Sáng kiến kinh nghiệm TÍCH HỢP KIẾN THỨC LỊCH SỬ VÀO GIẢNG DẠY TÁC PHẨM VĂN HỌC TRUNG ĐẠI LỚP 11 - Pdf 29

Sáng kiến kinh nghiệm năm học 2014 – 2015 Trường THPT Võ Trường Toản
TÍCH HỢP KIẾN THỨC LỊCH SỬ VÀO GIẢNG DẠY TÁC
PHẨM VĂN HỌC TRUNG ĐẠI LỚP 11
I. LÍ DO CHỌN ĐỀ TÀI:
Trong những năm gần đây, việc đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục và đào tạo
được cả xã hội quan tâm. Theo tinh thần Nghị quyết 29 - NQ/TƯ về việc việc đối
mới căn bản, toàn diện giáo dục và đào tạo thì phương pháp dạy học văn cũng cần
phải thay đổi để theo kịp yêu cầu của thực tiễn. Dạy học theo hướng “tích hợp,
liên môn” là một trong những vấn đề ưu tiên hiện nay.
Thêm nữa, nghị quyết Hội nghị trung ương 8 khóa XI có nêu rõ về đổi mới căn
bản, toàn diện giáo dục và đào tạo như sau: “Tiếp tục đổi mới mạnh mẽ phương
pháp dạy và học theo hướng hiện đại; phát huy tính tích cực, chủ động, sáng tạo
và vận dụng kiến thức, kỹ năng của người học; khắc phục lối truyền thụ áp đặt một
chiều, ghi nhớ máy móc. Tập trung dạy cách học, cách nghĩ, khuyến khích tự học,
tạo cơ sở để người học tự cập nhật và đổi mới tri thức, kỹ năng, phát triển năng
lực”. Theo quan điểm chỉ đạo đổi mới giáo dục trung học trên thì phát triển năng
lực của người học được coi là mục tiêu quan trọng và được cần được coi trọng.Mặt
khác, khái niệm năng lực ở đây được hiểu là sự kết nối tri thức, hiểu biết, khả năng
và mong muốn của người học. Như vậy, việc liên hệ kiến thức lịch sử vào việc đọc
hiểu tác phẩm văn học cũng là biện pháp cần thiết, đáp ứng yêu cầu của quá trình
đổi mới giáo dục, đặc biệt đối với bộ môn Ngữ văn.
Văn học cũng như mỗi tác phẩm văn chương luôn luôn được ra đời trong
những bối cảnh lịch sử xã hội cụ thể, những yếu tố đó thẩm thấu, chắt lọc thông
qua lăng kính của nhà văn để đi vào tác phẩm. Cho nên, không phải ngẫu nhiên mà
muốn nghiên cứu một tác phẩm văn chương cụ thể chúng ta lại tìm đến bối cảnh
mà nó ra đời. Trong phương pháp dạy học văn gọi đó là “quan điểm tiếp cận lịch
sử phát sinh hay là sự vận động một cách thích hợp những hiểu biết ngoài văn bản
để cắt nghĩa tác phẩm”.
Bên cạnh đó, đặt trong giai đoạn đất nước như hiện nay, khi mà những giá trị
sống của con người đều bị “lung lay” trong “cơn bão” của quá trình hội nhập,
nhiệm vụ giáo dục qua môn Ngữ văn lại càng được quan tâm hơn bao giờ hết. Đó

