Đời sống thị dân trong tiểu thuyết hồ anh thái - Pdf 29

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC VINH
TRẦN THỊ THƯƠNG
ĐỜI SỐNG THỊ DÂN
ĐỜI SỐNG THỊ DÂN
TRONG TIỂU THUYẾT HỒ ANH THÁI
TRONG TIỂU THUYẾT HỒ ANH THÁI
LUẬN VĂN THẠC SĨ NGỮ VĂN
NGHỆ AN - 2014
BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC VINH
TRẦN THỊ THƯƠNG
ĐỜI SỐNG THỊ DÂN
ĐỜI SỐNG THỊ DÂN
TRONG TIỂU THUYẾT HỒ ANH THÁI
TRONG TIỂU THUYẾT HỒ ANH THÁI
CHUYÊN NGÀNH: LÝ LUẬN VĂN HỌC
MÃ SỐ: 60.22.01.20
LUẬN VĂN THẠC SĨ NGỮ VĂN
Người hướng dẫn khoa học: TS. LÊ THỊ HỒ QUANG
NGHỆ AN - 2014
LỜI CẢM ƠN
Để hoàn thành được luận văn này, tôi xin chân thành cảm ơn các thầy,
cô giáo trong khoa Ngữ Văn – Đại học Vinh đã cho tôi nhiều chỉ dẫn khoa
học quý báu, cảm ơn gia đình và bạn bè đã quan tâm giúp đỡ. Đặc biệt, nhân
dịp này, tôi xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc tới giảng viên, T.S. Lê Thị Hồ
Quang – người đã trực tiếp hướng dẫn, chỉ bảo và giúp đỡ rất tận tình cho tôi
trong suốt dài thời gian nghiên cứu.
Trước một vấn khá hóc búa, mặc dù đã có nhiều cố gắng tìm tòi nhưng
người thực hiện vẫn không tránh khỏi những thiếu sót. Chúng tôi rất mong
nhận được nhiều hơn nữa những sự góp ý, chỉ bảo của quý thầy cô giáo và

TRONG TIỂU THUYẾT HỒ ANH THÁI 72
72
3.1. Cách tổ chức văn bản tiểu thuyết 72
3.2. Cách sử dụng “ngôn ngữ thị dân” 84
3.4.2. Các hình thức giễu nhại trong tiểu thuyết Hồ Anh Thái 111
3.4.3. Hiệu quả của bút pháp giễu nhại trong tiểu thuyết Hồ Anh Thái
117
KẾT LUẬN 119
MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài
1.1. Quan điểm mỹ học mới về con người, đời sống và sự sáng tạo đã
khiến tiểu thuyết Việt Nam sau Đổi mới (1986) đến nay thực sự khởi sắc.
Nhiều đề tài, chủ đề vốn trước đây chưa được khai thác và nhìn nhận xứng
đáng nay được đào sâu và khơi mở ở nhiều chiều kích khác nhau. Đặc biệt,
đời sống thị dân là đề tài thu hút được nhiều cây bút quan tâm thể hiện. Khi
viết về đề tài này, mỗi nhà văn đều cố gắng tìm tòi một hướng đi riêng để
khẳng định dấu ấn cá nhân của mình. Tiêu biểu là các tác giả Nguyễn Huy
Thiệp, Phạm Thị Hoài, Tạ Duy Anh, Hồ Anh Thái, Nguyễn Việt Hà, Nguyễn
Bình Phương, Lê Minh Khuê, Nguyễn Thị Thu Huệ…
1.2. Hồ Anh Thái là một gương mặt xuất sắc của văn xuôi Việt Nam
đương đại. Với bút lực dồi dào và cách nhận thức, thể hiện vấn đề độc đáo,
ông sớm ghi dấu ấn cá nhân với thể loại truyện ngắn và có thành tựu đáng kể
ở cả mảng tiểu luận, chân dung văn học. Song thành công nổi bật của ông
nằm ở tiểu thuyết, đặc biệt mảng tiểu thuyết viết về đề tài đời sống thị dân.
