Nghiên cứu ảnh hưởng của xử lý vi sinh vật đệm lót trấu và mùn cwua tới môi trường chuồng nuôi và hiệu quả nuôi gà thịt - Pdf 29

ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM
––––––––––––––––––––
TRẦN VĂN MẾN
NGHIÊN CỨU ẢNH HƯỞNG CỦA XỬ LÝ
VI SINH VẬT ĐỆM LÓT TRẤU VÀ MÙN CƯA
TỚI MÔI TRƯỜNG CHUỒNG NUÔI VÀ
HIỆU QUẢ NUÔI GÀ THỊT
LUẬN VĂN THẠC SĨ NÔNG NGHIỆP
THÁI NGUYÊN - 2014
ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM
––––––––––––––––––––
TRẦN VĂN MẾN
NGHIÊN CỨU ẢNH HƯỞNG CỦA XỬ LÝ
VI SINH VẬT ĐỆM LÓT TRẤU VÀ MÙN CƯA
TỚI MÔI TRƯỜNG CHUỒNG NUÔI VÀ
HIỆU QUẢ NUÔI GÀ THỊT
Chuyên ngành: Chăn nuôi
Mã số: 60.62.01.05
LUẬN VĂN THẠC SĨ NÔNG NGHIỆP
Người hướng dẫn khoa học: TS. Nguyễn Thị Thúy Mỵ
THÁI NGUYÊN - 2014
i
LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan các số liệu và kết quả trình bày trong luận văn là
công trình nghiên cứu của tôi. Số liệu và kết quả hoàn toàn trung thực, chưa
từng được ai công bố, sử dụng để bảo vệ một học vị nào.
Tôi xin cam đoan mọi sự giúp đỡ cho việc thực hiện luận văn này đã
được cảm ơn và các thông tin trích dẫn đã được chỉ rõ nguồn gốc.
Tác giả luận văn

Chương 1: TỔNG QUAN CÁC VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 3
1.1. Tổng quan tài liệu 3
1.1.1. Cơ sở khoa học 3
1.1.2. Tiêu chuẩn vệ sinh đối với tiểu khí hậu chuồng nuôi gà 19
1.1.3. Giới thiệu về đệm lót lên men vi sinh vật trong chăn nuôi gà 22
1.1.4. Vài nét về gà thí nghiệm 24
1.2. Tình hình nghiên cứu trong và ngoài nước 25
1.2.1. Tình hình nghiên cứu trong nước 25
1.2.2. Tình hình nghiên cứu ngoài nước 28
Chương 2: ĐỐI TƯỢNG, ĐỊA ĐIỂM, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP
NGHIÊN CỨU 31
2.1. Đối tượng,
đ
ịa
đ
iểm và thời gian nghiên cứu 31
2.1.1.
Đối
tượng 31
2.1.2.
Địa
điểm và thời gian nghiên cứu 31
2.2. Nội dung nghiên cứu 31
2.2.1. Đánh giá ảnh hưởng của chất liệu đệm lót khác nhau đến số lượng vi khuẩn
E.coli, Salmonella, Coliform và nồng độ một số khí độc: NH
3
, CO
2
, H
2

v
3.5. Năng suất thịt của gà thí nghiệm 58
3.6. Hiệu quả kinh tế của gà thí nghiệm 59
3.6.1. Chỉ số sản xuất PI (Peroformance - Index) 59
3.6.2. Chỉ số kinh tế EN (Economic Number) 60
3.6.3. Chi phí trực tiếp cho 1 kg gà 62
KẾT LUẬN VÀ
ĐỀ
NGHỊ 64
1. Kết luận 64
2. Đ

nghị 65
TÀI LIỆU THAM KHẢO 66
vi
DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT
BNN&PTNT : Bộ nông nghiệp và phát triển nông thôn
ĐVT : Đơn vị tính
ĐHNN : Đại học nông nghiệp
EN : Chỉ số kinh tế

: Giai đoạn
LTĂTN : Lượng thức ăn thu nhận
ME : Metabolizable
KHCN : Khoa học công nghệ
KHNN : Khoa học nông nghiệp
KPH : Không phát hiện
ppb : Phần tỷ
PI : Chỉ số sản xuất
ppm : Phần nghìn