nghĩa tác phẩm.
1.1.1 Quan điểm tiếp cận lịch sử phát sinh:
Theo quan điểm này, mỗi nhà văn đều được sinh ra trong một hoàn cảnh lịch
sử và đều chịu sự tác động trở lại hoàn cảnh lịch sử. Mỗinhà văn đều có
khuynhhướng khẳng định tài năng và nhân cách riêng, khẳng định vị thếcuả mình
trong dòng chảy văn học. Do vậy, việc nghiên cứu văn học phải dựa vào lịch sử là
một tất yếu. Ví dụ, tác phẩm Bình Ngô đại cáo của Nguyễn Trãi phải đặt trong
hoàn cảnh chống giặc Minh xâm lược hay khi tiếp nhận tác phẩm Bạch Đằng
giang phú của Trương Hán Siêu phải đặt trong hoàn cảnh chống quân Mông-
Nguyên sôi sục của quân dân đời Trần thì mới hiểu sâu sắc giá trị của tác phẩm và
đồng cảm với tác giả, hiểu được hào khí của thời đại và thế đứng của dân tộc. Nỗi
GV: Lê Thị Thu Phương 2
Sáng kiến kinh nghiệm năm học 2014 – 2015 Trường THPT Võ Trường Toản
niềm băn khoăn, hoài nghi, bất bình của Cao Bá Quát, nỗi uất nghẹn sôi trào của
Nguyễn Đình Chiểu, nỗi suy tư sâu lắng của Nguyễn Khuyến đều có nguồn gốc
sâu xa từ bối cảnh văn hóa, lịch sử của thời đại.
1.1.2 Quan điểm tiếp cận hướng vào đáp ứng của học sinh:
Theo phương pháp dạy học văn hiện đại, HS là một chủ thể sáng tạo đa dạng,
phong phú. Để chủ thể ấy phát huy được tối đa khả năng tiếp cận, lĩnh hội văn bản
văn học nói chung và tác phẩm văn học trung đại nói riêng thì cần có một kênh
thông tin, một cây cầu nối bằng văn hóa và lịch sử để có sự đối thoại, cuộc gặp gỡ
giữa những giá trị của một thời với tâm lí tiếp nhận của người học hiện nay. Mỗi
tác phẩm văn chương không chỉ truyền cho HS những thông điệp mà nhà văn, nhà
thơ gửi gắm mà còn truyền cho các em một niềm tin thực sự dựa trên cơ sở có thật
mà cái thật đó không gì khác ngoài lịch sử. Khi đã hiểu về lịch sử, các em sẽ cảm
nhận và tin vào những thông điệp mà các tác giả gửi gắm, sẽ không còn cảm giác
“chơi vơi”, mơ hồ, sáo rỗng về những tác phẩm xưa cũ. Khi đó, HS sẽ là người tiếp
nhận tác phẩm văn học vừa là người đồng sáng tạo với tác giả nếu được đặt mình
trong không gian văn hóa và thời gian lịch sử mà tác phẩm đó ra đời.
Như vậy, quan điểm tiếp cận trên là thực sự cần thiết đối với thực tế giảng dạy

Mặt khác, nhà văn M.Gook-ki thật chí lí khi đã cho rằng: “Văn học là nhân
học”. Câu nói là sự đúc kết tuyệt vời từ cuộc đời cầm bút của ông. Qua đó có thể
thấy ý nghĩa của việc học văn là để hiểu sâu hơn tâm hồn con người và đồng thời
cũng là để học cách làm người. Cái cách học làm người ấy có gì khác ngoài những
giá trị đạo đức, những truyền thống đạo lí của người Việt Nam được bồi đắp qua
bao thế hệ. Thì ra, đây chính là điểm gặp gỡ đẹp đẽ giữa giá trị giáo dục của bộ
môn văn học và bộ môn lịch sử.
Như vậy, có điểm đồng quy giữa văn học và lịch sử: đó là giá trị giáo dục con
người. Cả hai môn học đều hướng đến giáo dục đạo đức, tình yêu đất nước, con
người , lòng tự hào dân tộc, và ý thức bảo vệ tổ quốc. Có điều, mỗi môn học lại có
con đường - hành trình riêng để đi đến nhận thức và trái tim của người học. Nếu
lịch sử phản ánh đời sống, quá trình hình thành, tồn tại và phát triển của đất nước,
dân tộc bằng những cứ liệu lịch sử, những chuyện xưa, tích cũ trong quá khứ thì
văn học lại phản ánh những điều đó thông qua những hình tượng nghệ thuật độc
đáo và dấy lên trong lòng người học những cảm xúc thẩm mĩ cao đẹp.
2. Cơ sở thực tiễn:
2.1 Thực tiễn giảng dạy những tác phẩm văn học trung đại:
Văn học trung đại là một thời kì lớn trong lịch sử văn học nhân loại và văn học
Việt Nam đồng thời cũng là một trong hai bộ phận lớn của văn học bên cạnh văn
học cổ đại và văn học hiện đại. Văn học trung đại Việt Nam là một thời kì phát
triển rất phong phú và kéo dài suốt mười thế kỉ (từ thế kỉ X đến thế kỉ XIX) và đã
đạt được nhiều thành tựu to lớn và đỉnh cao như Nguyễn Trãi, Nguyễn Du, Hồ
Xuân Hương…
Nhìn lại SGK lớp 11, những tác phẩm văn học trung đại chiếm một số lượng
không nhỏ. Việc dạy cho hay, hiểu cho đúng những tác phẩm này vẫn là thách thức
GV: Lê Thị Thu Phương 4
Sáng kiến kinh nghiệm năm học 2014 – 2015 Trường THPT Võ Trường Toản
và mục tiêu phấn đấu của mỗi GV và HS. Bởi lẽ trong qua trình tiếp nhận cả GV
và HS gặp nhiều khó khăn cơ bản như:
Thứ nhất là vấn đề ngôn ngữ. Cả GV và HS hầu như chỉ tiếp nhận tác phẩm