Trong tiểu thuyết Hồ Anh Thái, đời sống thị dân đã thực sự trở thành một đề
tài trọng điểm để ngòi bút ông hướng tới khai thác, lý giải. Nhạy bén và tinh
tường, nhà văn đã phản ánh hiện thực đô thị vào trong tác phẩm của mình một
cách sinh động, hấp dẫn và mới lạ. Điều đó được minh chứng qua nhiều tác
phẩm, chẳng hạn: Người và xe chạy dưới ánh trăng, Người đàn bà trên đảo,
Trong sương hồng hiện ra, Cõi người rung chuông tận thế, Mười lẻ một đêm,

Hà Nội” [51, 391].
Tiểu thuyết Cõi người rung chuông tận thế tập trung hướng về đời sống
thị dân. Tác giả Trần Thị Hải Vân trong công trình: Cõi người trong thế giới
nghệ thuật của Hồ Anh Thái có cái nhìn khái quát về đối tượng thị dân trong
tiểu thuyết của Hồ Anh Thái: “Tầng lớp thị dân trong tiểu thuyết của Hồ Anh
Thái gần như là cả một xã hội đông đảo nhưng có phần nhốn nháo, ở đó
những con người lương thiện tốt đẹp dường như quá hiếm hoi, ít ỏi (…) Hồ
Anh Thái lôi tất cả họ lên sân khấu trò đời, không chừa một ai, để phân tích,
soi ngắm, bình phẩm, chế giễu và cả lên án…” [53, 63].
Tác giả Phạm Chí Dũng trong bài Ám ảnh và dự cảm khẳng định vị trí
của cuốn tiểu thuyết này trong việc phản ánh đời sống thị dân hiện đại: “Trên
văn đàn Việt Nam trong khoảng mười mấy năm nay, chúng ta cũng đã đụng
chạm với nhiều sự thật về mặt trái của một xã hội đang bị tha hóa với tốc độ
nhanh về đạo đức được phơi bày ra trong không ít tác phẩm. Nhưng Cõi
người rung chuông tận thế có lẽ là một trong số ít những sự phơi bày được
văn học hóa thành công…” [53, 301].
Tác giả Phạm Anh Minh trong bài viết Cõi người rung chuông tận thế
từ góc nhìn Phật giáo, nhận xét về mặt trái của đời sống thị dân thể hiện trong
tác phẩm: “Với dung lượng ít (241 trang), lối viết hàm súc, nén chặt, Hồ Anh
Thái đã vạch ra mặt trái của cõi người hiện đại: Sự xuống cấp về mặt nhân
cách, đạo đức của nhiều lớp người; lối sống buông thả của những kẻ có tiền,
có quyền; sự thiếu trách nhiệm của con người, sự dung túng của xã hội;
những bất công trong cuộc sống…” [53, 330].
Sau Cõi người rung chuông tận thế, Hồ Anh Thái cho ra đời tiểu thuyết
Mười lẻ một đêm. Đây là tác phẩm khẳng định sở trường của Hồ Anh Thái
với đề tài đời sống thị dân.
Tác giả Trần Quỳnh Trang trong công trình Phong cách tiểu thuyết Hồ
Anh Thái đã nhận xét về thế giới nhân vật thị dân trong tiểu thuyết này như
sau: “Mười lẻ một đêm là tiểu thuyết trào lộng châm biếm sắc sảo nhiều thói
tật đáng cười của con người trong xã hội đương đại. Tác phẩm như một “tấn

Nhà phê bình Hoài Nam, trong bài Chuyện của người và chuột, đã nhận
xét về tác dụng xây dựng chân dung nhân vật thị dân theo lối biếm họa:
“Dựng lên những chân dung biếm họa trong tiểu thuyết này, nhà văn Hồ Anh
Thái đã cho thấy ở ông một sự nhạy cảm, một nhãn quan sắc bén, một năng
lực nhìn thấu cái xấu, cái giả, cái buồn cười trong các kiểu người thị dân hiện
đại” [36].
Những ý kiến trên đây đều đi đến một kết luận chung: Đời sống thị dân
là vấn đề cơ bản trở đi trở lại trong tiểu thuyết của Hồ Anh Thái. Tác giả tỏ ra
hết sức am hiểu mảng chủ đề này và thực tiễn sáng tác cho thấy ông đã thành
công. Các nhận xét đều điểm qua những thành công trên phương diện ngôn
ngữ, cách xây dựng nhân vật, sử dụng bút pháp…của nhà văn. Tuy nhiên,
phần lớn các ý kiến cũng mới chỉ dừng lại ở những tác phẩm cụ thể và cũng
chưa thật sự đi sâu khảo sát vấn đề khoa học này.