2
trong chuồng nuôi. 40
Bảng 3.4. Ảnh hưởng của chế phẩm sinh học Banasa N01 tới số lượng vi khuẩn
Coliform, E.coli, Salmonella trong đệm lót chuồng nuôi 42
Bảng 3.5. Tỷ lệ mắc bệnh của gà thí nghiệm 43
Bảng 3.6. Tỷ lệ nuôi sống cộng dồn của gà thí nghiệm qua các tuần thí nghiệm
n=3 đàn 45
Bảng 3.7. Khả năng sinh trưởng tích lũy của gà thí nghiệm 46
Bảng 3.8. Sinh trưởng tuyệt đối của gà thí nghiệm 49
Bảng 3.9. Sinh trưởng tương đối của gà thí nghiệm 51
Bảng 3.10. Khả năng thu nhận thức ăn của gà thí nghiệm 53
Bảng 3.11. Tiêu tốn thức ăn cộng dồn/kg tăng khối lượng của gà thí nghiệm 54
Bảng 3.12. Tiêu tốn năng lượng cộng dồn/kg tăng khối lượng 56
Bảng 3.13. Tiêu tốn protein cộng dồn/kg tăng khối lượng 56
Bảng 3.14. Kết quả mổ khảo sát gà thí nghiệm ở 10 tuần tuổi 58
Bảng 3.15. Chỉ số sản xuất của gà thí nghiệm 59
Bảng 3.16. Chỉ số kinh tế của gà thí nghiệm 61
Bảng 3.17. Sơ bộ hoạch toán 62
viii
DANH MỤC CÁC HÌNH
Hình 3.1. Đồ thị sinh trưởng tích lũy của gà thí nghiệm qua các tuần tuổi 47
Hình 3.2. Biểu đồ sinh trưởng tuyệt đối của gà thí nghiệm 49
Hình 3.3. Biểu đồ sinh trưởng tương đối của gà thí nghiệm 51
Hình 3.4. Biểu đồ tiêu tốn thức ăn cộng dồn/kg tăng khối lượng của gà thí nghiệm 54
Hình 3.5. Biểu đồ chỉ số sản xuất của gà thí nghiệm 60
Hình 3.6. Biểu đồ chỉ số kinh tế của gà thí nghiệm 61
1
MỞ ĐẦU
1. Đặt vấn đề
Trong quá trình phát triển và hội nhập với nền kinh tế khu vực và quốc tế,

trường đang ngày một nghiêm trọng, đặc biệt là môi trường không khí. Mùi và bụi
sinh ra trong quá trình chăn nuôi gia cầm đã gây ảnh hưởng nghiêm trọng đến môi
trường sống và sức khoẻ cộng đồng (Trịnh Xuân Báu và Đặng Kim Chi, 2008)[1].
Một số biện pháp xử lý ô nhiễm đã và đang sử dụng như thu gom chất thải
hàng ngày, dọn rửa chuồng, sử dụng bể biogas, ủ phân, làm thức ăn cho cá đã
phần nào giải quyết được vấn đề phân và chất thải chăn nuôi. Tuy nhiên trong chăn
nuôi trang trại với số lượng lớn vấn đề ô nhiễm mùi và các khí thải độc hại thì vẫn
chưa được giải quyết triệt để.
Vì vậy, việc đề xuất các giải pháp cải thiện môi trường trang trại chăn nuôi
gia cầm là cần thiết, đáp ứng được xu thế phát triển và bảo vệ môi trường.
Để có thể xử lý phân, chất thải chăn nuôi một cách triệt để, tạo môi trường
trong sạch mà tiêu tốn ít tiền và nhân công, không phải thực hiện vệ sinh hàng ngày
thì một trong những giải pháp hiệu quả là sử dụng chế phẩm vi sinh vật để xử lý
chất đệm lót nền chuồng nuôi, nhằm làm giảm mùi hôi, phân huỷ phân, chất thải
ngay tại chỗ. Đây là một trong những công nghệ chăn nuôi sinh thái, đã và đang
được áp dụng ở nhiều nước có nền chăn nuôi phát triển. Tuy nhiên, cho đến nay vẫn
chưa có kết quả nghiên cứu nào về ảnh hưởng của các chất độn chuồng khác nhau
có bổ sung chế phẩm sinh học đến khả năng sản xuất của gà thịt, để từ đó có những
khuyến cáo cho người chăn nuôi. Trước nhu cầu của sản xuất và để có sở cứ khoa
học giúp người chăn nuôi nâng cao hiệu quả kinh tế, chúng tôi tiến hành nghiên cứu
đề tài: “Nghiên cứu ảnh hưởng của xử lý vi sinh vật đệm lót trấu và mùn cưa tới
môi trường chuồng nuôi và hiệu quả nuôi gà thịt".
2. Mục tiêu của đề tài
- Đánh giá được ảnh hưởng của chất liệu đệm lót khác nhau đến môi trường
và hiệu quả chăn nuôi gà thịt.
- Đánh giá được ảnh hưởng của xử lý vi sinh vật đệm lót tới môi trường
chuồng nuôi và hiệu quả chăn nuôi gà thịt.
3
Chương 1
TỔNG QUAN CÁC VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU

