1
Bộ giáo dục và đào tạo
Trờng đại học s phạm hà nội 2 Ngô thị phơng
Thơ lục bát nguyễn duy
Nhìn từ thi pháp thể loại
Chuyên ngành : Lí luận văn học
Mã số : 60 22 32
Luận văn thạc sĩ văn học
Ngời hớng dẫn khoa học : PGS. TS Nguyễn Đăng Điệp
Hà Nội, 2010
3
Lời cam đoan
Tôi xin cam đoan, đề tài này là do tôi tự tìm hiểu, nghiên cứu và hoàn
thiện dới sự hớng dẫn trực tiếp của PGS. TS Nguyễn Đăng Điệp. Kết quả
trình bày trong luận văn là trung thực và cha đợc công bố trong công trình
nào khác.
của thể loại thơ đã quá quen thuộc. Không phải sự ngẫu nhiên mà Nguyễn
Duy là một trong số rất ít các nhà thơ đã chọn dạy trong chương trình phổ
thông.
Trong gần 30 năm sáng tác, Nguyễn Duy đã cho ra đời nhiều tập thơ.
Có nhiều bài viết in trên các tạp chí và báo, một số luận án, luận văn tốt
nghiệp viết về thơ Nguyễn Duy. Có thể kể những bài phê bình tiêu biểu về
một tác phẩm, một chùm hoặc một tập thơ của Nguyễn Duy như sau:
Báo Văn nghệ ngày 14/04/1973 có đăng bài viết của Hoài Thanh “Đọc
một số bài thơ của Nguyễn Duy”. Trong bài viết này Hoài Thanh đã đánh giá
cao chất đồng quê đằm thắm nổi bật nên từ một “thế giới quen thuộc” nhưng
đầy sự khám phá mới mẻ. Vì vậy, mà đọc thơ Nguyễn Duy ta thấy “đậm đà
phong cách Việt Nam”, “giọng thơ chân chất, tình thơ chắc, ý thơ sâu” [62].
Đạt giải nhất tuần báo văn nghệ 1973 với chùm thơ: Hơi ấm ổ rơm,
bầu trời vuông, Tre Việt Nam trong tập thơ Cát trắng đã khẳng định tài
năng và tên tuổi xứng đáng của nhà thơ Nguyễn Duy trong nền thơ ca chống
Mĩ.
Đánh giá các bài thơ: Ngồi buồn nhớ mẹ ta xưa, Xuồng đầy, Được
yêu như thể ca dao…của Nguyễn Duy, Nguyễn Xuân Kính cho rằng: những
5
bài thơ này do “sử dụng một hay nhiều yếu tố nghệ thuật của ca dao nên
chúng đậm đà bản sắc dân tộc” [34].
Giáo sư Lê Trí Viễn đã tìm thấy sự độc đáo, tinh tế của Nguyễn Duy
qua tác phẩm Tre Việt Nam. Theo Giáo sư bài thơ Tre Việt Nam được kể
bằng giọng kể quen thuộc giống kiểu “kể chuyện cổ tích” ngay từ mở đầu bài
thơ. Qua đó một số phương diện như âm điệu, hình ảnh, ngôn từ…được tác
giả khẳng định “vừa mang âm hưởng ca dao dân ca ngọt ngào thân mật vừa
vang vọng của thơ ca bác học sâu lắng và trí tuệ” [68; 289].
Trong phụ lục II của tập thơ Mẹ và em (xuất bản năm 1987) Nguyễn
Quang Sáng đã lí giải sức hấp dẫn của tập thơ nói riêng và sự độc đáo của
dao để tạo nên một thế giới nghệ thuật riêng đầy sinh động nhưng cũng rất đỗi
gần gũi. Qua đó tác giả khẳng định “thơ anh đã gây được ấn tượng mạnh”
buộc người đọc luôn phải chú ý thêm góc hiểu mới về câu ca dao hoặc phản
lại ca dao thì mới có thể hiểu đến tận cùng ý tứ của nó. Đọc thơ Nguyễn Duy
ta “như gặp một thế giới ca dao sinh động phập phồng làm nên tiếng đàn độc
huyền đầy sáng tạo của nhà thơ” [70; 32].
