nay.
Tác giả Chu Thái Sơn (chủ biên) trong tác phẩm “Ngƣời Gia Rai” xuất
bản năm 2004 cho rằng tộc ngƣời Gia rai đƣợc chia thành năm nhóm chính,
gồm các nhóm:
8
Gia rai Chor (còn đƣợc gọi là Cheo Reo hay Phun) sinh sống ở khu vực
thug lũng lòng chảo Cheo Reo (nay thuộc huyện Ayun Pa và Ia Pa, tỉnh Gia
Lai).Chor (chuôr) là thung lũng lòng chảo. Nhà nghiên cứu ngƣời Pháp
J.Dournes còn dịch là vùng thấp. Cheo Reo là do phiên âm của Chu và
Chreo_tên hai tù trƣởng nổi tiếng cuối thế kỷ XIX của vùng này. Phun
(pơpun) nghĩa là gốc. Đồng bào cho rằng ngƣời Gia rai ở vùng này còn bảo
lƣu nhiều đặc điểm mang tính chất điển hình cho nhóm Gia rai, và nơi đây
cũng sớm trở thành trung tâm phát triển kinh tế, văn hóa, xã hội của dân tộc
Gia rai.
Gia rai H‟drung (gồm hai nhóm nhỏ là Chon và Hà Bầu) cƣ trú ở khu
vực Đông Bắc thành phố Pleiku, huyện Chƣ Pah, nửa huyện Chƣ Prông và
Tây huyện Đăk Đoa. Hdrung là tên một ngọn núi lửa đã tắt hay còn gọi là
hàm rồng, nằm ở ngã ba quốc lộ 14,19 cách thành phố Pleiku 11 km về phía
Đông Nam. Theo đồng bào, một bộ phận tổ tiên ngƣời Gia rai đã từng sinh tụ
quanh ngọn núi này, sau dần họ mới dần tỏa đi các nơi khác. Nét nổi bật của
nhóm này là sự bảo lƣu đầy đủ đặc trƣng kiến trúc nhà ở theo phƣơng pháp cổ
truyền Gia rai.
Gia rai Aráp là tên một ngọn núi đá nằm về phía đông thị xã Kon Tum,
nơi giáp ranh với vùng cƣ trú tập trung của ngƣời Ba na. Aráp cũng là tên con
voi bốn ngà trong huyền thoại của nhóm thợ săn.
Gia rai Mthur sống chủ yếu ở huyện Krông Pa, tiếp giáp với ngƣời Ê đê
và chăm. Cho nên có ngƣời thuộc nhóm M‟thủ lại tự nhận mình là ngƣời Ê
đê, hoặc không thể khẳng định rõ ràng bản thân thuộc nhóm, tộc ngƣời nào

Trong nền kinh tế tự cung, tự cấp tồn tại lâu đời, ngƣời Gia rai có một nghề
thủ công nghiệp khá phổ biến là dệt, đan lát, mộc, rèn…nhƣng đều ở tình
10
trạng rất sơ khai. Tất cả những hoạt động kinh tế trên đều liên quan đến
những vị thần nhất định trong tín ngƣỡng dân gian.
Có thể nói, nền kinh tế cổ truyền của ngƣời Gia rai là nền kinh tế dựa
vào thiên nhiên và mang tính tự cấp, tự túc. Điều kiện kinh tế còn nhiều hạn
chế, chính vì điều kiện nhƣ vậy cũng ảnh hƣởng đến đời sống văn hóa, tâm
linh của ngƣời dân nơi đây. Họ luôn phải đối mặt với hiện tƣợng tự nhiên, họ
bất lực trƣớc tự nhiên và xã hội nên cái tốt, cái xấu đều trong mộng, làm cho
hiện tƣợng điềm báo trở thành phổ biến, thâm nhập vào đời sống kinh tế, văn
hóa, xã hội của con ngƣời nơi đây. Chính vì kinh tế hạn chế, đây cũng là
nguyên nhân làm cho các nghi lễ nói chung và lễ bỏ mả nói riêng không đƣợc
duy trì, bởi nghi lễ đòi hỏi phải có quy mô lớn, và theo phong tục, tập quán là
phải mời đƣợc nhiều ngƣời, không chỉ trong dân làng mà còn cả các làng khác
cùng tới dự, trong đó lại sử dụng đến nhiều gia súc, gia vật nhƣ trâu, bò, lợn,
gà…Do đó, trƣớc khi tiến hành làm lễ bỏ mả, ngƣời Gia rai phải chuẩn bị vật
chất chu đáo: trâu, bò, lợn, gà…phải nuôi trồng, tích lũy các sản phẩm từ mấy
mùa trƣớc.
Nhƣ vậy, điều kiện kinh tế là cơ sở để hình thành nên tín ngƣỡng cho
ngƣời dân nơi đây. Một trong những tín ngƣỡng đó là lễ bỏ mả.
1.1.2.2. Điều kiện văn hóa-xã hội
Văn hóa tinh thần là những sản phẩm sáng tạo của dân tộc không phải
bằng cơ bắp mà bằng bộ óc. Văn hóa tinh thần cũng là hình ảnh của văn hóa
vật chất, vì nó đƣợc xây dựng trên cơ sở của một nền và một trình độ văn hóa
vật chất cụ thể.
Ngƣời Gia rai sống trong những ngôi nhà sàn, những ngôi nhà sàn này
đƣợc gọi chung là xang. Về mặt bằng cũng nhƣ kiến trúc, ngôi nhà của ngƣời
Gia rai có thể đƣơc chia làm hai loại hình: nhà sàn dài và nhà sàn ngắn.
Những ngôi nhà dài trong một làng Gia rai cổ truyền thƣờng quây quần