3. Đối tượng nghiên cứu và phạm vi văn bản khảo sát
3.1. Đối tượng nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu trong luận văn là Đề tài đời sống thị dân trong
tiểu thuyết Hồ Anh Thái.
3.2. Phạm vi văn bản khảo sát
Để thực hiện đề tài, chúng tôi sẽ tìm hiểu, khảo sát tất cả các sáng tác
của Hồ Anh Thái, kể các các tác phẩm thuộc các thể loại khác như truyện
ngắn, tiểu luận văn học… Tuy nhiên, xuất phát từ mục tiêu và giới hạn của đề
tài, chúng tôi sẽ tập trung vào các tiểu thuyết sau đây:
- Người đàn bà trên đảo, (2003, Nxb Phụ nữ, Hà Nội )
- Trong sương hồng hiện ra, (2003, Nxb Phụ nữ, Hà Nội )
- Người và xe chạy dưới ánh trăng (2005, Nxb Hội nhà văn, Hà Nội)
- Cõi người rung chuông tận thế, (2009, Nxb Lao động, Hà Nội)
- Mười lẻ một đêm, (2013, Nxb Trẻ, Hà Nội)
- SBC là săn bắt chuột, (2013, Nxb Trẻ, Hà Nội)
Đồng thời, khi cần thiết, luận văn cũng khảo sát tác phẩm của các tác
giả khác cùng viết về đề tài này như: Nguyễn Huy Thiệp, Nguyễn Thị Thu

1.1.1. Khái niệm thị dân
Trong quan niệm truyền thống, khái niệm thị dân được hiểu tương đối
hẹp, chỉ những đối tượng là thợ thủ công, những thương gia, những người
buôn bán sống ở những khu dân cư sầm uất. Trong quan niệm hiện đại, nội
hàm khái niệm thị dân được hiểu một cách rộng rãi hơn. Theo Từ điển Tiếng
Việt do Hoàng phê chủ biên, thị dân là: “Người dân thành thị thời phong kiến,
chuyên sống bằng nghề thủ công hoặc buôn bán” [42, 938]. Đây mới chỉ là
một định nghĩa sơ lược, chủ yếu mới dừng lại ở phương diện nghề nghiệp và
chưa chỉ rõ được cấu trúc xã hội - lịch sử của khái niệm thị dân.
Bài viết Thị dân và văn hóa thị dân do tác giả Vũ Thị Phương Anh dịch
và giới thiệu trên báo Giáo dục Việt Nam (thứ 5, 10-10-2013) có cách hiểu
khái niệm thị dân đáng chú ý. Bài viết đặt ra những câu hỏi đi sâu vào những
vấn đề trọng tâm liên quan đến đối tượng này. Thị dân – tiếng Anh là urbanite
hoặc city-dweller - là gì? Một nơi như thế nào mới được xem là đô thị? Để
sáng tỏ vấn đề trên, bài viết sử dụng cách định nghĩa khái niệm “đô thị”, “thị
dân” trích từ từ điển mạng có tên là Từ điển Đô thị (urbandictionary.com):
“[Thị dân] là người sinh sống ở một trong những thành phố lớn trên thế giới,
có độ tuổi từ 17 đến 44. Là người tiêu dùng khá giả, có quan điểm sống lạc
quan và rất khác những người sống ở "thị trấn nhỏ" hoặc khu vực nông thôn”
[1]. Khái niệm này đã nêu lên một cách tương đối đầy đủ về khái niệm thị dân
trên những phương diện quan trọng như địa điểm sống và làm việc, độ tuổi, tư
tưởng sống…
Ngoài ra, bài viết còn trình bày một số đặc điểm cơ bản của thị dân.
Theo tác giả bài viết, “thị dân có 6 đặc điểm chính: Thiếu thời gian, tự hào về
văn hóa đô thị, có hiểu biết về truyền thông (media-literate), có ý thức về
thương hiệu hàng hóa, tiêu dùng theo thị hiếu (trend-sensitive) và có ý thức về
văn hóa.
