QUẢN TRỊ CHIẾN LƯỢC GVHD:Th.S SÁI THỊ LỆ THỦY
Để thực hiện đề án cơ cấu lại hệ thống NHTM QD và hệ thống NHTM CP theo
quyết định của Thủ tướng Chính phủ năm 2001. Cùng với việc trở thành thành viên
thứ 150 của Việt Nam trong ngôi nhà chung WTO ngày 07/11/2006 đến nay các
NHTM Việt Nam đã thực hiện nhiều giải pháp để hoàn thành tốt đề án của Thủ
tướng Chính phủ, các giải pháp nâng cao năng lực cạnh tranh của mình như: tăng
vốn điều lệ, cơ cấu lại nợ, làm sạch bảng cân đối, đổi mới công tác quản trị, nâng
cao chất lượng nguồn nhân lực, đầu tư công nghệ….Bên cạnh đó, sự xâm nhập
ngày càng sâu rộng của ngân hàng nước ngòai vào thị trường Việt Nam, cũng như
những cam kết về mở cửa khu vực ngân hàng trong tiến trình hội nhập ngày một
gần kề đã làm làm cho cuộc cạnh tranh giữa các NHTM tại Việt Nam ngày càng trở
nên gây gắt và khốc liệt hơn.
Ngân hàng Thương mại cổ phần Á Châu ACB cũng không nằm ngòai chủ trương
và xu thế đó. NHTMCP Á Châu ACB dù đã có những lợi thế trong cạnh tranh so
với các NHTM khác. Thế nhưng, NHTMCP Á Châu ACB cũng còn tồn tại không ít
những yếu kém, cũng như đang phải đối mặt với những khó khăn và thách thức
phía trước. Để tận dụng tốt những lợi thế của mình trên cơ sở xác định những điểm
yếu, lợi dụng cơ hội mà WTO mang lại để vượt qua những thách thức.
Nhóm chúng tôi đã chọn đề tài “Chiến lược tại Ngân hàng TMCP Á Châu
ACB” để nghiên cứu về chiến lược tại ngân hàng ACB và xin đề xuất một số giải
pháp nhằm hoàn thiện chiến lược tại Ngân hàng TMCP Á Châu ACB.
NHÓM 13- LỚP K12KDN4 Trang 1
QUẢN TRỊ CHIẾN LƯỢC GVHD:Th.S SÁI THỊ LỆ THỦY
I. Tổng quan về Ngân hàng TMCP Á Châu ACB
1. Giới thiệu về Ngân hàng TMCP Á Châu ACB
a. Bối cảnh thành lập
Pháp lệnh về Ngân hàng Nhà nước và Pháp lệnh về NHTM, hợp tác xã tín dụng và
công ty tài chính được ban hành vào tháng 5 năm 1990, đã tạo dựng một khung
pháp lý cho hoạt động NHTM tại Việt Nam. Trong bối cảnh đó, NHTMCP Á Châu
(ACB) đã được thành lập theo Giấy phép số 0032/NH-GP do NHNNVN cấp ngày
24/04/1993, Giấy phép số 533/GP-UB do Ủy ban Nhân dân TP.Hồ Chí Minh cấp
Theo cam kết gia nhập WTO, từ 1/4/2007, các ngân hàng nước ngoài được thành
lập ngân hàng con 100% vốn trực thuộc tại Việt Nam. Nhưng phải đến năm 2009,
điều này mới chính thức hiện thực, các ngân hàng ngoại bắt đầu mở rộng tầm ảnh
hưởng thực sự.
Tập trung cấp giấy phép từ cuối năm 2008, bước sang năm 2009, hệ thống ngân
hàng Việt Nam bắt đầu đón nhận những ngân hàng 100% vốn ngoại đầu tiên.
Những thành viên mới này được hoạt động đẩy đủ hơn, cạnh tranh toàn diện hơn
thay vì phụ thuộc vào các điều kiện kinh doanh hạn chế trước đó.
Trong năm 2009, 5 ngân hàng đầu tiên của khối này đã nhận giấy phép, thành lập
và mở rộng hoạt động, gồm HSBC, Standard Chartered, ANZ, Shinhan và Hong
Leong; trong đó, HSBC và ANZ đã nhanh chóng khai trương nhiều điểm giao dịch
mới. Lợi thế của khối này và áp lực cạnh tranh đã được đề cập nhiều từ năm 2007
và nay đang dần hiện hữu.