Trâu
Con
2.600.000
15,0
14.235.000.000
Lợn
Con
26.300.000
2,0
19.199.000.000
Gia cầm
Con
314.700.000
0,2
22.973.100.000
Dê, cừu
Con
1.777.638
1,5
973.256.805
Ngựa
Con
103.481
4,0
151.082.260
Hươu
Con
31.539
2,5
28.779.337,5

, H
2
S và bụi tăng dần theo thời gian sinh trưởng của đàn gia cầm và cao hơn rất
nhiều so với tiêu chuẩn không khí cho môi trường xung quanh.
Theo kết quả điều tra của Phùng Đức Tiến và cs (2009) [20], tình hình xử lý
chất thải trong chăn nuôi gia cầm rất thấp: tỷ lệ hộ có khu xử lý chất thải chỉ đạt
15%, gia trại 37,5 % trang trại 35,71%, trong khu xử lý đa phần lại sát với khu chăn
nuôi là 100%. Các tác giả cũng cho biết, trong chăn nuôi gia cầm cả loại hình trang
trại và gia trại sử dụng biogas là rất thấp chỉ có là 3,57- 12%. Số hộ ủ phân tươi
tương ứng là 13,33; 15,63 và 3,57%. Số hộ ủ có độn tương ứng là 13,33; 12,50 và
17,86%. Trong đó chăn nuôi trang trại với lượng phân lớn cho nên số hộ bán phân
chỉ chiếm cao nhất là 25%. Còn một tỷ lệ khá lớn phân và chất thải lỏng không
được xử lý thải trực tiếp ra sông, suối và đất.
5
Mức độ ô nhiễm không khí và nước thải đều ở mức báo động. Nồng độ các
khí thải độc hại từ trang trại và các nông hộ chăn nuôi gà đều vượt ngưỡng cho
phép. E. coli và Salmonella đều được phát hiện trong nước thải với tỷ lệ mẫu dương
tính cao, đặc biệt ở xu thế chăn nuôi gia trại và trang trại có mức độ ô nhiễm cao
hơn (Phùng Đức Tiến và cs 2009 [20]).
Đối với các cơ sở chăn nuôi, các chất thải gây ô nhiễm môi trường có ảnh
hưởng trực tiếp tới sức khỏe con người, làm giảm sức đề kháng vật nuôi, tăng tỷ lệ
mắc bệnh, năng suất bị giảm, tăng các chi phí phòng trị bệnh, hiệu quả kinh tế của
chăn nuôi không cao Attar và Brake, (1988) [27]. Từ cuối năm 2003, dịch cúm gia
cầm đã bùng phát tại Việt Nam, qua 10 năm, dịch đã tái phát nhiều đợt, đã phải tiêu
huỷ hàng trăm triệu gia cầm các loại, thiệt hại ước tính lên đến hàng ngàn tỷ đồng.
Đặc biệt nguy hiểm là bệnh có thể lây sang người. Theo tổ chức y tế thế giới, từ tháng
12 năm 2003 đến tháng 5 năm 2009 đã có 258 người tử vong do cúm gia cầm, trong
số 423 ca nhiễm H
5
N