phục, tái hiện hình ảnh quá khứ. Tài liệu tham khảo giúp người học xây dựng được
tầm đón nhận phù hợp với văn bản”,cụ thể là: sử dụng tài liệu liên môn,sử dụng
tư liệu lịch sử, sử dụng tư liệu về các tác phẩm nghệ thuật, sử dụng tài liệu địa
lý và ngôn ngữ học, sử dụng tài liệu các lĩnh vực văn hóa khác. Kinh nghiệm
GV: Lê Thị Thu Phương 5
Sáng kiến kinh nghiệm năm học 2014 – 2015 Trường THPT Võ Trường Toản
trên chỉ ra cái nhìn bao quát mang tính phương pháp chứ chưa có biện pháp
đi vào cụ thể từng bài, từng nội dung kiến thức.
Còn tác giả Trương Thị Minh Hà trong sáng kiến kinh nghiệm “Một số biện
pháp dạy học văn bản nghị luận, văn học trung đại ở trường THPT” lại chỉ chú
trọng đến những tác phẩm thuộc văn nghị luận và phương pháp tích hợp ngang
(Văn-Tiếng Việt-Làm văn), tích hợp dọc(tích hợp theo từng vấn đề) và không bao
quát hết kiến thức văn học trung đại lớp 11.
Tác giả Trần Minh Thương lại đề xuất “Hướng tích hợp những kiến thức
liên quan giữa hai phân môn lịch sử và ngữ văn ở trường THPT” song hướng
tích hợp rộng, bao quát cả tác phẩm văn học lớp 10,11,12, cả tác phẩm văn
học Việt Nam và tác phẩm văn học nước ngoài mà chưa chỉ ra tích hợp chỗ
nào và tích hợp như thế nào trong những tác phẩm văn học trung đại lớp 11.
Nói tóm lại, các công trình nghiên cứu, những đề xuất, sáng kiến đều chỉ
nêu chung chung mà chưa đi vào cụ thể vào liên hệ kiến thức lịch sử trong
việc giảng dạy những tác phẩm văn học trung đại lớp 11. Vì vậy, để khắc phục
điều đó, đề tài này sẽ tìm những địa chỉ liên hệ và đề xuất những biện pháp liên hệ
kiến thức lịch sử để góp phần hiệu quả vào việc giảng dạy tác phẩm văn học trung
đại lớp 11.
III. NỘI DUNG MỘT SỐ BIỆN PHÁP LIÊN HỆ KIẾN THỨC LỊCH SỬ
VÀO GIẢNG DẠY TÁC PHẨM VĂN HỌC TRUNG ĐẠI LỚP 11
1. Xây dựng hệ thống câu hỏi tích hợp kiến thức lịch sử vào phần hướng
dẫn chuẩn bị bài cho HS
Bước chuẩn bị bài ở nhà của HS là một khâu bước rất quan trọng trong tiến
trình giảng dạy tác phẩm văn học nói chung và tác phẩm văn học trung đại nói

bản ra đời.
- Đoạn trích Vào phủ chúa Trịnh tríchThượng kinh kí sự của tác giả Lê Hữu
Trác được sáng tác trong hoàn cảnh nào?
- Tác phẩm Thượng kinh kí sự của tác giả Lê Hữu Trác được hoàn thành vào
năm 1783. Bằng những kiến thức lịch sử ở lớp 10 đã học, em hãy cho biết vào thời
điểm đó, nền chính trị nước ta có gì đáng chú ý? Em biết gì về mối quan hệ giữa
chính quyền Lê- Trịnh?
- Cũng vào thời điểm đó, đời sống nhân dân như thế nào dưới sự trị vì của chúa
Trịnh?
- Hình ảnh nào trong SGK lịch sử 10 cho em thấy sự lộng hành, tiếm quyền cả
cung vua Lê của chúa Trịnh?
* Đối với bài thơ Thu điếu của Nguyễn Khuyến, tưởng chừng như không cần
có sự liên hệ kiến thức lịch sử thì tâm sự thời thế của nhà thơ ở hai câu cuối và hồn
thu đẹp nhưng có phần lạnh lẽo, cô quạnh ở sáu câu trước đó lại cần tìm về bối
cảnh lịch sử những năm cuối thế kỉ XIX thì mới có thể cắt nghĩa, lí giải được.
- Nhà thơ Nguyễn Khuyến sáng tác bài thơ Thu điếu trong hoàn cảnh nào?
- Vì sao Nguyễn Khuyến cáo quan về ở ẩn?
- Trong thời gian khoảng thời gian và sau khi ông cáo quan về ở ẩn tại quê nhà
(1872-1883), lịch sử Việt Nam có những biến động gì đáng chú ý?
GV: Lê Thị Thu Phương 7
Sáng kiến kinh nghiệm năm học 2014 – 2015 Trường THPT Võ Trường Toản
* Bài Vịnh khoa thi Hương (có bản ghi là Lễ xướng danh khoa thi Đinh dậu)
của Trần Tế Xương (1870-1907) là bài thơ thuộc đề tài “thi cử”. Bài thơ đã thể
hiện thái độ mỉa mai, phẫn uất của nhà thơ đối với chế độ thi cử đương thời và đối
với con đường khoa cử của riêng ông. Qua bài thơ này, tác giả vẽ nên một phần
hiện thực nhốn nháo, ô hợp của xã hội thực dân nửa phong kiến buổi đầu, đồng
thời nói lên tâm sự của mình trước tình cảnh đất nước. Bài thơ gắn liền với một sự
kiện lịch sử đương thời có thật cho nên không lẽ gì khi tìm hiểu tác phẩm này HS
lại không quan tâm đến lịch sử. Những thông tin trong SGK, cả về phần Tiểu dẫn
và phần Chú thích cũng không thể cung cấp hết cái nhìn thời sự đối với tác phẩm

