I. Đặt vấn đề
Tài nguyên thiên nhiên và con ngưòi ngày càng có mối quan hệ bền vững với
nhau. Cuộc sống của con người phụ thuộc vào thiên nhiên và ngược lại thiên
nhiên cung cấp và làm cho cuộc sống con người ngày càng trở nên đầy đủ hơn.
Sử dụng tài nguyên bền vững đã và đang là vấn đề quan trọng hang đầu của
các lĩnh vực. Trong đó các mục tiêu được xác định đó là
Bền vững về kinh tế là bảo đảm kinh doanh rừng lâu dài liên tục với năng suất,
hiệu quả ngày càng cao (không khai thác lạm vào vốn rừng; duy trì và phát
triển diện tích, trữ lượng rừng; áp dụng các biện pháp kỹ thuật làm tăng năng
suất rừng).
Bền vững về mặt xã hội là bảo đảm kinh doanh rừng phải tuân thủ các luật
pháp, thực hiện tốt các nghĩa vụ đóng góp với xã hội, bảo đảm quyền hạn và
quyền lợi cũng như mối quan hệ tốt với nhân dân, với cộng đồng địa phương.
Bền vững về môi trường là bảo đảm kinh doanh rừng duy trì được khả năng
phòng hộ môi trường và duy trì được tính đa dạng sinh học của rừng, đồng
thời không gây tác hại đối với các hệ sinh thái khác.
Thành phố Đồng Hới - tỉnh Quảng Bình với điều kiện diện tích đất đai trải dài trên
nhiều dạng địa hình khác nhau, hình thành nên nhiều dạng thảm thực bì khác nhau,
nên việc phân vùng địa lý sinh thái thổ nhưỡng để quản lý là điều cần thiết giúp quản
lý tài nguyên đất đai ở đây hiệu quả hơn. Đó là lý do mà chúng tôi tiến hành đề tài:
“ Phân vùng sinh thái cho thành phố Đồng Hới - tỉnh Quảng Bình”
1
II. Các cơ sở để phân chia vùng sinh thái.
II.1 Cơ sở khoa học cho việc phân vùng sinh thái
Thông qua các vùng, tiểu vùng sinh thái đề xuất các mô hình sử dụng tài
nguyên hiệu quả và bền vững. Cơ sở khoa học để phân vùng sinh thái là dựa
trên các nhân tố: Đất (nhóm đất, loại đất, địa hình, địa mạo); Nước (tính chất,
đặc điểm nguồn nước, khả năng vân chuyển và khai thác dòng chảy); Khí
hậu( mưa nắng, độ ẩm, nhiệt độ, gió bão); hệ thống cây trồng, vật nuôi và thảm
thực vật
II.2 Cơ sở thực tiễn
S
BảN Đồ Vị TRí ĐịA Lý T.P ĐồNG HớI
TỉNH QUảNG BìNH
T.P ĐồNG HớI
#
#
#
#
#
#
#
#
#
#
#
Tỉnh Hà Tỉnh
Biển Đông
Tỉnh Quảng Trị
C
ộ
n
g
H
o
à
D
C
N
Đông, độ dốc từ 7 - 10%. Cao độ trung bình từ 5 - 10 m, chỗ cao nhất là 15,5 m,
thấp nhất là 3m.
+ Khu vực 5 (khu vực Lộc Ninh): Địa hình là vùng đồi và vùng cát biển,
đỉnh đồi bằng. Cao độ trung bình là 10 m, chỗ cao nhất là 16 m, thấp nhất là 3 m.
Địa hình có hướng thấp dần về phía Nam với độ dốc trung bình từ 3 – 5%.
III.2 Phân chia theo đièu kiện đất đai
Đặc điểm thổ nhưỡng
Theo kết quả nghiên cứu của Viện Quy hoạch và Thiết kế nông nghiệp - Bộ
Nông nghiệp và phát triển nông thôn thực hiện cho thấy thành phố Đồng Hới có 5
nhóm đất chính, gồm:
* Nhóm đất xám
Phần lớn diện tích đồi núi ở Đồng Hới được xếp vào nhóm đất xám. Đây là
nhóm đất có tầng B tích sét (Argic) với khả năng trao đổi cation dưới 24 meq/100g
sét và độ bão hoà bazơ < 50% tối thiểu là ở một phần của tầng B thuộc lớp đất 20 -
125 cm, không có tầng E nằm đột ngột ở ngay trên một tầng có tính thấm chậm.