quanh con ngƣời đều có hồn, từ các vật dụng nhƣ chiêng, ché, ghế ngồi, đến cỏ
cây, sông suối, đồi núi, các con vật…Có hồn tốt phù hộ cho con ngƣời, có hồn
xấu, nếu con ngƣời làm điều không vừa lòng thì có thể làm hại ngƣời. Con
ngƣời có thể nhận biết đƣợc hồn qua giấc mơ và báo mộng, nếu hồn báo mộng
tốt thì ngƣời ta tin tƣởng làm theo, còn xấu thì phải bỏ dở. Chính quan niệm về
hồn của đồng bào tạo ra những giao cảm tinh tế giữa ngƣời và vật. Chính quan
niệm vạn vật có hồn này đã tạo ra những lớp bao quanh con ngƣời là những
hồn, ma. Những tín ngƣỡng này đã pha trộn vào cuộc sống các dân tộc thiểu số
ở Tây Nguyên một sắc thái huyền ảo, pha trộn giữa những cái thực và cái hƣ.
Chẳng hạn, họ quan niệm rằng cộng đồng của họ gồm hai nửa, nửa của con
cháu đang sống ở trong các plei, bon ở phía Đông và nửa của tổ tiên đã chết
nhƣng đang “sống” trong các nhà mồ tại nghĩa địa của plei, bon ở phía Tây.
Bằng các hình thức nhƣ báo mộng, tạo ra điềm báo trƣớc, tổ tiên tham gia bảo
vệ con cháu và mùa màng khỏi những tác động xấu.
Ngoài tổ tiên ra, ngƣời ta còn tin vào sự giúp đỡ của các thần núi, thần
sông, thần rừng, thần lúa và các anh hùng trong khan (Ê đê), hơri (Gia rai),
hơamon (Ba na). Không gian sống của con ngƣời đƣợc hòa quyện, che chở,
bao bọc trong sự cộng cƣ – đồng tồn tại của các thần tự nhiên, nhân thần và
các thần linh khác.
Theo quan niệm của ngƣời Gia rai có rất nhiều yang: thần ruộng nƣơng
(yang hma), thần sét (yang ktăn), thần bến nƣớc (yang pên ia), thần rừng núi
(yang chƣ), thần cây đa (yang bnu), thần lúa (yang hri), thần nhà (yang sang),
thâng làng (yang bon), vua yang pơtao (thần ngƣời sinh ra dòng họ)…
Tuy có nhiều yang nhƣ vậy nhƣng mà có ba loại yang đƣợc xem trọng
hơn cả là: yang sang đó là những thần giúp cho con ngƣời có thể dựng đƣợc
nhà; yang ala bon và yang pên ia (thần làng và thần bến nƣớc), xƣa kia ngƣời
Gia rai cho rằng mọi tai họa nhƣ cháy làng, dịch bệnh, đàn bà chết vì
13
sinh…đều do thần làng gây ra. Bởi vậy khi xảy ra những tai nạn đó, ngƣời
Gia rai lập tức rời làng để tránh tai nạn lần thứ hai. Còn đối với thần bến nƣớc