Tác giả Lại Nguyên Ân trong bài viết “Tìm giọng mới thích hợp với
người thời mình”, qua giọng điệu của tập thơ Ánh trăng đã nhận thấy rằng ở
thơ Nguyễn Duy “có giọng bông lơn, bỡn cợt, có tiếng cười khúc khích giữa
dòng trữ tình như là để phá bớt đi cái vẻ rưng rưng thống thiết, cứ lao lên và
làm căng thẳng mệt mỏi tâm lý cảm thụ” và sắc giọng mới “thủng thẳng,
ngang ngạnh và ương bướng nữa” [12; 205].
Hoàng Nhuận Cầm thì cho rằng giọng điệu thơ Nguyễn Duy là “giọng
điệu lời ru, vừa hấp dẫn, vừa tinh quái hóm hỉnh trong một cái nhìn tinh tế
như không có gì mà lại có gì”.
7
“Tìm hiểu phong cách nghệ thuật thơ Nguyễn Duy”, Mai Thị Nguyệt
nhận thấy: ngay từ đầu, Nguyễn Duy đã tìm thấy và lựa chọn được hướng đi
đúng. Thơ ông gắn bó và hướng về cội nguồn dân gian, dân tộc, quê hương,
với đời sống dân dã thôn quê. Qua việc tìm hiểu các lớp hình tượng thời gian,
không gian, ngôn ngữ giọng điệu… tác giả nhận định: “Phong cách nghệ
thuật thơ Nguyễn Duy chân thật, thẳng thắn đến cay nghiệt mà hết sức đôn
hậu và tình tứ gồ ghề, gai góc mà hết sức dung dị đằm thắm luôn trăn trở nghĩ
suy để cho ra đời những hình ảnh độc đáo, qua đó nhìn nhận thẩm định cuộc
sống” [47].
Nghiên cứu về thơ lục bát Nguyễn Duy, Nguyễn Thị Bích Nga nhận
định: “Lục bát Nguyễn Duy mang đậm chất ca dao truyền thống song cũng rất
hiện đại. Nguyễn Duy vận dụng ca dao, phát triển ca dao truyền thống một
cách sang tạo” [44]. Qua thơ lục bát Nguyễn Duy tác giả còn khẳng định sự
anh có thể xếp vào bậc tài tình” [55].
Cùng với tác giả kể trên, tác giả Chu Văn Sơn đã viết “Nguyễn Duy thi
sĩ thảo dân”. Đây có thể xem là bài viết tương đối công phu và toàn diện về
thơ Nguyễn Duy. Qua việc khảo sát, đánh giá nhà thơ ở nhiều góc độ, kiểu thi
sĩ, quan niệm nghệ thuật, thế giới nhân vật, quan niệm nhân sinh, quan niệm
nghệ thuật… Từ đó, Chu Văn Sơn đã nhận thấy: Nguyễn Duy là một thi sĩ
thảo dân vừa mặc áo lính, vừa làm thơ, Nguyễn Duy đã tìm vào cái vô danh
để mang về cái vô giá, đi vào cái lặng im để đem về cái giật mình sâu thẳm
tìm cái Đẹp trong cái Khổ. Tác giả bài viết cũng so sánh Nguyễn Duy với
Nguyễn Bính và cho rằng cả hai nhà thơ này đều “đi ra từ nguồn dân gian”.
Họ là một cặp bài trùng. Một đằng là “gã chân quê tiền chiến”, một đằng là
“gã chân quê đời mới”. Tác giả gọi thơ thơ lục bát là “cây đàn cũ xưa nhưng
9
là thứ của ông bà tổ tiên bao đời để lại” và Nguyễn Duy đã “nhặt lấy mang về
ôm ấp, chăn nuôi” [56; 12].