Đất xám là nhóm đất có diện tích lớn chiếm khoảng 9.060 ha (chiếm 58,25% diện
tích đất tự nhiên toàn thành phố, khoảng 1/3 tổng diện tích đất xám của tỉnh
Quảng Bình). Đất được hình thành và phát triển trên các loại đá mẹ khác nhau
như: đá phiến sa, đá biến chất, đá cát, đá granit và đất xám bạc màu, đất phù sa
cổ đạt tiêu chuẩn đất chua, độ bão hoà bazơ thấp, hoạt tính thấp (Acrisols) đều xếp
vào nhóm đất này. Trong nhóm đất xám gồm 5 loại đất phụ là:
- Đất xám cơ giới nhẹ kết von sâu: Có diện tích 135 ha, chiếm 0,87% tổng
diện tích đất tự nhiên, chiếm 1,49% diện tích đất xám. Đất có thành phần cơ giới
nhẹ và ít thay đổi giữa các tầng, tỷ lệ cấp hạt tầng mặt chiếm 78,6% và giảm nhẹ
theo độ sâu, cấp hạt thịt và cấp hạt sét tăng dần theo độ sâu (14,2 - 18,4% và 7,2 -
13,2%). Đất có phản ứng chua pH
kcl
4,5 - 5,01 , tổng lượng cation kiềm trao đổi
thấp dưới 4meq/100g đất, dung tích hấp thụ CEC thấp 7,5 – 7,8 meq/100g đất, độ
bão hoà bazơ thấp < 50%, sắt di động tầng mặt thấp 0,68 meq/100g đất, nhôm di
- Đất xám kết von: Có diện tích 3.316 ha, chiếm 21,32% tổng diện tích tự
nhiên, chiếm 36,60% diện tích đất xám. Gồm 4 nhóm đất phụ (Đất xám kết von
nông; đất xám kết von sâu; đất xám kết von ít sâu; đất xám kết von ít glây sâu) Đất
hình thành do sản phẩm phong hoá của đá mẹ có thành phần cơ giới nhẹ dưới
thảm thực vật thưa thớt, nơi có mực nước gần mặt đất, chịu tác động định kỳ của
chế độ rửa trôi theo chiều ngang và chiều thẳng đứng vào mùa mưa và chế độ bốc
hơi vào mùa khô. Đất có thành phần cơ giới tầng mặt thường là thịt nhẹ, các tầng
dưới nặng, phản ứng của đất chua, tổng lượng cation kiềm trao đổi thấp, dung tích
5
hấp thu CEC thấp, độ bão hoà bazơ thấp, sắt và nhôm di động thấp. Hàm lượng
mùn và đạm tổng số các tầng thấp, lân và khu dễ tiêu nghèo.
- Đất xám loang lổ: Có diện tích 340 ha, chiếm 2,19% tổng diện tích tự
nhiên, chiếm 3,75% diện tích đất xám. Hình thành trong điều kiện gần tương tự
với đất xám kết von, chỉ khác nhau vì mức độ rửa trôi và thể hiện ở sự rửa trôi vào
mùa mưa và bốc hơi vào mùa khô. Đất có thành phần cơ giới nhẹ, có phản ứng
chua, tổng lượng cation kiềm trao đổi thấp, sắt và nhôm di động thấp. Hàm lượng
mùn và đạm tổng sổ tầng mặt thấp, lân và khu dễ tiêu nghèo.
* Nhóm đất tầng mỏng:
Đất tầng mỏng hình thành trong điều kiện địa hình chia cắt, dốc, thảm thực
vật che phủ mặt đất đã bị chặt phá và do hậu quả của nhiều năm canh tác quảng
canh, không có bảo vệ đất, không có biện pháp và công trình phòng chống xói
mòn. Nhóm đất tầng mỏng có diện tích 460 ha, chiếm 2,96% tổng diện tích tự
nhiên. Đặc điểm của đất có tầng đất mịn rất mỏng (< 30 cm) do đất bị rửa trôi, xói
mòn mạnh nên rất chặt cứng và nghèo dinh dưỡng. Đất có phản ứng chua nhiều,
cation kiểm trao đổi rất thấp, dung tích hấp thu CEC thấp sắt di động trung bình,
nhôm di động thấp.