Tây, liệu đó có phải là yếu tố tác động đến tư tưởng và tâm trạng của Cao Bá Quát
được thể hiện trong bài thơ này không?
- Trong SGK lịch sử 10, bài 26, Tình hình xã hội ở nửa đầu thế kỉ XIX và
phong trào đấu tranh của nhân dân giúp em hiểu thêm được điều gì về cuộc đời và
con người Cao Bá Quát?
* Bài Chạy giặc của Nguyễn Đình Chiểu (1822-1888)
Bài Chạy giặc (có sách ghi là Chạy Tây) là một trong những tác phẩm đầu tiên
của văn học yêu nước chống Pháp nửa cuối thế kỉ XIX. Tác phẩm này cho dù là
bài đọc thêm nhưng cả GV và HS không thể tiếp cận được nếu không phân tích
hoàn cảnh lịch sử ra đời của nó. Ở bài thơ này, GV đặt một số câu hỏi cho HS về
nhà chuẩn bị để rút ngắn thời gian trên lớp trong việc cảm nhận bài thơ.
- Em hãy cho biết hoàn cảnh sáng tác của bài thơ Chạy giặc của Nguyễn Đình
Chiểu có gì đặc biệt?
- Trong SGK lịch sử 11, bài Cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp xâm lược
(1858-1884) đã ghi nhận bối cảnh lịch sử - thời điểm bài thơ Chạy giặc ra đời như
thế nào?
- Em biết gì về địa danh Bến Nghé và Đồng Nai? Trong SGK lịch sử 11, bài
Cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp xâm lược (1858-1884) cho em biết thêm
điều gì về những địa danh này?
* Bài Văn tế nghĩa sĩ Cần Giuộc là bài văn Nguyễn Đình Chiểu viết theo yêu
cầu của Đỗ Quang – tuần phủ Gia Định, để tế những nghĩa sĩ đã hi sinh trong trận
tập kích đồn quân Pháp ở Cần Giuộc đêm 16-2-1861. Vậy điều gì đã khiến bài văn
này ngay lập tức được truyền tụng khắp nơi trong nước và làm xúc động lòng
người? Đó là bởi nó đặt trong bối cảnh cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp
xâm lược (1858-1884) đang diễn ra sôi sục, liên tiếp những cuộc khởi nghĩa nông
dân nổ ra và đã đạt những chiến thắng nhất định. Đặt trong bối cảnh khi toàn dân
tộc đang quyết một lòng “chết vinh còn hơn sống nhục”, sự hi sinh vì đại nghĩa của
những nghĩa sĩ trong trận Cần Giuộc lại có sức mạnh cổ vũ và khích lệ to lớn. Vì
vậy, ở bài văn tế này, GV có thể đặt một số câu hỏi liên hệ lịch sử cho HS như:
- Bài Văn tế nghĩa sĩ Cần Giuộc của Nguyễn Đình Chiểu được ra đời trong

- Bài Xin lập khoa luật của Nguyễn Trường Tộ được ra đời trong hoàn cảnh
nào?
- Đoạn trích Xin lập khoa luật được ra đời trong bối cảnh chính trị đất nước
dưới triều Tự Đức như thế nào?
GV: Lê Thị Thu Phương 10
Sáng kiến kinh nghiệm năm học 2014 – 2015 Trường THPT Võ Trường Toản
- Bài 35, trong SGK lịch sử lớp 11, giúp em hiểu thêm điều gì về tư tưởng canh
tân và tác giả của bản điều trần này?
Trong quá trình xây dựng hệ thống câu hỏi có liên hệ kiến thức lịch sử, GV cần
lưu ý những điểm sau đây:
Thứ nhất là có thể đặt câu hỏi gợi nhắc lại kiến thức lịch sử mà HS đã tìm hiểu
hiểu ở lớp dưới (lớp 10), cũng có thể đặt câu hỏi để các em tìm kiếm kiến thức mới
chưa học bởi chương trình của bộ môn Ngữ văn chưa có sự tương thích về mặt thời
gian với chương trình môn học Lịch sử.
Thứ hai là cần lựa chọn những câu hỏi thực sự có ý nghĩa trong cả việc khai
thác kiến thức bài học Ngữ văn vừa nhắc lại kiến thức lịch sử mà HS đã học theo
phương pháp “ôn cố tri tân”
Thứ ba là đối với những bài có dung lượng câu hỏi tích hợp nhiều, GV nên sử
dụng phiếu học tập dưới dạng bài tập về nhà để HS tiết kiệm thời gian ghi chép câu
hỏi trên lớp mà GV cũng giảm bớt khó khăn trong việc kiểm tra việc tự học, tự liên
hệ của HS.
2. Liên hệ kiến thức lịch sử để tạo hứng thú cho HS trong phần giới thiệu
bài học.
Sau biện pháp liên hệ kiến thức lịch sử trong và ngoài kiến thức SGK cho HS
thông qua việc xây dựng hệ thống câu hỏi trong phần chuẩn bị bài ở nhà, GV có
thể liên hệ trực tiếp những kiến thức đó trong phần giới thiệu bài học để tạo ấn
tượng ban đầu cho HS về tác phẩm. Qua quá trình giảng dạy những tác phẩm văn
học trung đại lớp 11, tôi nhận thấy có thểliên hệ kiến thức lịch sử tạo ấn tượng cho
HS ngay trong lời dẫn vào bài.
Trước hết cần nhận thức rằng: lời dẫn vào bài cũng đóng vai trò quan trọng