đồng tộc, có phạm vi đất đai nhất định, đƣợc quy ƣớc ranh giới không cụ thể.
Các làng cùng một khu vực dù đồng tộc hay khác tộc thƣờng liên minh với
nhau qua việc xác lập mối quan hệ hôn nhân, trao đổi hàng hóa, lƣơng
thực…Làng là một cộng đồng về tâm linh thể hiện trên các phƣơng diện sinh
hoạt tôn giáo, tín ngƣỡng, nghi lễ, kiêng cữ…Mỗi làng thƣờng có già làng, có
uy tín, đứng đầu điều khiển các công việc chung.
Làng (plơi, bôn hoặc buôn) là tổ chức xã hội đã có từ lâu và hiện nay vẫn
còn tồn tại. Plơi là cách dùng phổ biến trong hầu hết các nhóm Gia rai còn
buôn hay bôn chỉ đƣợc sử dụng trong khu vực ngƣời Gia rai Chor và Gia rai
Mthur. Làng là cơ sở của nhiều nghi lễ, tín ngƣỡng của ngƣời Gia rai. Các
làng thƣờng cách biệt nhau.
Làng của ngƣời Gia rai đƣợc xây dựng theo hệ thống định hƣớng.
Hƣớng chính của làng là hƣớng bắc, của chính của các ngôi nhà cũng theo
hƣớng đó. Quanh làng thƣờng có hàng rào bao bọc để chống thú dữ. Giữa các
gia đình trong làng chƣa có rang giới khuôn viên riêng. Điều này thể hiện tính
cộng đồng khá nét [13, tr.148].
Xã hội của họ chịu sự chi phối mạnh mẽ của luật tục. Ngƣời Gia rai gọi
luật tục của mình là tơlơi phat kđi, tơlơi juat hoặc tơlơi phian. Ngƣời phân
giải các vụ kiện là pô phat kđi (ông xử kiện), còn ngƣời làm chứng đƣợc gọi
là gong lan. Pô phat kđi là những già làng có uy tín đƣợc nhân dân tín nhiệm
trƣớc hết về đạo đức, về điều thông minh và quan trọng là ngƣời am hiểu luật
tục và có khả năng vận dụng những luật tục để giải quyết các vấn đề.
Ví dụ một số các quy định của ngƣời Gia rai nhƣ các quy định chung:
Điều 2: Các quy định chung về trách nhiệm ngƣời thi hành pháp luật
15
“Nó đã phá hủy tài sản
Của mọi người trong buôn làng
Nếu đó là một việc nhỏ
Nó không chịu hỏi người giàu
Nếu đó là một việc trọng đại

hệ gì về huyết thống cũng không đƣợc lấy nhau. Những ngƣời cùng họ, mặc
dù không có liên hệ gì về huyết thống cũng không đƣợc lấy nhau [26, tr.86].
Gia đình nhỏ mẫu hệ là đơn vị kinh tế độc lập, trong đó ngƣời đàn bà làm chủ
tài sản. Họ cũng là ngƣời quản lý công việc của gia đình. Trong lúc đó nam
giới là ngƣời sản xuất chính, đóng vai trò quyết định trong công việc xã hội.
Ngƣời Gia rai theo chế độ ngoại hôn. Con trai khi lấy vợ cƣ trú bên nhà vợ.
Xã hội tiền giai cấp, đơn vị cơ sở xã hội là làng thể hiện tinh thần cộng
đồng làng rất cao. Chế độ hôn nhân và gia đình theo mẫu hệ là yếu tố hình
thành nên lễ bỏ mả. Chính vì ngƣời Gia rai sống theo làng nên hoạt động
trong lễ bỏ mả đƣợc sự góp sức của cả làng, tất cả mọi ngƣời đều đƣợc phân
công công việc để chuẩn bị cho lễ bỏ mả. Những hoạt động đó đều đƣợc làng
biết đến và thông qua. Có thể nói, vấn đề này cũng giống nhƣ làng xã cổ
truyền ngƣời Việt nó thể hiện tính cộng đồng rất cao. Nếu ở làng xã ngƣời
Việt cổ truyền nững hoạt động đƣợc thông qua hƣơng ƣớc và mái đình chính
là nơi tụ họp của dân làng. Đối với ngƣời Gia rai luật tục chính là thứ ràng
buộc họ và không chỉ mái nhà Rông mà lễ bỏ mả chính là nơi để họ có thể tụ
họp dân làng. Lối sống theo chế độ mẫu hệ cũng ảnh hƣởng đến lễ bỏ mả, lễ
bỏ mả có tục chôn chung và theo dòng nhà mẹ
Nhƣ vậy, điều kiện về kinh tế, văn hóa, xã hội đã ảnh hƣởng trực tiếp
đến việc hình thành lễ bỏ mả của ngƣời Gai rai. Do kinh tế nƣơng rẫy và trình
17
độ phát triển tƣơng ứng mà nền văn hóa các dân tộc ở Tây Nguyên chƣa vƣợt
qua trình độ nền văn hóa “phi chữ viết” và “phi nhà nƣớc”, nên toàn bộ văn
hóa tộc ngƣời nơi đây cơ bản vẫn là nền văn hóa dân gian, một nền văn hóa
do mọi ngƣời sáng tạo ra và phục vụ cho mọi ngƣời trong cộng đồng. Với
điều kiện kinh tế-xã hội nhƣ vậy, nên trình độ tƣ duy cùng với nó là thế giới
tâm linh của con ngƣời nơi đây cũng mang sắc thái riêng. Nguyễn Đắc Tuấn
trong công trình nghiên cứu của mình về Tây Nguyên đã cho rằng, “tư duy
các dân tộc Tây Nguyên còn ở trình độ tư duy thần bí” [8, tr.512]. Những tƣ
duy đó đã đƣa họ đến với một tín ngƣỡng đó là tín ngƣỡng về lễ bỏ mả cho