* Nhóm đất cát:
Đất cát Ở Đồng Hới có diện tích 2.756 ha, chiếm 17,72% tổng diện tích
nhiên, được hình thành ven biển do quá trình bồi đắp chủ yếu từ sản phẩm thô
(granit) của dải Trường Sơn Bắc với sự hoạt động của quá trình bờ biển và các hệ
310 ha; đất phù sa có tầng mặt loang lổ sâu 100 ha; đất phù sa glây có tầng đốm
rỉ 120 ha). Các loại đất trong nhóm phù sa được hình thành trên các trầm tích sông
suối, hiện tại quá trình thổ nhưỡng xảy ra yếu, đất còn thể hiện rõ đặc tính xếp lớp
có vật liệu phù sa (Fluvic), do sự bồi đắp hằng năm bởi các cấp hạt khác nhau và
hàm lượng chất hữu cơ khác nhau. Trong trường hợp sự lắng đọng phù sa đồng
đều thì tính phân lớp khó xác định. Hàm lượng cacbon hữu cơ của các lớp đất ở độ
sâu 125cm lớn hơn 0,2%.
Đất có thành phần cơ giới thịt nặng, đất có phản ứng ít chua, tổng lượng
cation kiềm trao đổi dao động lớn, sắt di động ở mức trung bình khá, nhôm di
động thấp. Hàm lượng mùn tổng số tầng mặt trung bình khá, các tầng dưới thấp;
đạm tổng số tầng 1 khá, các tầng dưới nghèo. Lân tổng số ở các tầng trung bình
thấp, khu tổng số từ nghèo đến khá; lân và khu dễ tiêu đều ở mức độ nghèo.
Hiện nay quỹ đất phù sa ở Đồng Hới hầu như đã được sử dụng hết để phát
triển các cây lương thực, thực phẩm, cây công nghiệp ngắn ngày. Cây lúa vẫn phổ
biến và ổn định hơn cả, hệ thống cây trồng chưa được đa dạng hoá với phương
7
#
#
#
#
#
#
#
#
#
#
#
#
#
#
RT
SONG
TB
TC
c
N
EW
S
thc thõm canh khoa hc nõng cao phỡ nhiờu ca t. T l cõy h u trong
c cu s dng t nụng nghip trờn t phự sa cũn thp
s dng hp lý v cú hiu qu qu t cn tin hnh ng b cỏc gii
phỏp nh:
* Hon thin h thng cõy trng, vt nuụi phự hp vi iu kin t v mụi
trng sinh thỏi. a dng hoỏ cõy trng theo cỏc loi hỡnh t phự sa nõng cao
hiu qu s dng t v phỏt trin bn vng.
* u t thõm canh ci to t:
+ Bún vụi v phõn sinh lý kim (lõn nung chy) ci to chua, ci
thin dinh dng lõn cho cõy trng;
+ Bún cõn i cỏc loi lõn NPK theo nhu cu sinh lý ca cõy v iu kin
c th ca t;
+ Tng cng bún phõn hu c, nht l vựng t cú thnh phn c gii
nh;
+ Nu cú iu kin, bún phõn vi lng, vi sinh qua r v phun qua lỏ.
Hỡnh: Bn rng S dng t thnh ph ng Hi
8
III.3 Phân chia theo điều kiện khí hậu
Thành phố Đồng Hới nằm trong khu vực có khí hậu nhiệt đới gió mùa với
đặc trưng của khí hậu miền Bắc có mùa đông lạnh, mưa nhiều; mùa hè nóng, mưa
ít; có gió Tây Nam thổi mạnh từ tháng 4 đến tháng 7 hàng năm với tốc độ trung
bình 20 m/s làm cho nhà độ trong những thang này cao nhất, độ ẩm không khí
thái của các loại cây trồng vật nuôi hiện có trong vùng.
Biểu đồ: Nhiệt độ và lượng mưa trung bình ở tỉnh Quảng Bình
(2001 – 2007)
9
(Nguồn: Trạm khí tượng thủy văn Đồng Hới)
* Chế độ mưa
Gió mùa đã gây ra hiện tượng mưa nhiều và phân hoá theo không gian.