và nước.
Như vậy có thể thấy một lượng nhỏ chất dinh dưỡng trong phân cần cho quá
trình trao đổi chất tế bào sẽ được vi sinh vật hấp thu làm chất dinh dưỡng cho sự
sinh trưởng phát triển của chúng, đặc biệt trong đó có sự sinh tổng hợp thành
protein của tế bào, còn phần lớn các chất dinh dưỡng bị phân giải tạo năng lượng,
giải phóng ra CO
2
, nước và một số hợp chất hữu cơ khác nhau.
Các chất khí mà trong đó chủ yếu là khí CO
2
và nước sẽ bị tán phát vào
không khí. Một lượng nhỏ hợp chất hữu cơ như các axit hữu cơ, rượu, aldehyd,
ester… và một số chất khoáng hữu cơ sẽ tích lại trong đệm lót và dần cũng bị lợi
dụng hoặc phân hủy.
Sự khử mùi hôi và khí độc
Việc khử mùi hôi và khí độc trong đệm lót là do tác dụng hấp phụ vật lý của
đệm lót và của ánh sáng, nhưng tác dụng khử mùi thối của vi sinh vật hữu ích sử
dụng trong chế phẩm vi sinh tổng hợp mới là chủ yếu.
Vấn đề khử mùi hôi và khí độc được đặt ra mạnh trong những năm gần đây
khi chăn nuôi phát triển với tốc độ nhanh gây ô nhiễm lớn môi trường chăn nuôi.
Trong chuồng nuôi tích tụ nhiều khí độc như NH
3
, CH
4
, N
2
O, H
2
S, CO
2

- Khống chế nguồn phát sinh khí: Sử dụng dịch lên men để lên men thức ăn
gia súc sẽ tăng cường sự tiêu hóa hấp thu thức ăn, nên một mặt làm giảm lượng
phân thải ra mặt khác làm giảm thải các chất dinh dưỡng (protein axit amin ) trong
phân, do đó làm giảm sự hình thành các khí thối độc.
+ Tác dụng khử khử mùi hôi và khí độc quan trọng nhất là do vi sinh vật. Vi
sinh vật có ích thực hiện sự giảm mùi theo hai cách:
+ Ức chế và khử vi khuẩn có hại, lên men gây thối trong đệm chuồng do tác
dụng cạnh tranh của vi sinh vật có lợi.
Trong thành phần của tổ hợp vi sinh vật được đưa vào xử lý đệm chuồng có
những chủng có thể sử dụng các khí độc làm nguồn dinh dưỡng cho sự sinh trưởng
phát triển của mình, do đó mà góp phần làm giảm nhanh khí độc trong đệm lót
(phân mới thải ra đã có nhiều khí thối độc do sự lên men của các vi khuẩn thối rữa
trong ruột già động vật).
Sự lên men oxy hóa của vi sinh vật để phân giải phân thành các chất không có
mùi. Đó là sự oxy hóa triệt để các chất dinh dưỡng trong phân để thu năng lượng và
tạo ra CO
2
và nước. Nhờ đó mà có thể giảm lượng lớn khí độc trong chuồng nuôi.
1.1.1.2.2. Duy trì sự cân bằng sinh thái vi sinh vật trong chuồng nuôi
Các chế phẩm vi sinh sử dụng để xử lý phân và rác thải động vật thường bao
gồm một tập hợp các vi sinh vật được chọn lọc rất nghiêm ngặt theo các tiêu chí về
đặc điểm sinh hóa học cụ thể. Một trong những tiêu chí quan trọng là giữa chúng
phải có được mối quan hệ cộng sinh và hỗ sinh để từ đó tạo ra sự cân bằng sinh thái
trong môi trường mà chúng tồn tại.
8
Nếu giữa các chủng vi sinh vật không có được mối quan hệ tương hỗ thì chắc
chắn tổ hợp vi sinh vật được chọn lọc và tập hợp sẽ bị phá vỡ trong một thời gian
ngắn. Bởi lẽ sự phát triển độc lập của từng chủng trong môi trường nhiều chất thải
sẽ chịu sự tác động của nhiều yếu tố, trong đó có cả sự canh tranh ngay trong các
chủng của tổ hợp với nhau và sự cạnh tranh của nhiều vi khuẩn có hại có mặt trong