Nhìn chung các tác giả đều đánh giá cao về thơ lục bát của Nguyễn
Duy, đồng thời ở thể loại này nhà thơ đã khẳng định được một số phương
diện về nội dung và hình thức. Tuy nhiên còn ít công trình nghiên cứu dưới
góc độ thi pháp thể loại một cách hệ thống, công phu và toàn diện. Do đó, với
mong muốn tìm hiểu sâu sắc hơn, đầy đủ hơn về thơ lục bát Nguyễn Duy
chúng tôi chọn đề tài: “Thơ lục bát Nguyễn Duy nhìn từ thi pháp thể loại”
cho luận văn của mình.
2. Mục đích nghiên cứu
Trên cơ sở thống kê, phân thích các tác phẩm thơ lục bát của Nguyễn
Duy, người viết có tham vọng chỉ ra được nét đặc sắc cũng như phẩm chất tư
tưởng - thẩm mĩ đáng quý trong sáng tác của nhà thơ ở thể loại này.
3. Nhiệm vụ nghiên cứu
Để tìm hiểu về những đặc sắc trong thế giới hình tượng thơ Nguyễn
Duy, luận văn có nhiệm vụ: Nghiên cứu thơ lục bát Nguyễn Duy từ góc độ thi
Giúp ta công cụ để thâm nhập vào cấu trúc tác phẩm, cốt cách tư duy
của tác giả. Bên cạnh đó việc sử dụng các phương pháp này sẽ làm cho luận
văn có tính khoa học, hệ thống, đạt được hiệu quả cao nhất.
5.4. Phương pháp phân tích tác phẩm
Đây là phương pháp cần thiết giúp chúng tôi nhận diện đặc điểm trong
từng đơn vị nhỏ để từ đó có thể khái quát, tổng hợp, định dạng diện mạo
chung về thơ lục bát Nguyễn Duy. Phương pháp này còn được sử dụng để soi
rõ những nhận định mà người viết đưa ra trong quá trình nghiên cứu.
6. Những đóng góp mới của đề tài
11
Phân tích, lí giải thi pháp nghệ thuật thơ lục bát Nguyễn Duy. Từ đó
tìm hiểu một cách tương đối toàn diện về thế giới nghệ thuật thơ Nguyễn Duy
cũng như những quan niệm nghệ thuật của ông chi phối đến việc sáng tạo hệ
thống biểu tượng trong thơ, giọng điệu và ngôn ngữ của thi sĩ.
NỘI DUNG
CHƯƠNG 1: NGUYỄN DUY NHƯ MỘT HIỆN TƯỢNG LỤC BÁT
thần của người dân Việt Nam. Nếu thi ca của một dân tộc mang vẻ đẹp tâm
hồn của dân tộc đó, thì lục bát là thể thơ mà phần hồn của dân Việt gửi gắm
vào đó nhiều nhất và sâu nhất. Nó là phương tiện hữu ích để người Việt giải
toả tâm sự, kí thác tâm trạng, thăng hoa tâm hồn.
1.1.2. Lục bát dân gian
13
Lục bát là thể thơ mang đậm bản sắc dân tộc. Nó là thể thơ được hình
thành và phát triển trong ca dao dân ca. Đó là những bài hát ru con, những lời
ngâm vịnh, những câu hò điệu lý quen thuộc mang đậm dấu ấn tâm tư, tình
cảm của người bình dân. Nó gắn bó mật thiết với những sinh hoạt hàng ngày
của người lao động. Cách gieo vần ở chữ cuối cùng của câu lục với chữ thứ
sáu của câu bát, chữ thứ tám của câu bát với chữ cuối cùng của câu lục và
cách ngắt nhịp chẵn thường để nói những tâm tư tình cảm của người dân:
“Bầu ơi thương lấy bí cùng
Tuy rằng khác giống nhưng chung một giàn”
Lục bát dân gian thể hiện rất tinh tế những cung bậc tình cảm yêu
thương giữa người với người bằng giọng điệu nhẹ nhàng đôi khi là giọng điệu
mang tính triết lí hay hờn dỗi. Ví dụ như :
- Yêu nhau yêu cả đường đi
Ghét nhau ghét cả tông chi họ hàng
- Ngày đi trúc chửa mọc măng
Ngày về trúc đã cao bằng ngọn tre
Ở lục bát dân gian hầu hết là nhịp chẵn :
Râu tôm/ nấu với ruột bầu,
Chồng chan/ vợ húp/ gật đầu/ khen ngon
Hay :
Hôm qua/ anh đến/ chơi nhà
Thấy mẹ nằm đất/ thấy cha nằm giường
Thấy em/ nằm đất/ anh thương
1.1.4. Lục bát thời thơ Mới (1932-1945)
15
Trong thơ Mới (1932-1945) thể thơ lục bát đã có nhiều cách tân đa
dạng cả về nội dung biểu đạt và hình thức thể hiện. Thể lục bát chuyển dần
sang tập trung vào khả năng chính của một thể thơ ca : chức năng trữ tình.