Lượng mưa trung bình hằng năm toàn Thành phố bình quân từ 1.300 -4.000mm,
phân bố không đều theo vùng và theo mùa. Mùa khô nóng có gió Tây Nam thổi từ
tháng 4 đến tháng 8, mưa ít, lượng mưa chiếm khoảng 20 - 25% lượng mưa cả
năm. Mùa mưa bắt đầu từ tháng 9 đến tháng 12, mưa nhiều, lượng mưa chiếm tới
70 - 75% lượng mưa cả năm, vì vậy lũ thường xảy ra trên diện rộng.
Số ngày mưa trung bình ở Thành phố Đồng Hới khá cao lên tới 139 ngày.
Tần suất những trận mưa lớn trên 300 mm trong 24 giờ, có nhiều trong các tháng
8, 9, 10, 11. Tháng có lượng mưa lớn nhất là tháng 9, tháng 10 (502- 668 mm),
tháng có lượng mưa thấp nhất là tháng 3, tháng 4 (44 - 46 mm).
Giải pháp: Với lượng mưa, số ngày mưa như trên thì đây là hạn chế lớn
cho sự phát triển sản xuất nông nghiệp vì hiện nay sản xuất nông nghiệp của
Thành phố chủ yếu là cây trồng cạn. Để tăng năng suất cây trồng, thâm canh tăng
vụ thì giải pháp hiệu quả nhất là phải chọn ra được những giống cây trồng có thời
gian sinh trưởng và phát triền ngắn ngày phù hợp.
* Độ ẩm không khí
Độ ẩm không khí hằng năm ở Đồng Hới khá cao (82 – 84%), ngay trong
những tháng khô hạn nhất của mùa hè (mùa có gió Tây Nam) độ ẩm trung bình
10
tháng vẫn thường xuyên trên 70% (riêng những ngày có gió Tây Nam độ ẩm
tương đối thấp).
Thời kỳ có độ ẩm cao nhất ở Đồng Hới thường xảy ra vào những tháng cuối
mùa đông, khi khối không khí cực đới lục địa tràn về qua đường biển và khối
không khí nhiệt đới biển Đông luân phiên hoạt động gây ra mưa phùn nên độ ẩm
#
#
#
#
#
#
#
#
#
#
#
#
#
#
#
#
#
#
Bắc Lý
Nam Lý
Phú Hải
Đồng Mỹ
Đồng Sơn
Bảo Ninh
Hải Đình
Đức Ninh
Lộc Ninh
Quang Phú
Thuận Đức
Hải Thành
13
V. Kết Luận
Thành phố Đồng Hới tỉnh Quảng Bình có diện tích tương hẹp và trãi dài
trên một số dạng địa hình nhất định, từ vùng núi đến đồng bằng ven biển.
Điều đó kéo theo sự đa dạng về các đặc điểm sinh thái hình thành nên các
tiểu vùng địa lý thổ nhưỡng và tiểu vùng sinh thái nông nghiệp đặc trưng.
Căn cứ để phân chia các tiểu vùng sinh thái là điều kiện địa hình, đất, thảm
thực vật, chế độ nước. Căn cứ vào đó có thể phân chia Thành phố thành 5 tiểu
vùng sinh thái với các đặc trưng nhất định. Các vùng đó là:
• Khu vực 1 và khu vực 4 (khu nội thành và Phú Hải).
• Khu vực 2 (Bắc Lý và Nam Lý): nằm về phía Tây Thành phố, có
dạng địa hình vùng gò đồi, dốc về hai phía Đông và Tây.
• Khu vực 3 (khu vực Đồng Sơn): nằm về phía Đông và Tây của
đường Hồ Chí Minh. Địa hình có dạng vùng gò đồi nhấp nhô có
hướng thấp dần từ Tây sang Đông.
• Khu vực 5 (khu vực Lộc Ninh): Địa hình là vùng đồi và vùng cát
biển, đỉnh đồi bằng.
Các vùng đó có các thế mạnh riêng về nông nghiệp, lâm nghiệp hay thủy
sản cần được chú trọng phát triển.
Các giải pháp được đưa ra nhằm sử dụng đúng đắn và hợp lý nguồn tài
nguyên như là một đề xuất cho hướng sử dụng tài nguyên theo hướng bền
vững.
14