Theo thống kê của Ngân hàng Nhà nước, khối các tổ chức tín dụng nước ngoài tại
Việt Nam hiện có 45 chi nhánh của 33 ngân hàng nước ngoài, 5 ngân hàng liên
doanh với hơn 20 chi nhánh phụ thuộc, 5 ngân hàng 100% vốn nước ngoài, 8 tổ
chức tín dụng phi ngân hàng có vốn đầu tư nước ngoài; ngoài ra còn có 56 văn
phòng đại diện của các tổ chức tín dụng khác.
Theo đánh giá của Ngân hàng Nhà nước, nhóm thành viên này hiện đang hoạt động
hiệu quả. Dự tính, năm 2009, các chi nhánh ngân hàng nước ngoài và ngân hàng
100% vốn nước ngoài đạt mức thu nhập trước thuế đạt 2.612 tỷ đồng, nguồn vốn
huy động và dư nợ tín dụng tăng 17,8% và 10,8%, tổng tài sản có tăng 14% so với
cuối năm 2008; các ngân hàng liên doanh đạt thu nhập trước thuế 477 tỷ đồng, huy
động vốn tăng 18,2%, dư nợ tín dụng tăng 34,3%, tổng tài sản có tăng 18,3% so với
cuối năm 2008.
NHÓM 13- LỚP K12KDN4 Trang 3
QUẢN TRỊ CHIẾN LƯỢC GVHD:Th.S SÁI THỊ LỆ THỦY
Trong khi đó các ngân hàng trong nước dù lớn hay nhỏ đều rơi vào tình trạng khó
khăn. Khả năng thanh khoản hết sức hạn chế. Tình hình huy động gặp khó khăn,
nguồn vốn huy động chạy lòng vòng từ ngân hàng này sang ngân hàng khác trong
tín dụng trở nên phổ biến… là những nguyên nhân đặt các khoản vay trong tình
trạng “bất ổn”, có nguy cơ quá hạn hiện nay tại hầu hết các ngân hàng.
Thời báo kinh tế Việt nam ngày 02/6/2008 đã cung cấp cho độc giả một số liệu
đáng chú ý như sau: hiện Việt nam có 5 ngân hàng thương mại nhà nước, ngân
hàng chính sách, ngân hàng phát triển; 6 ngân hàng liên doanh; 36 ngân hàng
thương mại cổ phần; 46 chi nhánh ngân hàng nước ngoài; 10 công ty tài chính; 13
công ty cho thuê tài chính; 998 quĩ tín dụng nhân dân cơ sở. Các đơn vị trên đều có
chức năng cho vay, là chức năng chính của ngân hàng. Dân số nước ta hiện nay ước
khoảng 86 triệu người, GDP khoảng 65 tỷ USD, số lượng các ngân hàng này được
cho là quá nhiều trong điều kiện hiện nay.
b. Sự đe dọa của sản phẩm thay thế
Cơ bản mà nói, các sản phẩm và dịch vụ của ngành ngân hàng Việt Nam có thể xếp
vào 5 loại:
• Là nơi nhận các khoản tiền (lương, trợ cấp, cấp dưỡng…)
• Là nơi giữ tiền (tiết kiệm…)
• Là nơi thực hiện các chức năng thanh toán
• Là nơi cho vay tiền
• Là nơi hoạt động kiều hối
Đối với khách hàng doanh nghiệp, nguy cơ ngân hàng bị thay thế không cao lắm do
đối tượng khách hàng này cần sự rõ ràng cũng như các chứng từ, hóa đơn trong các
gói sản phẩm và dịch vụ của ngân hàng. Nếu có phiền hà xảy ra trong quá trình sử
dụng sản phẩm, dịch vụ thì đối tượng khách hàng này thường chuyển sang sử dụng
một ngân hàng khác vì những lý do trên thay vì tìm tới các dịch vụ ngoài ngân
hàng.