Với mục đích xác định những đặc trưng cơ bản của con người thị dân,
trang www.diendan.org có đăng tải bài viết Hồn vía đô thị và cốt cách thị
dân. Bài viết nêu lên cách hiểu về khái niệm thị dân như sau: “Thị dân, nói

biến động đó được thể hiện ở những “tế bào” nhỏ nhất của xã hội – gia đình.
Trong mắt nhà văn, đời sống đô thị với một bộ phận dân cư đang dần dần bị
chi phối bởi lối sống xô bồ, chỉ biết chạy theo đồng tiền, địa vị, quyền lực mà
quên đi tình nghĩa, đạo lý. Mưa mùa hạ, Mùa lá rụng trong vườn, Đám cưới
không có giấy giá thú, Côi cút giữa cảnh đời… là những tiểu thuyết hay viết
về đề tài này.
Trong Mưa mùa hạ, thông qua những số phận như của Trọng, của Nam và
một số nhân vật khác như của ông Cần, ba của Trọng, nhà văn đặt ra một vấn
đề xã hội lớn lao, khẩn thiết. Đó là cuộc đấu tranh của con người với cái xấu,
cái ác, với những biểu hiện tiêu cực, ngăn trở cuộc sống chân chính, cản trở
bước tiến của xã hội. Mùa lá rụng trong vườn chứng minh sức mạnh tàn phá
vô song của đồng tiền đến cuộc sống của mỗi gia đình (như tổ ấm của ông
Bằng) và của tất cả những con người trong đời sống hiện đại. Đám cưới
không có giấy giá thú viết về nhân vật trí thức đô thị với sự khao khát được
sống hết mình với sự nghiệp giáo dục song lại luôn bị gánh nặng cơm áo ghì
sát đất. Họ luôn khắc khoải, dằn vặt bởi sự sa sút về nhân cách người thầy
giáo, đầy lo âu, buồn tủi về cuộc đời.
Trung Trung Đỉnh, Chu Lai, Lê Lựu cũng là những nhà văn có nhiều tác
phẩm viết về đề tài đời sống thị dân rất thành công và sâu sắc. Với họ, không
khí của đời sống đô thị thời hậu chiến và những mâu thuẫn này sinh trong thời
kỳ đổi mới với bao vấn đề ngổn ngang đã thành động lực thôi thúc sáng tác.
Các nhà văn này chủ yếu tái hiện cuộc sống thị dân trong giai đoạn chuyển
tiếp từ cơ chế bao cấp sang cơ chế thị trường.
Hai nhà của Lê Lựu chiếu ống kính vào một góc nhỏ nơi thành thị. Đó là
“một cái góc nhỏ đầy rẫy sự đểu cáng trong thành phố”, “cái tận cùng của xã
hội đã vỡ mất rồi, đàn ông không ra đàn ông, đàn bà không ra đàn bà” [33,
42]. Phố của Chu Lai cũng là tiểu thuyết viết về đề tài đời sống thị dân. Phố
là tác phẩm về cơn lốc chuyển mình của một phố lính nói riêng và đất nước
nói chung. Gia đình Thảo – Nam trong Phố là một mái nhà hạnh phúc, êm ấm
nhưng rồi cuộc sống đời thường với những lo toan, mưu tính cuối cùng đã

vỡ. Thời thế hỗn loạn. Cả những niềm tin tôn giáo cũng trở nên mong manh,
đáng ngờ vực. Nguyễn Việt Hà đã dựng lên những con người, với hoàn cảnh
và lối sống khác nhau, song khá quen thuộc trong xã hội thị dân hiện đại.