khủng hoảng nghiêm trọng, tài chính cạn kiệt. Để đối phó với tình hình đó, triều
đình nhà Nguyễn tăng cường bóc lột nhân dân, thậm chí áp dụng cả những biện
pháp tiêu cực như: cho nộp tiền chuộc tội, cho buôn bán thuốc phiện, cho mua
quan, bán tước để thu tiền. Chế độ khoa cử cũ kĩ lỗi thời cùng với nạn mua quan
bán tước diễn ra công khai, trắng trợn đã khiến những người có thực tài, thực học
như Trần Tế Xương tám lần đi thi nhưng chỉ một lần đỗ tú tài. Đó có phải là thói
đời bạc bẽo đã khiến cho bà Tú phải khổ mà ông cất lên tiếng chửi trong bài thơ
Thương vợ. Điều đó sẽ được trả lời trong tiết học hôm nay.”
- Ở bài Xin lập khoa Luật của Nguyễn Trường Tộ , GV cũng có thể liên hệ kiến
thức lịch sử trong lời dẫn vào bài:
“Trong nửa sau thế kỉ XIX, bộ máy chính quyền triều Nguyễn từ trung ương
đến địa phương trở nên sâu mọt; địa chủ cường hào tha hồ đục khoét, nhũng nhiễu
dân lành. Những năm trước khi Pháp đánh Hà Nội lần thứ nhất, ở nước ta đã rộ lên
một phong trào đề nghị cải cách. Một trong số những người đi đầu phong trào đó là
Nguyễn Trường Tộ. Chính tình trạng trì trệ, bảo thủ và suy yếu nghiêm trọng của
triều đình phong kiến nhà Nguyễn trước sự xâm lược của thực dân Pháp đã thôi
thúc ông đề xuất việc lập khoa Luật cho đất nước. Tầm nhìn xa trông rộng và tư
tưởng tiến bộ của ông sẽ là điều mà chúng ta tìm hiểu trong tiết học hôm nay qua
bài “Xin lập khoa Luật.”
GV: Lê Thị Thu Phương 12
Sáng kiến kinh nghiệm năm học 2014 – 2015 Trường THPT Võ Trường Toản
Một kinh nghiệm rút ra trong việc liên hệ kiến thức lịch sử vào phần giới thiệu
bài học là GV nên đặt các thông tin về lịch sử lên trước sau đó kết nối thông tin đó
với nội dung bài học có liên quan. Và nên lưu ý, không nên gượng ép trong việc
liên hệ vì nếu việc liên hệ mang tính chất khiên cưỡng không những không giúp
HS hiểu thêm về lịch sử mà còn làm mất hứng thú, không đáp ứng được sự chờ
đợi của các em trước một giờ học văn.
3. Liên hệ kiến thức lịch sử thông qua những hình ảnh minh họa trong
phần Đọc- hiểu
Trong việc đọc hiểu tác phẩm văn học trung đại, ngoài nhưng nội dung thông