Đối với khách hàng tiêu dùng thì lại khác, thói quen sử dụng tiền mặt khiến cho
người tiêu dùng Việt Nam thường giữ tiền mặt tại nhà hoặc nếu có tài khoản thì khi
có tiền lại rút hết ra để sử dụng. Các cơ quan Chính phủ và doanh nghiệp trả lương
qua tài khoản ngân hàng nhằm thúc đẩy các phương thức thanh toán không dùng
tiền mặt, góp phần làm minh bạch tài chính cho mỗi người dân. Nhưng các địa
điểm chấp nhận thanh toán bằng thẻ lại đa số là các nhà hàng, khu mua sắm sang
nhiệm về hệ thống hoặc bảo trì máy ATM. Hiện tại ở Việt Nam các ngân hàng
thường tự đầu tư trang thiết bị và chọn cho mình những nhà cung cấp riêng tùy theo
điều kiện. Điều này góp phần giảm quyền lực của nhà cung cấp thiết bị khi họ
không thể cung cấp cho cả một thị trường lớn mà phải cạnh tranh với các nhà cung
NHÓM 13- LỚP K12KDN4 Trang 6
QUẢN TRỊ CHIẾN LƯỢC GVHD:Th.S SÁI THỊ LỆ THỦY
cấp khác. Tuy nhiên khi đã tốn một khoản chi phí khá lớn vào đầu tư hệ thống,
ngân hàng sẽ không muốn thay đổi nhà cung cấp vì quá tốn kém, điều này lại làm
tăng quyền lực của nhà cung cấp thiết bị đã thắng thầu.
Quyền lực của các cổ đông trong ngành ngân hàng thì như thế nào? Không nhắc
đến những cổ đông đầu tư nhỏ lẻ thông qua thị trường chứng khoán mà chỉ nói đến
những đại cổ đông có thể có tác động trực tiếp đến chiến lược kinh doanh của một
ngân hàng. Nhìn chung hầu hết các ngân hàng Việt Nam đều nhận đầu tư của một
ngân hàng khác. Quyền lực của nhà đầu tư sẽ tăng lên rất nhiều nếu như họ có đủ
cổ phần và việc sáp nhập với ngân hàng được đầu tư có thể xảy ra. Ở một khía cạnh
khác, ngân hàng đầu tư sẽ có một tác động nhất định đến ngân hàng được đầu tư.
e. Cường độ cạnh tranh của các doanh nghiệp trong ngành
Trong năm 2008, McKinsey dự báo doanh số của lĩnh vực ngân hàng bán lẻ ở Việt
Nam có thể tăng trưởng đến 25% trong vòng 5-10 năm tới, đưa Việt Nam trở thành
một trong những thị trường ngân hàng bán lẻ có tốc độ cao nhất châu Á. Tuy khủng
hoảng kinh tế làm cho tốc độ tăng trưởng chậm lại, tác động xấu tới ngành ngân
hàng nhưng thị trường Việt Nam chưa được khai phá hết, tiềm năng còn rất lớn.
Ảnh hưởng tạm thời của cuộc khủng hoảng kinh tế sẽ khiến cho các ngân hàng gặp
khó khăn trong việc tìm kiếm khách hàng mới, dẫn đến việc cường độ cạnh tranh sẽ
tăng lên. Nhưng khi khủng hoảng kinh tế qua đi, với một thị trường tiềm năng còn
lớn như Việt Nam, các ngân hàng sẽ tập trung khai phá thị trường, tìm kiếm khách
hàng mới, dẫn đến cường độ cạnh tranh có thể giảm đi.
Cường độ canh tranh của các ngân hàng càng tăng cao khi có sự xuất hiện của
nhóm ngân hàng 100% vốn nước ngoài. Ngân hàng nước ngoài thường sẵn có một
phân khúc khách hàng riêng, đa số là doanh nghiệp từ nước họ. Họ đã phục vụ
tổ chức tín dụng thực hiện. Các tổ chức tín dụng bao gồm: ngân hàng thương mại
quốc doanh, ngân hàng thương mại cổ phần, ngân hàng liên doanh, chi nhánh ngân
hàng nước ngoài, hợp tác xã tín dụng, công ty tài chính. Tháng 12/1997 trước yêu
cầu cao của thực tiễn hai Pháp lệnh ngân hàng đã được Quốc hội nâng lên thành hai
luật về ngân hàng (có hiệu lực từ ngày 1/10/1998) và sau đó Luật NHNN và Luật
các TCTD được sửa đổi và bổ sung vào năm 2003, 2004.
