MỤC LỤC
Lời mở đầu
I. Lý thuyết bộ ba bất khả thi
1. Nguon goc bộ ba bat khả thi
2. Định nghı̃a
3. Ba nhân to của bộ ba bat khả thi
3.1. Chính sách tiền tệ độc lập
3.2. On địnhtỷ giá
3.3. Hội nhập tài chı́nh (tự do hóa dòng von)
II. Sự kết hợp ba nhântố của bộ ba bất khả thi
III. Thực tiễn ứng dụng bộ ba bất khả thi trên thế giới
Trên the giới: Mỹ, Châu Au, Trung Quoc: thực tien và đánh giá
IV.Thực tiễn ứng dụng bộ ba bất khả thi ở Việt Nam
1. Thực tiễn và đánh giá
2. Tác động của bộ ba bat khả thi ở Việt Nam
2.1. Lạm phát
2.2. Lãi suat
2.3. Thị trường chứng khoán
3. Bài học kinh nghiệm cho Việt Nam :
3.1 . Trong điều hành chính sách tiền tệ
3.2 . Trong hội nhập tài chı́nh
3.3 . Trong đieu hành tỷ giá
Kết luận
Lý thuyết bộ ba bất khả thi là một lý thuyết nền tảng, phổ biến trong kinh
tế vĩ mô. Trong bối cảnh hiện nay, những bất ổn của nền kinh tế đã và
đang tác động sâu sắc từng ngành nghề, khi đề cập tới chính sách tiền tệ
của Ngân hàng Trung Ương, một trong những lý thuyết kinh tế học được
quan tâm và suy xét cẩn trọng đó là: Lý thuyết bộ ba bất khả thi. Đây cũng
là lý do chính chúng tôi thực hiện tiểu luận này, tập trung tìm hiểu các
khía cạnh chính của lý thuyết bộ ba bất khả thi.
I. Lý thuyết bộ ba bất khả thi
Tự do hóa dòng vốn.
-
Chính sách tiền tệ độc lập.
“Bạn không thể có đồng thời tất cả: một quốc gia chỉ có thể chọn tối
đa 2 trong 3. Nó có thể chọn một chính sách ổn định tỷ giá nhưng phải hi
sinh tự do hóa dòng vốn tức là tiếp tục kiếm soát vốn (giống như Trung
Quốc ngày nay), nó có thể chọn một chính sách tự do hóa dòng vốn nhưng
vẫn tự chủ về tiền tệ, song phải để tỷ giá thả nổi (giống như Anh hoặc
Canada), hoặc nó có thể chọn kiểm soát vốn và ổn định chính sách tiền tệ ,
nhưng phải thả nổi lãi suất để chống lạm phát hoặc suy thoái (giống như
Achentina hoặc hầu hết Châu Âu)" - trích lời đề tặng Robert Mundell -
Paul Krugman, 1999.
3. Ba nhân tố của bộ ba bất khả thi
3.1. Chính sách tiền tệ độc lập
Chính sách tiền tệ độc lập được hiểu là khả năng NHTW có thể chủ
động thực thi các công cụ chính sách tiền tệ thích hợp với các mục tiêu đã
xác định – ví dụ khi nền kinh tế quá nóng, NHTW có thể tăng lãi suất và
giảm cung tiền; hay khi nền kinh tế suy thoái, NHTW có thể giảm lãi suất
và tăng cung tiền, mà không bị tác động và ảnh hưởng bởi các yếu tố khác
như biến động dòng vốn vào ra nền kinh tế.
Chính sách tiền tệ độc lập cho phép gia tăng hiệu quả chính sách khi các
công cụ chính sách đưa ra có thể tác động đến kết quả của nền kinh tế
theo định hướng mục tiêu mong muốn.
3.2. Ổn định tỷ giá
Tỷ giá hay tỷ giá hối đoái là tỷ lệ trao đổi giữa các đồng tiền với nhau.