người thi đỗ Trường Hà Nam,
khoa Đinh dậu 1897
GV: Lê Thị Thu Phương 14
Sáng kiến kinh nghiệm năm học 2014 – 2015 Trường THPT Võ Trường Toản
(Cổng Tiền Môn) (Cổng Tiền Môn)
Dân chúng chen lấn nhau đi Toàn quyền P.Doumer chứng kiến
xem lễ xướng danh lễ xướng danh
Xướng danh trường Hà Nam (27/12/1897)
Các quan mặc triều phục, theo thứ tự phẩm trật, ngồi ghế tréo ở hai bên con
đường đi từ Cổng Tiền Môn dẫn vào nhà Thập Đạo
GV: Lê Thị Thu Phương 15
Sáng kiến kinh nghiệm năm học 2014 – 2015 Trường THPT Võ Trường Toản
(Trường Hà-nam 27/12/1897)
(Tân khoa ngồi đợi hoàn tất lễ Xướng danh Sau khi trình diện các Khảo quan,
ông Cử mới đượcdẫn đến chiếu ngồi trong một cái rạp dựng trước nhà Thập đạo.
Ông Thủ Khoa, cũng gọi là Giải nguyên hay Hương nguyên, ngồi trên chiếc chiếu
hoa cạp điều đầu hàng lẻ, ông Á nguyên ngồi trên chiếc chiếu đầu hàng chẵn.)
* Ở bài Chạy giặc của Nguyễn Đình Chiểu (1822-1888)
Quân Pháp đánh chiếm thành Liên quân Pháp - Tây Ban Nha tấn công
Gia Định (17/2/1859) bán đảo Sơn Trà (Đà Nẵng), ngày 1-9-1858
GV: Lê Thị Thu Phương 16
Sáng kiến kinh nghiệm năm học 2014 – 2015 Trường THPT Võ Trường Toản
Tàu chiến Pháp-Tây Ban Nha đổ bộ vào Sài Gòn năm 1859
* Ở bài Văn tế nghĩa sĩ Cần Giuộc của Nguyễn Đình Chiểu
GV dạy bài Văn tế nghĩa sĩ Cần Giuộc của Nguyễn Đình Chiểu, ngoài kiến
thức lịch sử về trận tấn công đồn Cần Giuộc năm 1861, nhằm giúp HS hiểu hình
tượng người nông dân nghĩa sĩ trong tác phẩm là hình tượng đám đông bước ra từ
thực tế đời sống chứ không còn là hình ảnh ước lệ tượng trưng thì GV nên kết hợp
cho HS xem tranh vẽ trận Cần Giuộc, xem hình ảnh về việc xây dựng tượng đài kỉ
niệm những nghĩa sĩ Cần Giuộc đã được khởi công vào năm 2011 như một sự tri

Trong bài 23, HS có thể vận dụng kiến thức ở mục 3, Nhà nước phong kiến
Đàng Ngoài để hiểu hơn về vị trí của nhà Chúa và sự tiếm quyền vua Lê của chúa
Trịnh:
Năm 1627, cuộc chiến tranh Trịnh – Nguyễn bùng nổ, kéo dài đến cuối năm
1672. Không phân thắng bại, hai bên giảng hòa, lấy sông Gianh (Quảng Bình)
làm giới tuyến, chia đất nước làm hai: Đàng Ngoài và Đàng Trong với hai chính
quyền riêng biệt.
Từ cuối thế kỉ XVI, nhà nước phong kiến Nam Triều chuyển về Thăng Long,
được xây dựng lại hoàn chỉnh với danh nghĩa thống trị toàn bộ đất nước, do vua
Lê đứng đầu. Tuy nhiên quyền hành của vua Lê không còn như trước, thậm chí bị
thu hẹp đến mức chỉ còn là danh nghĩa. Mọi quyền hành đều nằm trong tay người
tổng chỉ huy quân đội họ Trịnh, về sau được phong vương (nhân dân quen gọi là
“chúa”).
GV: Lê Thị Thu Phương 19
Sáng kiến kinh nghiệm năm học 2014 – 2015 Trường THPT Võ Trường Toản
Ở Trung ương hình thành hai bộ phận: triều đình và phủ chúa. Chính quyền
đứng đầu là vua Lê được tổ chức như cũ nhưng quyền hành bị thu hẹp. Phủ chúa
gồm một số quan văn, quan võ cao cấp chuyên cùng chúa bàn bạc, quyết định các
chủ trương, chính sách lớn của nhà nước và trực tiếp chỉ đạo việc thức hiện.
HS có thể tham khảo nội dung trong SGK lịch sử nâng cao lớp 10, ở mục 3,
Nội chiến Trịnh – Nguyễn và sự phân chia Đàng Trong- Đàng Ngoài; và bài 33
-“Chiến tranh phong kiến và sự chia cắt đất nước” có ghi thêm “Vùng đất từ sông
Gianh, lũy Thầy (Quảng Bình) trở ra Bắc nằm dưới quyền cai trị của chính quyền
Lê-Trịnh gọi là Đàng Ngoài. Họ Trịnh xưng vương, lập phủ Chúy, tuy vẫn duy trì
triều đình vua Lê, nhưng trên thực tế đã thâu tóm mọi quyền hành trong tay, biến
vua Lê thành bù nhìn.”
HS cũng nên liên hệ với đời sống nhân dân dưới sự trị vì của Chúa Trịnh để
thấy rằng sự ăn chơi sa hoa, lãng phí của nhà Chúa trên sự thống khổ của nhân dân.
Đó là một tội ác không thể dung thứ.
“Chính sách ruộng đất của họ Trịnh nhằm phục vụ cho quyền lợi của nhà