Hoàng, có khả năng như “một nhà tư tưởng lớn” nhưng chỉ được xếp làm một
nhân viên trực điện thoại, yêu nhưng bị chiếm đoạt tình yêu, không tìm được
chỗ dung thân nơi nền văn minh kỹ trị. Nhã, người đàn bà xinh đẹp và tháo
vát, lao vào làm giàu như để giải thoát khỏi nỗi khao khát tình yêu nhưng
không được, và cũng không bao giờ có được một tình yêu đích thực. Tâm, em
Hoàng, một người có chí lớn, đã đặt sự nghiệp làm giàu lên trên hết, trên cả
tình yêu, trên cả học vấn, ước mơ là một triệu phú đô la đầu tiên, cũng không
thể đạt được ước vọng đó, bởi cơ chế xã hội không cho phép. Còn Bình, con
ông cháu cha, thông minh đẹp trai, có địa vị để đạt được tất cả, nhưng thực
chất vẫn không đạt được gì, bởi cái địa vị ấy là nguyên nhân của sức mạnh
cũng đồng thời là nguyên nhân của sự tha hóa (Hai bố con loạn luân, quan hệ
cùng một cô gái, muốn có tình yêu phải đi chiếm đoạt người yêu của anh ruột
bạn mình)
Tiểu thuyết Đỗ Phấn “lên án tất cả những thói rởm hợm của xã hội thị dân
đương đại nhưng lại cũng rất dễ dàng hòa tan vào nó, ngay ở cả chính những
cái rởm hợm ấy” [11, 246]. Ở các tiểu thuyết của ông, người ta thấy một đô
thị đang vỡ ra, đang bị cày xới, sục sạo trong cuộc chiến giữa bản thể và
những lai tạp nhố nhăng. Nếu như ở Vắng mặt là sự đào sâu vào bi kịch cá
nhân, loay hoay ở những vấn đề mang tính cá nhân thì ở Chảy qua bóng tối
lại có sự cực đoan khi cắt nghĩa các vấn đề của đô thị và những hệ lụy của nó
với cách nhìn rất dễ khiến những kẻ “ngụ cư chân chính” phải chạnh lòng. Đỗ
Phấn sẵn sàng chỉ ra cái sự nhộn nhạo của đô thị là do những kẻ nhập cư, là
do những bát nháo của “nửa kia thành phố”, phần đất mới nhập vào làm mất
thế “rồng cuộn hổ ngồi”. Còn đến Rừng người, người ta đã thấy một đô thị
không hẳn là Hà Nội, một khái niệm đô thị ở tầm cao hơn, đã có sự liên kết
với các “đô thị vệ tinh”, các vùng nông thôn lân cận để vấn đề không còn là
của một đô thị riêng lẻ nào. Cùng với tiến trình mở rộng địa lý của Thủ đô,

thành tựu. Trong dòng chảy đó, Hồ Anh Thái dần nổi lên như một gương mặt
tác giả xuất sắc của văn xuôi Việt Nam đương đại.
Năm 2000, ông được bầu làm chủ tịch Hội nhà văn Hà Nội (đến năm
2010). Trong khoảng thời gian từ 2005 – 2010, ông được bầu là Ủy viên Ban
chấp hành Hội Nhà văn Việt Nam. Hồ Anh Thái đã từng sống và làm việc
nhiều năm tại Ấn Độ và một số nước khác trên thế giới.
Hiện nay, Hồ Anh Thái đang làm việc tại Bộ ngoại giao, giữ chức vụ
Phó Đại sứ Việt Nam tại Iran.
1.2.1.2. Con người
Tài hoa, lịch lãm, có kiến thức văn hóa và chuyên môn sâu rộng, nhạy
cảm, hài hước là những từ có thể dùng gọi tên chính xác tuy chưa thật đầy đủ
khi nói về con người Hồ Anh Thái.
Với tư cách là một nhà ngoại giao, một nhà văn, hiếm có tác giả nào
được đi nhiều nơi và tiếp xúc với nhiều vùng văn hóa khác nhau như Hồ Anh
Thái. Chính điều này đã tạo điều kiện thuận lợi hình thành nên ở ông một kiến
thức phong phú và phông văn hóa dày dặn, một cảm quan đời sống và văn
chương tinh nhạy, sắc bén.
Nhìn lại hành trình sáng tạo và những tư tưởng mà ông bộc bạch trong
quá trình sáng tác, có thể khẳng định rằng, Hồ Anh Thái là nhà văn đầy trách
nhiệm, nghiêm túc với ngòi bút của mình. Ngay từ khi mới bắt đầu sáng tác,
“Hồ Anh Thái tự đặt lịch: mỗi ngày tôi phải đều đặn viết ít nhất hai tiếng.