vi sinh vật có ích so với vi sinh vật có hại còn lớn hơn, càng là sự đảm bảo cho sự
chiếm ưu thế vi sinh vật có ích để loại trừ vi khuẩn có hại. Điều này cho thấy lợn
nuôi trên đệm lót lên men rất ít bị bệnh và nếu lợn có ăn đệm lót cũng sẽ không có
hại gì. Đây chính là nguyên tắc lấy số đông để tiêu diệt vi khuẩn gây bệnh, nhưng
cần phải đảm bảo đệm lót có độ dầy nhất định.
Xét về tỷ số giữa vi sinh vật có ích và vi sinh vật có hại là một tỷ số áp đảo,
chắc chắn vi sinh vật bị tiêu diệt, môi trường sạch ít bị bệnh. Vì vậy nếu lợn có ăn
đệm lót cũng không có hại trái lại có lợi do sinh kháng thể không đặc hiệu từ vi
khuẩn gây bệnh đã giảm hoạt lực.
Sự lên men của các vi sinh vật có ích
Người ta đã từng lấy mẫu trong các bể biogas lên men tốt để phân lập thì
không tìm thấy vi khuẩn gây bệnh. Từ thực tế nuôi dưỡng, người ta nhận thấy sử
dụng các thức ăn lên men bằng các chế phẩm sinh học để chăn nuôi thì con vật rất ít
bị bệnh, điều này có thể giải thích là do các vi sinh vật gây bệnh đã bị tiêu diệt trong
quá trình lên men. Vậy thì quá trình lên men trong đệm lót của các vi sinh vật có ích
đã tiêu diệt các vi sinh vật có hại và gây bệnh trong phân và từ ngoài nhiễm vào
đệm lót, làm giảm nguy cơ mắc bệnh cho con vật. Quá trình tiêu diệt chúng do các
tác nhân sau:
Sự tiêu diệt các vi sinh vật gây bệnh do các sản phẩm của trao đổi chất
Trong quá trình lên men, các vi sinh vật có ích đã làm hình thành các axit
hữu cơ làm tăng độ axit của môi trường, sự hình thành các chất có hoạt tính kháng
sinh (bacterioxin) của Streptococcus lactis, Lactobacterium planetarium, Bacillus
licheniformis…; sự hình thành ethylic, H
2
O
2
… đã tiêu diệt hầu như toàn bộ vi
khuẩn có hại. Đây chính là cơ chế của lên men diệt các vi khuẩn có hại, mà chỉ có
thông qua sự lên men này mới có thể diệt được các nha bào của các vi khuẩn gây
bệnh khó bị tiêu diệt.

S), khí hiếm và hơi nước
(H
2
O). Trong quá trình sống, gà hít O
2
và thở ra CO
2
và H
2
O. Theo Hulzebosch,
2004)[43], sự thiếu oxy ít khi xảy ra trong chuồng nuôi gia cầm bởi vì gia cầm có
thể hít đủ lượng oxy cần thiết ngay cả khi nồng độ oxy trong không khí thấp hơn
đáng kể so với bình thường. Những gì được gọi là thiếu oxy trong thực tế chỉ xảy ra
khi có sự kết hợp của nồng độ CO
2
cao, nhiệt độ và độ ẩm cao. Sự thiếu hụt oxy ảnh
hưởng xấu đến sự điều tiết nhiệt và các quá trình trao đổi chất gia cầm nếu nhiệt độ
thấp. Nếu nhiệt độ cao mà thiếu oxy thì gây nguy hiểm cho hệ tim mạch vì nó làm
giảm khả năng điều tiết nhiệt của cơ thể.
Khí CO
2
được sinh ra trong quá trình thở và các quá trình phân hủy của vi
sinh vật. Trong không khí thở ra của gà chứa gần 4% CO
2
. Các chuồng nuôi có mật
độ đông, thông khí kém, không khí bị bão hòa, khí CO
2
có thể vượt quá tiêu chuẩn
cho phép (Hoàng Thu Hằng, 1997, [11]). Nồng độ khí CO
2