được đặt ra: tiến quân ra Bắc đánh đổ chính quyền Lê-Trịnh… Trong những năm
1786-1788, phong trào Tây Sơn lần lượt đánh đổ hai tập đoàn phong kiến Trịnh,
Lê và làm chủ toàn bộ đất nước. Sự nghiệp thống nhất đất nước bước đầu được
hoàn thành.”.
Theo những thông tin trên, thì chỉ sau 3 năm tức là từ năm 1783 đến năm 1786
kể từ khi Lê Hữu Trác hoàn thành xong tập kí sự bằng chữ Hán Thượng kinh kí sự
thì chính quyền chúa Trịnh đã bị sụp đổ hoàn toàn. Chứng tỏ những gì Hải Thượng
Lãn Ông được mắt thấy tai nghe trong phủ Chúa đã cho thấy sự rệu rã, mục ruỗng
của nhà chúa và dự báo trước phút lâm chung của chính quyền phong kiến này.
Đồng thời đoạn trích Vào phủ chúa Trịnh đã cung cấp cho người đọc một góc nhìn
chân thực về lịch sử dân tộc dưới triều Lê – Trịnh qua ngòi bút kí sự của tác giả. Ở
khía cạnh này, không thể phủ nhận giá trị hiện thực đem lại của đoạn trích Vào phủ
chúa Trịnh nói riêng và của tác phẩm Thượng kinh kí sự nói chung.
* Bài Câu cá mùa thu của Nguyễn Khuyến (1835-1909)
Câu cá mùa thu là bài thơ thuộc chùm ba bài thơ thu (Thu ẩm, Thu vịnh, Thu
điếu) của Nguyễn Khuyến được cho là sáng tác trong thời gian Nguyễn Khuyến
cáo quan về ở ẩn tại quê nhà tại xã Yên Đổ, huyện Bình Lục, tỉnh Hà Nam. Bài thơ
không chỉ đơn thuần là tả cảnh thu tại một vùng quê chiêm trũng mà ẩn trong đó là
những kí thác, những tâm sự thầm kín của nhà thơ. Thật không dễ cho người học
cảm nhận những tâm sự đó nếu như không đặt tác phẩm vào trong hoàn cảnh sáng
tác của nó. Tại sao tác giả lại cảm nhận cảnh thu đẹp nhưng có vẻ lạnh lẽo, u buồn?
Cảnh thu lạnh hay chính tâm hồn người lạnh lẽo, cô quạnh? Phải chăng tiếng cá
đớp mồi dưới chân bèo càng làm tăng cái tĩnh của cảnh vật hay cũng là cái động
trong lòng người? Nhà thơ đang trăn trở, suy tư điều gì mà lãng quên việc đi câu?
Tâm sự thời thế của Nguyễn Khuyễn trong bài thơ này là gì? Có lẽ HS chỉ có thể
trả lời được thấu đáo khi tìm về kiến thức lịch sử tương ứng với thời điểm ra đời
của tác phẩm.
Trong suốt cuộc đời mình, Nguyễn Khuyến chỉ làm quan mười một năm
(1872-1883), còn phần lớn cuộc đời ông ở quê nhà. Tuy gắn bó với người quê,
GV: Lê Thị Thu Phương 21

hiểu thứ hai là ông chửi đời. Nếu hiểu theo cách thứ nhất thì ông tự rủa mát mình,
tự nhận trách nhiệm về mình là người chồng vô tích sự đã khiến cho vợ phải khổ,
còn hiểu theo cách thứ hai cần phân ra hai góc độ: về góc độ văn hóa, thì rõ ràng
tiếng chửi của ông Tú hướng tới thói đời với tư tưởng Nho giáo nặng nề, hẹp hòi,
khắt khe với người phụ nữ. Trong gia đình, người vợ giữ vai trò trụ cột nuôi sống
cả nhà người vợ giữ vai trò trụ cột nuôi sống cả nhà còn người chồng miệt mài đèn
sách với hi vọng đỗ đạt làm thay đổi vận mệnh gia đình và cái xã hội với tư tưởng
cố hữu đó không cho phép những người chồng như Tú Xương được tham gia vào
những việc tầm thường, “buôn thúng bán mẹt” cho dù ông rất thương vợ. Còn về
GV: Lê Thị Thu Phương 22
Sáng kiến kinh nghiệm năm học 2014 – 2015 Trường THPT Võ Trường Toản
góc độ lịch sử, thì người đọc có thể thấy tiếng chửi của ông Tú hướng tới chế độ
khoa cử đương thời, tình trạng mua quan, bán tước diễn ra công khai, ngang nhiên,
trắng trợn đã khiến cho những người có thực tài, thực học như ông đi thi năm lần
bẩy lượt mà rốt cuộc cũng chỉ là đậu vớt cái danh vị Tú tài. Để hiểu được điều này,
HS ngoài việc tìm hiểu về cuộc đời của Tú Xương cần tìm tư liệu trong SGK lịch
sử 11, trong bài 35, Trào lưu cải cách, duy tân ở Việt Nam trong những năm cuối
thế kỉ XIX, có ghi:
“Trong nửa sau thế kỉ XIX, nền kinh tế Việt Nam tiếp tục lâm vào tình trạng
khủng hoảng nghiêm trọng. Nông nghiệp sa sút, thủ công nghiệp và thương nghiệp
bế tắc, tài chính cạn kiệt…Để đối phó với tình hình đó, triều đình nhà Nguyễn tăng
cường bóc lột nhân dân, thậm chí áp dụng cả những biện pháp tiêu cực như: cho
nộp tiền chuộc tội, cho buôn bán thuốc phiện, cho mua quan, bán tước để thu
tiền…Bộ máy chính quyền từ trung ương đến địa phương trở nên sâu mọt; địa chủ,
cường hào tha hồ đục khoét, nhũng nhiễu dân lành.”
* Bài Vịnh khoa thi Hương của Trần Tế Xương:
Ở mỗi bài học trong sách giáo khoa đều có phần Tiểu dẫn trình bày về tác giả,
hoàn cảnh ra đời tác phẩm để GV và HS khai thác. Tuy nhiên vẫn cần có sự tham
khảo thêm tư liệu lịch sử để làm rõ yếu tố thời đại. Đối với bài Vịnh khoa thi
Hương của Trần Tế Xương, tuy thời lượng dành cho bài đọc thêm này là không