Như vậy, hệ thống ngân hàng thương mại VN đã chính thức đánh dấu sự ra đời và
phát triển khoảng trên 19 năm (từ 1990 đến nay). Trải qua chặng đường trên, hệ
thống NHTM VN đã không ngừng phát triển về quy mô (vốn điều lệ không ngừng
NHÓM 13- LỚP K12KDN4 Trang 8
QUẢN TRỊ CHIẾN LƯỢC GVHD:Th.S SÁI THỊ LỆ THỦY
gia tăng, mạng lưới chi nhánh…), chất lượng hoạt động và hiệu quả trong kinh
doanh.
Mạng lưới ngân hàng thương mại VN đến cuối năm 2005 đã có những buớc phát
triển mạnh phủ khắp quận huyện và hình thành cả trong các trường học. Hệ thống
NHTM ở nước ta bao gồm: 5 NHTM nhà nước (Ngân hàng ngoại thương VN,
Ngân hàng đầu tư và phát triển VN, Ngân hàng công thương VN, Ngân hàng nông
nghiệp và phát triển nông thôn, Ngân hàng phát triển nhà đồng bằng sông Cửu
Long), 36 NHTM cổ phần đô thị và nông thôn, 29 chi nhánh ngân hàng nước ngoài,
04 ngân hàng liên doanh. Trong đó Ngân hàng nông nghiệp và phát triển nông thôn
VN có mạng lưới rộng nhất với hơn 100 chi nhánh cấp 1 và 2000 chi nhánh cấp 2-4
phủ khắp huyện và cả hệ thống ngân hàng lưu động.
Vốn điều lệ của các NHTM VN không ngừng gia tăng, NHTMNN sau nhiều lần bổ
sung vốn đã nâng tổng vốn chủ sở hữu của 05 NHTMNN lên trên 20.000 tỷ đồng
tăng gấp 3 lần so với thời điểm cuối năm 2000. Vốn điều lệ của NHTMCP được
gia tăng đáng kể từ lợi nhuận giữ lại, sáp nhập, các quỹ bổ sung vốn điều lệ, phát
hành thêm cổ phiếu… từ đó giúp tổng vốn điều lệ NHTMCP đến cuối năm 2005
tăng gấp 5 lần so với năm 2000, nhiều NHTMCP có vốn điều lệ trên 500 tỷ đồng-
1000 tỷ đồng.
Hệ thống NHTM VN đã có những đóng góp quan trọng cho sự ổn định và tăng
còn yếu...”. Vì vậy, để NHTM VN có thể đứng vững trong xu thế hội nhập, thực
hiện các cam kết trong thỏa thuận khung về dịch vụ trong khối ASEAN, các cam
kết trong Hiệp định thương mại song phương VN-Hoa Kỳ (BTA), và những nghĩa
vụ khi VN gia nhập Tổ chức thương mại thế giới WTO
3. Phân tích môi trường quốc gia và toàn cầu
a. Môi trường trong nước:
- về dân số và thói quen người tiêu dùng
Việt nam hiện có hơn 85 triệu người, trong đó hơn 75% là dân số trẻ. Lớp trẻ, từ 21
đến 29 tuổi, đóng vai trò chủ đạo trong việc định hình thị trường ngân hàng bán lẻ,
tuy nhỏ bé nhưng đang rất phát triển tại Việt Nam. So với thế hệ trước, những
người trẻ tuổi không ngại vay tiền ngân hàng và có xu hướng thích sử dụng kênh
phân phối sản phẩm theo kiểu “điều khiển từ xa”. Theo kết quả nghiên cứu 13.000
khách hàng của các ngân hàng trong khu vực thì khoảng cách về sở thích và và thói
quen tiêu dùng giữa 2 thế hệ ở Việt Nam có độ khác biệt rõ ràng hơn hẳn so với 11
nước châu Á khác.