ngửi thấy ở nồng độ từ 5-18 ppm. Khí NH
3
có thể tồn tại trong không khí trong
khoảng 14-36 giờ tùy thuộc vào điều kiện thời tiết và nó có thể bay xa tới 500 m kể từ
nơi chứa phân (Fowler và cs, 1998 [36]).
Gia cầm tiếp xúc với khí NH
3
ở nồng độ 20 -25ppm trong 8 giờ dẫn đến hậu
quả là làm mất lớp lông nhung ở khí quản và làm biến đổi lớp tế bào biểu mô của
đường hô hấp (Nagaraja và cs, 1984 [45]). Nếu gia cầm tiếp xúc trong một thời gian
dài thì sẽ làm tăng nguy cơ mắc các bệnh về đường hô hấp.
Khi nuôi gà ở chuồng nuôi có hàm lượng khí NH
3
là 25 ppm sẽ làm giảm
hàm lượng hemoglobin, giảm trao đổi khí và hấp thu các chất dinh dưỡng giảm dẫn
đến khối lượng cơ thể của gà sẽ giảm 4%. Khi hàm lượng khí 75-100ppm, gây
những biến đổi trong biểu mô đường hô hấp, làm mất lớp vi mao và tăng số lượng
của tế bào tiết màng nhầy, nhịp tim và hô hấp bị ảnh hưởng và có thể gây chảy máu
trong các túi khí phế quản (Lại Thị Cúc, 1994 [6]).
Amoniac có thể hòa tan vào trong nước, do vậy có thể xâm nhập vào màng
nhày trong mắt và đường hô hấp. Lượng NH
3
≥ 100ppm có thể gây loét niêm mạc, gây
mù mắt với các dấu hiệu của sự tăng tích nước mắt, thở nông và những tổn thương ở
12
mũi (Hulzebosch, 2004 [40]). Nồng độ này cũng làm tỷ lệ tăng trọng, khả năng thu
nhận thức ăn, tỷ lệ đẻ, khối lượng trứng của gà đẻ giảm (Amer và cs, 2004 [25]).
Hàm lượng NH
3
trong không khí chuồng nuôi phụ thuộc vào nhiều yếu tố

2
S sinh ra được giữ lại
trong chất lỏng của nơi lưu giữ phân. H
2
S là một khí độc có mùi rất khó chịu, với
nồng độ thấp nó cũng gây độc, ở nộng độ cao H
2
S gây viêm phổi cấp tính kèm theo
thủy thũng (Hulzebosch, 2004) [40]. Không khí chứa trên 1mg/l H
2
S sẽ làm cho con
vật chết ở trạng thái độ cấp, liệt trung khu hô hấp và hệ mạch. Tốc độ thải H
2
S lớn
đặc biệt trong quá trình dọn vệ sinh chuồng trại (thu dọn phân) thì H
2
S sẽ được thải
ra ngoài không khí nhiều. Điều này giả thích vì sao phải sự dụng quạt thông gió ở
mức độ tối đa khi dọn phân trong chuồng.
Tác động của H
2
S đối với sức khỏe của vật nuôi: gây kích ứng mắt, viêm cục
bộ màng mắt và đường hô hấp (Curtis, 1983) [34]. Tác động gây kích ứng của H
2
S
ít hay nhiều đều giống nhau qua đường hô hấp mặc dù cấu trúc của lớp phổi có thể
dễ bị ảnh hưởng nhất. Viêm phổi lớp sâu thường dẫn đến phù phổi. H
2
S có thể được
13