Người viết chuyên nghiệp phải thế, ngồi vào bàn là phải đủ kỹ năng để huy
động cảm hứng. Chờ cảm hứng dẫn thân tới là một thái độ lao động nghiệp dư
và có chút thần bí hóa nghề văn” [53, 249]. Hồ Anh Thái luôn sáng tác theo
mục đích và ý đồ nghệ thuật xác định, rõ ràng, chứ không chỉ trông chờ cảm
hứng đến như nhiều tác giả khác. Đó là một cách để chuyên nghiệp hóa, hiện
đại hóa ngòi bút. Tuy nhiên, nói vậy không có nghĩa nhà văn xem nhẹ chất
xúc tác làm nên những tác phẩm văn chương – cảm hứng. Ông vẫn hết sức coi
trọng cảm hứng - một yếu tính của hoạt động sáng tạo nghệ thuật – chỉ có
điều ông luôn cố gắng để cảm hứng gắn kết tự nhiên, hài hòa và bền bỉ với

Nhưng chỉ cần mỗi tác phẩm mới của anh xuất hiện, ngay lập tức, có những
dư luận trái chiều. Người khen cũng nhiều người chê cũng lắm. Nhưng tuyệt
nhiên không có những lời nổi đóa hay thanh minh. Im lặng sống, im lặng viết.
Một mình. Chỉ có những con chữ xôn xao…”[68].
1.2.2. Hành trình sáng tạo
Năm 1978, khi mới vào tuổi hai mươi, đang là sinh viên trường Đại học
Ngoại giao, Hồ Anh Thái đã là tác giả văn xuôi có truyện ngắn đăng đều trên
báo Văn Nghệ, tạp chí Văn nghệ Quân đội… Những truyện ngắn ban đầu của
Hồ Anh Thái tiêu biểu là Chàng trai ở bến đợi xe, Nói bằng lời của mình,
Mảnh vỡ của đàn ông…đã được người đọc chú ý bởi bút pháp mới mẻ và sự
sống thật chân thực. Trong hơn ba mươi năm cầm bút, ông đã cho ra đời gần
30 tập truyện ngắn và tiểu thuyết. Nhà phê bình văn học Phạm Xuân Nguyên
có lần đã phân kỳ lộ trình sáng tác của Hồ Anh Thái (một cách tương đối)
thành ba giai đoạn: Tiền Ấn Độ, Ấn Độ và hậu Ấn Độ.
Giai đoạn tiền Ấn Độ có thể có thể tính từ lúc Hồ Anh Thái bắt đầu viết
văn cho đến cuối những năm 1980. “Giai đoạn này, kênh giọng chủ đạo của
văn xuôi Hồ Anh Thái là trữ tình đôn hậu” [37, 91]. Ở giai đoạn đầu này, ông
hăng say đi vào khám phá và phản ánh hiện thực đời sống với những gam
màu hồng tươi, cảm xúc chân thành với một môi trường của cuộc sống học
sinh, sinh viên trong cuộc sống mới với nhiều khát khao hoài bão. Điều này
được thể hiện trong các truyện ngắn: Chàng trai ở bến đợi xe, Nói bằng lời
của mình, Mảnh vỡ của đàn ông. Tiêu biểu nhất cho tinh thần này là tiểu
thuyết Người và xe chạy dưới ánh trăng. Trong tác phẩm này, Hồ Anh Thái
thể hiện một ý tưởng khá sâu sắc rằng con người ta đi vào đời với đôi bàn tay
trắng, sạch sẽ và lương thiện, có khát vọng lớn lao lập thân, lập nghiệp. Vậy
mà đời cứ luôn muốn nhấn chìm con người ta vào sắc dục, vào những con
đường không lương thiện. Các nhân vật trong tiểu thuyết đều còn trẻ, Toàn,
Hiệp, Trang, Minh… mỗi người một thân phận, bị cuộc sống xô dạt về những
nẻo khác nhau và họ phải vật lộn với số phận trên đường đời. Với Người và
xe chạy dưới ánh trăng, Hồ Anh Thái đã khẳng định được tiềm năng của một


Nhờ tải bản gốc
Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status