ma cũng giống nhƣ ngƣời chết, cũng có làng, có chủ làng, có luật lệ…mà
ngƣời đƣợc trông coi làng là ngƣời chết (Bon Atâu) là hai bà Tung và Tai.
Cuộc sống của các thần là bất tử. Các thần có thể ăn hoặc không ăn.
Các thần có thể hóa phép làm cho mƣa thuận gió hòa, đồng thời làm cho mất
mùa, dịch bệnh. Đặc biệt là ở làng ngƣời chết có thần phát Atâu là thần có
quyền phạt cả những hồn ma nào đi lung tung, hay làm hại con ngƣời. Nếu
nhà có ngƣời ốm mà nghi cho là ngƣời chết phá, ngƣời ta cũng sẽ gọi thần
“phát Atâu”.
1.3. QUAN NIỆM VỀ NGUỒN GỐC NHỮNG NGƢỜI “ĂN NGƢỜI”
RƠHUNG (MA LAI)
Từ ma lai có nguồn gốc từ kmlai, trong ngôn ngữ một số dân tộc thuộc
ngữ hệ Mã lai-Đa đảo nhƣ Raglai, Churu. Ngƣời Gia rai gọi ma lai là
Rơhung. Rơhung có hình thù nhƣ những ngƣời bình thƣờng, vẫn sinh sống,
làm ăn bình thƣờng trong cộng đồng, nhƣng khi đêm xuống, họ rút đầu ra
khỏi thân mình đi bắt hồn ngƣời khác để ăn.
Ngƣời Gia rai quan niệm về nguồn gốc của ma lai nhƣ sau: Ông Trống
và Bà Trống (là hai chị em sống sót sau một trận lụt lớn, do đƣợc thần chỉ cho
19
vào trú trong chiếc trống) sinh ra đƣợc mƣời một ngƣời con, năm nữ và sáu
nam. Adai bắt các cặp anh em tiếp tục phải lấy nhau. Ngƣời con trai thứ sáu
dƣ ra, không có vợ bị cha mẹ lập một căn nhà tranh đốt cùng một con heo để
tế thần. Thịt heo đƣợc băm nhỏ đặt dƣới đất, còn thịt ngƣời cũng băm nhỏ
nhƣng đặt ở trên giàn cúng. Bằng mắt thƣờng mọi ngƣời đều không thể phân
biệt đƣợc đâu là thịt ngƣời, đâu là thịt heo.
Sau khi cúng tế xong ông, bà Trống hỏi các con: Ai ăn thịt thì lên ăn?
Chỉ có duy nhất một cặp vợ chồng lên. Sau khi ăn xong, Ông Trống bắt các
cặp vợ chồng kêu thử. Những cặp vợ chồng không ăn thịt ngƣời, khi kêu đều
phát ra tiếng ngƣời bình thƣờng. Riêng cặp vợ chồng ăn phải thịt ngƣời thì
tiếng kêu phát ra nhƣ tiếng chim cú, mọc mào ở trên đầu và trở thành Rơhung
(ma lai).

những ngƣời chết (những ngƣời chết bình thƣờng) và có cách ứng xử riêng
với ngƣời chết.
Chính vì tin rằng khi chết linh hồn của ngƣời chết sẽ sang sống ở thế giới
bên kia của tổ tiên nên ngƣời Gia rai có tục làm lễ bỏ mả để tiễn đƣa linh hồn
ngƣời chết ra đi hay để chuyển trạng thái sống cho ngƣời chết.
Trong khoảng thời gian từ khi chết đến khi làm lễ bỏ mả, ma chƣa đi
vĩnh viễn về thế giới của ngƣời chết mà vẫn sống với đời sống của ma-quanh
quẩn ở khu nghĩa địa và vẫn có nhu cầu ăn uống nhƣ ngƣời sống. Hằng ngày
ngƣời thân của ngƣời chết vẫn phải đem cơm nƣớc đến nhà mồ, quét dọn nhà
mồ. Thời gian này đƣợc gọi là thời kỳ giữ mả hay thời kỳ nuôi mả. Họ cho
rằng chỉ sau khi làm lễ bỏ mả thì ma (atâu) mới vĩnh viễn về với tổ tiên ở thế
giới bên kia, không quấy rầy ngƣời thân đang sống nữa.
Thế giới bên kia là làng ma (buôn atâu) là một nơi tối tăm xa xôi đâu đó ở


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status