khí càng cao thì NH
3
càng dễ đi vào không khí. Khí amonia và hydrosulfua có mối
tương quan với độ ẩm chuồng nuôi. Do vậy, việc tạo môi trường sạch sẽ, thoáng
mát cho gia súc, gia cầm là một việc làm hết sức quan trọng. Ngoài ra, nồng độ các
khí độc trong chuồng nuôi còn phụ thuộc vào chất lượng vật liệu xây dựng, trang
thiết bị, hệ thống sưởi, hệ thống giàn mát, hệ thống cống rãnh, quá trình sản xuất và
kỹ thuật vệ sinh môi trường. Vì vậy, cần phải có những biện pháp làm giảm nồng
độ các khí độc trong chuồng nuôi như: Khí CO
2
, NH
3
, H
2
S… là tối cần thiết và cấp
bách trong điều kiện Việt Nam hiện nay (Nguyễn Thị Mai và cs, 2009) [18].
Bụi và các vi sinh vật trong không khí chuồng nuôi
Trong chuồng nuôi ngoài các thành phần khí độc còn có một lượng lớn bụi
và vi sinh vật. Hệ vi sinh vật có mặt trong không khí chuồng nuôi có nguồn gốc từ
mặt đất, phân khô, chất đệm chuồng, từ da lông vật nuôi, cùng với bụi bay vào
không khí và càng nhiều bụi, không khí càng có nhiều vi sinh vật. Các vi sinh vật có
mặt trong không khí chuồng nuôi gồm vi khuẩn, nấm mốc và các độc tố
14
Sự tạo thành bụi trên lớp đệm lót chuồng phụ thuộc vào nhiệt độ, độ ẩm,
nguyên liệu được dùng làm đệm lót, thời gian sử dụng lớp đệm lót và sự hoạt động
của gà (Hoàng Thu Hằng, 1997) [11].
Ngoài tác dụng gây hại về mặt cơ học và hóa học tới lớp màng nhầy đường
hô hấp của gà, bụi còn là vật thuyên chuyển nhiều vi sinh vật gây bệnh, dưới các
dạng hạt sương vi khuẩn lắng đọng trên các hạt bụi và bị khô lại, tạo ra bụi vi khuẩn
do dòng chuyển động của không khí được tạo nên bởi hoạt động của con người

lượng cơ thể, phương thức nuôi, thức ăn, độ ẩm, mức độ thoáng khí…(Hulzebosch,
2004) [40]. Nhiệt độ gây chết phụ thuộc vào các giống gà, giới tính, thời gian trong
năm và sự thuần hóa trước đó, thay đổi từ 45 - 47
0
C. Theo Hulzelbosch, (2004) [40]
khuyến cáo, nhiệt độ thích hợp cho gà đẻ là 20
0
C. Ở mỗi mức nhiệt độ thấp hơn 1
0
C
thì mỗi con gà sẽ cần thêm 1,5g thức ăn mỗi ngày. Mức nhiệt độ sản xuất cho gà đẻ
là 20-24
0
C. Khi nhiệt độ cao hơn 24
0
C thì chất lượng vỏ trứng và trọng lượng trứng
giảm. Đối với gà thịt mức nhiệt độ thích hợp phụ thuộc vào lứa tuổi.
Khả năng chống lại khí nóng phụ thuộc vào từng giống gà: giống gà nhẹ cân
có thể chịu nóng tốt hơn giống gà nặng cân. Độ nhiệt của môi trường giảm làm tăng
sự thoát nhiệt của gà, gà điều tiết bằng cách tăng cường hoạt động của tuyến giáp
trạng và cường độ trao đổi chất. Nhìn chung gà chịu đựng khí hậu lạnh tương đối
tốt. Khả năng sản xuất tăng cao trước hết không phải do sự ổn định của nhiệt độ và
độ ẩm không khí mà do tác động ổn định của tiểu khí hậu thuận lợi.
Nhiệt độ thấp cũng ảnh hưởng đến khả năng tăng trọng, tiêu tốn thức ăn
của gà (Simaraks, 2004 [23]; Cahaner và Leenstra, 1992 [31]; Deaton và cs, 1996
[35]; Aengwanich và Simaraks, 2004 [23]). Theo Deaton và cs, 1996 [35], nhiệt
độ thấp ảnh hưởng tới tăng trọng, tiêu tốn thức ăn và tỷ lệ chết của gà. Các tác giả
cho biết trong 3 tuần tuổi đầu gà nuôi với mức nhiệt độ 26-23-21
0
C thì khối lượng


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status