“Nhà Mạc được thành lập, tiếp tục phát triển giáo dục, tổ chức đều đặn các kì
thi Hương, thi Hội để tuyển chọn nhân tài. Khi đất nước bị chia cắt, ở Đàng
Ngoài, nhà nước Lê – Trịnh cũng cố gắng tiếp tục mở rộng giáo dục Nho học theo
chế độ thời Lê sơ. Nhiều khoa thi được tổ chức nhưng số người đi thi và số người
đỗ đạt không nhiều. Ở Đàng Trong, mãi đến năm 1646, chúa Nguyễn mới mở khoa
thi đầu tiên theo cách riêng. Nội dung Nho học sơ lược. Vua Quang Trung lên
ngôi, lo chấn chỉnh lại giáo dục, cho dịch các sách kinh từ chữ Hán ra chữ Nôm
để học sinh học, đưa văn thơ chữ Nôm vào nội dung thi cử.
Tuy nhiên, nội dung giáo dục chủ yếu vẫn là kinh, sử. Các bộ môn khoa học tự
nhiên không được chú ý, không được đưa vào khoa cử”
Những kiến thức lịch sử trên đã giúp HS hiểu và lí giải thái độ chán ghét lối
học cũ, lối khoa cử đương thời của Cao Bá Quát. Không chỉ phản ánh lối học và
lối khoa cử cũ mòn mà tác giả còn cho thấy tính chất vô nghĩa của nó, những pho
sách cũ, những lí thuyết suông, đâu giúp được gì cho đất nước trong buổi nhiễu
nhương.
GV cũng cần tìm hiểu sách giáo viên lịch sử lớp 10 để cung cấp cho HS cái
nhìn đầy đủ hơn về giáo dục đương thời: “Dưới thời Lê- Trịnh, tuy nhà nước “vẫn
mở đều các khoa thi nhưng chất lượng ngày càng sa sút. Nhà nước thả cho các
quan chấm thi ở trường thi Hương (ở Thừa Tuyên) soạn sẵn 4-5 đề thi, ra đi ra lại,
những thầy đồ giỏi nhân đó soạn sẵn bài đem bán mà quan trường thì cứ theo văn
lấy đỗ “trùng kiến cũng mặc”. Không những thế, các bộ Ngũ kinh, Tứ thư còn
được tóm tắt, người đi thi chỉ cần thuộc học thuộc lòng chừng ấy là đủ”.
Những ghi chép trên về tình trạng khoa cử và giáo dục ở các thế kỉ XVI-XVIII
và gần hơn nữa là tình trạng giáo dục dưới triều Nguyễn đã tác động không nhỏ tới
nhận thức, tâm trạng của Cao Bá Quát trước hành trình tìm kiếm công danh của
GV: Lê Thị Thu Phương 24
Sáng kiến kinh nghiệm năm học 2014 – 2015 Trường THPT Võ Trường Toản
ông cũng như của các nho sĩ cùng thời. Trong SGK lịch sử nâng cao lớp 10, bài 40,
“Đời sống văn hóa-tư tưởng nửa đầu thế kỉ XIX” có ghi:
“Gia Long, vị vua khai sáng triều Nguyễn, quan niệm: “Nhà nước cầu nhân

bất bình, u uất, âm ỉ của nhà thơ và cảm phục thêm về tài năng và khí phách của
ông.
* Bài Chạy giặc của Nguyễn Đình Chiểu (1822-1888)
GV: Lê Thị Thu Phương 25

Trích đoạn GV: nhận xét, chốt KẾT LUẬN, KIẾN NGHỊ: 1 Kết luận:
Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status