Ví dụ tỷ giá trao đổi giữa đồng tiền Việt Nam (Việt Nam đồng) và đô-la Mỹ
vào khoảng 21.230 VND/USD ở thời điểm hiện tại. Tỷ giá này bị ảnh
hưởng bởi cung và cầu giữa đồng tiền trong nước và đồng ngoại tệ.Ví dụ,
ở trạng thái hiện tại tỷ giá trao đổi giữa VND và USD ở mức nêu trên,
nhưng do một lý do nào đó, đồng ngoại tệ đột ngột đổ vào Việt Nam và
Tại nước ta, Ngân hàng nhà nước Việt Nam định nghĩa như sau:
Tự do hoá dòng vốn (còn có tên gọi khác là tự do hoá tài khoản vốn
hay tự do hoá thị trường vốn) là quá trình giảm thiểu và dỡ bỏ dần các
biện pháp hạn chế giao dịch vốn ở thị trường, giảm thiểu sự can thiệp trực
tiếp của Chính phủ vào các quyết định phát hành và đầu tư vốn trên thị
trường chứng khoán, là việc cho phép rộng rãi các ngân hàng và các nhà
đầu tư nước ngoài tham gia các giao dịch chứng khoán ở thị trường trong
nước, là quá trình dỡ bỏ kiểm soát các luồng vốn vào và luồng vốn ra khỏi
nền kinh tế.
Trong đó:
- Các luồng vốn vào gồm:
+ Các khoản đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI), bao gồm vấn đề
chuyển tiền và rút vốn của quỹ đầu tư, trả cổ tức, thanh toán hoàn trả các
khoản vay trực tiếp với nước ngoài của các dự án FDI;
+ Các luồng vốn vào được đầu tư theo danh mục qua TTCK
(Portfolio investment inflows), bao gồm vấn đề chuyển tiền vào và rút
vốn ra, về vay nợ, cổ phần, cho vay ngoại tệ đối với công dân nước sở tại;
- Các luồng vốn ra gồm:
+ Luồng vốn FDI ra nước ngoài, bao gồm cả việc mua sắm của các
công dân nước sở tại;
+ Luồng vốn ra được đầu tư theo danh mục qua TTCK (Portfolio
investment outflows), vấn đề sở hữu trái phiếu bằng đồng nội tệ của
người nước ngoài và luồng vốn ra của các khoản vay bằng ngoại tệ;
Ta có thể xem xét định nghĩa về tự do hoá dòng vốn của ngân hàng
Nhà nước Việt Nam như sau:
Quá trình giảm thiểu và dỡ bỏ dần các biện pháp hạn chế giao dịch
vốn ở thị trường.
Điều này nhằm tạo điều kiện cho dòng vốn được lưu thông trên thị
trường từ đó phát huy tối đa vai trò, chức năng của vốn. Vì nếu vốn không
được đem ra giao dịch rộng rãi, quay vòng thì đồng vốn đó đã không được
Hình bên minh họa nguyê
n
tắc hoạt động của bộ ba bất khả
thi. Mỗi cạnh thể hiện cho các
mục tiêu tốt nhất, lần lượt là:
chính sách tiền tệ độc lập, ổ
n
định tỷ giá và hội nhập tài chí
nh
hoàn toàn. Đối nghịch với mỗ
i
cạnh (hay mỗi mục tiêu) là các công cụ chính sách tại các đỉnh.Mục tiêu
hội nhập tài chính đối ngược với đỉnh kiểm soát vốn, mục tiêu ổn định tỷ
giá đối ngược với đỉnh thả nổi hoàn toàn, mục tiêu chính sách tiền tệ độc
lập đối ngược với đỉnh liên minh tiền tệ.Bất kỳ cặp mục tiêu nào cũng có
thể đạt được bởi một đỉnh nằm giữa và một quốc gia hoàn toàn không
khả thi để đạt được đồng thời cả ba mục tiêu. Cụ thể:
Ổn định tỷ giá và hội nhập tài chính được kết hợp bằng cách lựa
chọn chế độ tỷ giá cố định nhưng phải từ bỏ độc lập tiền tệ. Điều này có
nghĩa chính phủ đã mất đi một công cụ để điều chỉnh lãi suất trong nước
độc lập với lãi suất nước ngoài.
Độc lập tiền tệ và hội nhập tài chính được kết hợp bằng cách lựa
chọn chế độ tỷ giá thả nổi.Với lựa chọn này, chính phủ (NHTƯ) được
quyền tự do ấn định lãi suất nhưng đổi lại tỷ giá phải vận hành theo
những nguyên tắc của thị trường.