NHÓM 13- LỚP K12KDN4 Trang 10
QUẢN TRỊ CHIẾN LƯỢC GVHD:Th.S SÁI THỊ LỆ THỦY
Mặc dù thị trường ngân hàng bán lẻ ở Việt Nam phát triển khá mạnh trong những
năm gần đây, nhưng qui mô vẫn còn khiêm tốn. Tài sản ngân hàng Việt Nam
khoảng 75 tỉ USD (khoảng 123%GDP) vào cuối năm 2006, trong khi đó, ở Thái
Lan là 226 tỉ USD (110% GDP) và ở Malaysia là 302 tỉ USD (195% GDP). Chỉ có
10% người dân Việt Nam có giao dịch với ngân hàng. Tuy nhiên, cũng như các khu
vực kinh tế khác, ngành ngân hàng Việt Nam sẽ tiếp tục tăng trưởng. Theo dự đoán,
doanh thu từ ngành ngân hàng bán lẻ sẽ tăng khoảng 25% mỗi năm trong vòng 5-10
năm tới. Việt Nam sẽ trở thành 1 trong những thị trường có tốc độ tăng trưởng
nhanh nhất châu Á nhờ vào nền kinh tế năng động có tốc độ tăng trưởng gần bằng
Trung Quốc và Ấn Độ, với mức thu nhập đầu người đang tăng và các dịch vụ ngân
hàng còn chưa thâm nhập sâu.
Theo kết quả của khảo sát, đối tượng từ 21 đến 29 tuổi tiếp cận với nhiều sản
phẩm ngân hàng hơn những đối tượng ngoài 29 tuổi; cụ thể 2,3 sản phẩm/người trẻ
Ngoài Pháp lệnh ngân hàng và các văn bản liên quan, việc thực hiện và giải quyết
các hợp đồng tín dụng khi đáo hạn còn chịu sự chi phối của Bộ Luật dân sự, Pháp
lệnh thủ tục giải quyết các vụ án kinh tế (26/03/1994), Pháp lệnh thi hành án
(17/04/1993), Luật Phá sản Doanh nghiệp… Do đó khi nợ đáo hạn, nếu con nợ mất
khả năng chi trả hoặc cố tình trốn tránh thanh toán nợ thì ngân hàng chỉ có con
đường hợp pháp duy nhất là khởi kiện trước tòa án có thẩm quyền. Vấn đề tố tụng
trước tòa án hiện nay quá nhiêu khê và thường kéo dài qua nhiều giai đoạn làm mất
nhiều thời gian, dễ dàng tạo điều kiện thuận lợi cho con nợ có ý đồ, đồng thời gây
thiệt hại lớn cho ngân hàng. Tình trạng này thường làm cho ngân hàng phải chịu
đọng vốn trong lúc ngân hàng phải chịu lãi suất cho người gửi. Đây là một thiệt hại
lớn cho ngân hàng chưa kể các chi phí phát sinh trong thủ tục tố tụng. Chính sách
tiền tệ của Ngân hàng đặc biệt là chính sách lãi suất, chính sách tín dụng đều có liên
quan và ảnh hưởng mạnh đến hoạt động ngân hàng. Khi ngân hàng Nhà nước hạ lãi
suất có thể dẫn đến các ngân hàng thương mại không thu hút được vốn tiền mặt và
có thể mất khả năng thanh toán.
- về công nghệ:
Công nghệ cao đang được áp dụng ngày càng nhiều trong kinh doanh, đặc biệt
trong các tổ chức cung ứng dịch vụ có liên quan đến việc giao dịch trực tiếp đối với
khách hàng như ngân hàng, môi giới chứng khoán, v.v… Công nghệ giao dịch với
công nghệ thông tin đã được các nước tiên tiến vận dụng và phát triển với tốc độ
cao trong lĩnh vực dịch vụ như thanh toán điện tử, InternetBanking, thanh toán Thẻ,
NHÓM 13- LỚP K12KDN4 Trang 12
QUẢN TRỊ CHIẾN LƯỢC GVHD:Th.S SÁI THỊ LỆ THỦY
chuyển tiền điện tử... nhằm nâng cao công suất dịch vụ, tiết kiệm chi phí nhân
công, chi phí cho dịch vụ, mở rộng giao diện với khách hàng và quản lý tốt hơn dữ
liệu về khách hàng, đáp ứng yêu cầu của khách hàng tốt hơn về chất lượng dịch vụ
cũng như thời gian. Sự hài lòng của khách hàng đối với dịch vụ giao dịch được
hiểu là sự thoả mãn của khách hàng trong khoảng thời gian giao dịch trực tiếp với
doanh nghiệp dịch vụ kể cả sự có mặt hoặc không có mặt của nhân viên doanh
nghiệp dịch vụ.