Ổn định tỷ giá và độc lập tiền tệ được kết hợp bằng cách lựa chọn thị
trường vốn đóng hay chính phủ phải thiết lập kiểm soát vốn hoàn toàn.
Khi có kiểm soát vốn, mối liên hệ giữa lãi suất và tỷ giá sẽ bị phá vỡ.
III. Bộ ba bất khả thi ở các nước
Nước Mỹ chọn hai mục tiêu đó là sử dụng chính sách tiền tệ và lưu
và tự do lưu chuyển vốn. Chỉ có thể thực hiện đồng thời hai trong ba
chính sách này mà thôi.
IV.Thực tiễn ứng dụng bộ ba bất khả thi ở Việt Nam
1. Thực tiễn và đánh giá :
Thực tiễn phát triển kinh tế thế giới trong thời gian vừa qua đã cho
thấy rõ tác động của việc giám sát tài chính - tiền tệ kém hiệu quả đã ảnh
hưởng nặng nề đến phát triển kinh tế của các nước. Việt Nam đang và sẽ
phải làm nhiệm vụ "kép", tức vừa phải tái cơ cấu để nền kinh tế có thể
phát triển theo chiều sâu, có hiệu quả với sức cạnh tranh, vừa phải tăng
cường giám sát đảm bảo an toàn tài chính - tiền tệ cho quá trình này.
Việc hoàn thiện và nâng cao năng lực giám sát an toàn vĩ mô thị
trường tài chính ở Việt Nam là một yêu cầu cấp thiết, trong đó nhiệm vụ
đầu tiên là cần xây dựng một chính sách an toàn vĩ mô phục vụ việc giám
sát an toàn vĩ mô dựa trên các tiêu chí, công cụ, phương pháp giám sát
hiện đại đang được nhiều nước trên thế giới áp dụng.
Thị trường phát triển nhanh chóng đã kéo theo nhiều bất cập, trình độ
quản trị điều hành, giám sát từng định chế và toàn bộ thị trường chưa bắt
kịp với tốc độ phát triển nhanh chóng của thị trường tài chính. Bên cạnh đó,
vẫn tồn tại khoảng cách lớn của Việt Nam với chuẩn mực an toàn và giám
sát tài chính của khu vực và thế giới. Minh chứng cho sự hạn chế này là đã
có không ít các loại hình hoạt động mang bản chất ngân hàng nhưng chưa
được quy định trong khuôn khổ kiểm soát của các cơ quan quản lý. Đó là
các tập đoàn tài chính với mô hình công ty mẹ là ngân hàng thương mại
(NHTM) và các công ty con, công ty liên kết là các công ty chứng khoán,
bảo hiểm tạo nhiều rủi ro qua giao dịch nội bộ, sở hữu chéo.
Các chuyên gia đã cùng cho rằng không có một mô hình giám sát tài
chính tối ưu bởi các kinh nghiệm thành công và thất bại là đan xen. Việc
thiết kế các mô hình giám sát tài chính phụ thuộc một phần vào mô thức tổ
chức thị trường tài chính ở các nước, độ sâu tài chính, trình độ phát triển
kinh tế, kể cả các đặc điểm về văn hóa, chính trị lẫn các khuôn khổ thể chế
khác thì lạm phát sẽ được đem ra cân nhắc. Thực tế,Việt Nam được xem
là một trong những quốc gia có độ ổn định về chính trị tuy nhiên do cơ sở
hạ tầng thấp và rủi ro hệ thống chính sách làm ảnh hưởng đến mức độ
thu hút vốn và bù rủi ro khá cao khi tình hình nợ xấu ở hệ thống ngân
hàng đang tác động làm tăng rủi ro đối với thị trường, mức độ tăng vay
nợ nước ngoài và nợ công để bù đắp sự bội chi ngân sách khi tình hình
tăng trưởng khó khăn là con dao hai lưỡi nếu quản lý không tốt.
Hiện tại, khi thông tin nới room của đối với các doanh nghiệp trong
nước là một bước thay đổi chính sách thu hút dòng vốn hỗ trợ tăng
trưởng trong dài hạn rất tốt, giúp làm giảm rủi ro lạm phát. Việc tái cơ
cấu kinh tế nhà nước cũng được đánh giá khá cao khi giảm sự phụ thuộc
trong việc sử dụng ngân sách cho các khoản đầu tư tư không hiệu quả và
làm hạn chế chính sách tài khóa của Chính phủ. Mặt khác việc sớm đàm
phán về hiệp định TTP sẽ thúc đẩy xu hướng xuất khẩu và dòng vốn đầu
tư trực tiếp từ trong và ngoài khối TPP sẽ tác động đến việc tự do luân
chuyển vốn như tăng xuất khẩu, giảm thâm hụt cán cân vãng lai và
thương mại, giảm bội chi và nợ nước ngoài cũng như gián tiếp cho sự ổn
định của hệ thống tài chính quốc gia. Việc dòng vốn đầu tư FDI đạt 19 tỷ
USD vượt mục tiêu là một minh chứng cho sự đón nhận xu hướng đón
đầu từ dòng vốn đi vào Việt Nam để đầu tư và tiềm kiếm đối tác,các dòng
vốn thông qua kênh thị trường chứng khoán như các hoạt động M&A hay
đầu tư tài chính…. Mặt khác các chính sách làm tăng tự do luân chuyển
vốn còn giúp chúng ta giải quyết các vấn đề nợ xấu trong nước mà chủ
yếu là BĐS.
Độc lập chính sách tiền tệ
Việc Ngân hàng nhà nước là một cơ quan ngang bộ đã ảnh hưởng lớn
tới sự độc lập của chính sách tiền tệ khi tung ra hai gói QE gần 10 tỷ USD
vào năm 2008 đã gây lạm phát mạnh tác động tiêu cực về mặt dài hạn đối
với nền kinh tế và dự trữ ngoại hối thấp. Hiệu quả của độc lập chính sách
thi nên được điều hành một cách sáng tạo thông qua các chiến lược như
lạm phát mục tiêu, Dự trữ ngoại hối ở mức an toàn, và quan trong nhất là
các giải pháp cụ thể và đặc thù nhằm tạo ra sự ổn định trong ngắn hạn và
phát triển trong dài hạn.
3. Bài học kinh nghiệm cho Việt Nam
Toàn cầu hóa một mặt mang lại nhiều cơ hội cho các nước đang phát
triển, nhưng mặt khác cũng đặt các quốc gia vào những thử thách lớn
trong việc thực thi chính sách vĩ mô. Trên quan điểm của Bộ ba bất khả
thi, một quốc gia chỉ có thể đạt được hai điều sau tại bất kỳ thời gian nhất
định: Một tài khoản vốn mở, tỷ giá hối đoái cố định, và một chính sách
tiền tệ độc lập. Đây thật sự là một thách thức với các nền kinh tế mới nổi
ở Châu Á, khi việc hội nhập sâu ngày càng mạnh mẽ, các nước này dường
như buộc phải để luồng vốn chu chuyển tự do nhằm phục vụ nhu cầu thu
hút vốn để phát triển, tuy nhiên các nước này cũng muốn thực thi chính
sách tỷ giá cố định nhằm đảm bảo chính sách ngoại thương. Hai điều trên
chắc chắn sẽ khiến quốc gia gặp khó khăn trong việc thực thi chính sách
tiền tệ độc lập. Trên cơ sở đó, có thể đúc kết một số kinh nghiệm điều
hành chính sách vĩ mô của các quốc gia mới nổi và bài học kinh nghiệm ở
Việt Nam.
Giống như lý thuyết chỉ ra, Việt Nam không thể giữ được cả 3 yếu tố
trên đồng thời trong một khoảng thời gian dài và buộc phải từ bỏ một
yếu tố nào đó.
Như có thể quan sát trong biểu đồ, lượng vốn FDI đổ vào Việt Nam
rất lớn ngay sau thời điểm Việt Nam gia nhập WTO năm 2007.
Đi kèm với đó là chính sách tung tiền ra để đảm bảo tiền đồng không
lên giá thể hiện qua tín dụng tăng. Kết quả là lạm phát năm 2008 tăng rất
nhanh, lên mức đỉnh hơn 20%.
Từ đó, Ngân hàng Nhà nước đã thi hành nhiều biện pháp mạnh như
khống chế lãi suất tiền gửi dưới mức 12% rồi mới lỏng dần về cuối năm
để kiềm chế lạmphát.
Nguyễn Văn Đức Mục IV