Đầu thời thơ Mới nổi bật phải kể tới đó là cặp Tản Đà và Á Nam Trần
Tuấn Khải. Giữa thời thơ Mới là cặp Nguyễn Bính và Huy Cận đại diện cho
hai phong cách dân gian và cổ điển. Trong số những nhà thơ hồi đầu thế kỉ
XX, Tản Đà (Nguyễn Khắc Hiếu) nổi lên với những vần điệu quả thực đã làm
rung động lòng người, được lưu truyền trong đông đảo tầng lớp nhân dân lao
động bởi ngoài sự kế thừa văn học dân gian ông còn có những bước tiến mới
so với ca dao. Có thể nói trong số các nhà thơ cận hiện đại Tản Đà là nhà thơ
được dân gian hoá mạnh và sâu hơn cả.
Sau Tản Đà, giai đoạn thơ Mới xuất hiện với hầu hết những bài thơ
mang tâm trạng u buồn man mác của số đông công chúng lúc bấy giờ. Ở giai
đoạn này, Nguyễn Bính xuất hiện với một hồn thơ chứa đựng nét đẹp chân
quê và những tình cảm thiết tha sâu lắng. Kế thừa những hình ảnh của ca dao
dân ca đồng thời nhịp chẵn được phát huy một cách triệt để thơ ông đã thực
sự hấp dẫn đối với người đọc:
Nắng mưa/ là bệnh/ của trời
Tương tư/ là bệnh/ của tôi yêu nàng
Trong phong trào thơ Mới không thể không kể tới thơ lục bát của Huy
Cận. Tác giả này đã để lại dấu ấn của cái Tôi - phong cách cá nhân khi vận
dụng thi pháp ca dao để sáng tác. Có thể xem tập Lửa thiêng của Huy Cận là
thành tựu mở đầu cho dòng lục bát trí tuệ.
1.1.5. Lục bát hiện đại
Ngày nay khi cuộc sống ngày càng được hiện đại hóa, con người bị
cuốn vào những lo toan, những thời cơ và cả những thách thức, hồn thơ lục
bát vẫn luôn là người bạn tâm tình sẻ chia những nỗi niềm sâu lắng. Kế tục
17
Lên chín tuổi Nguyễn Duy đã tập tành làm thơ với những bài tả cảnh
ruộng vườn, sân trường, người thân. Những năm 1956 - 1957, thơ thiếu nhi
ngoài miềm Bắc phát triển rất mạnh và Nguyễn Duy bằng tâm hồn nhạy cảm
của mình đã bị cuốn theo phong trào đó. Năm 1957, khi đang học lớp 2,
Nguyễn Duy đã có bài thơ đầu tiên được đăng báo.
Năm 1962, thời gian học cấp 2 ở Hà Nội, Nguyễn Duy đọc thêm được
một số sách báo và cũng có lúc gửi thơ cho báo nhưng thơ không được in.
Mấy năm sau, Nguyễn Duy nhập ngũ sau đó chuyển về công tác ở Báo
Văn Nghệ. Trong những năm mặc áo lính Nguyễn Duy đã trở về với thơ lục
bát.
Trong hai năm đầu kể từ 1969, Nguyễn Duy đã sáng tác bài thơ lục bát
đầu tiên, sau này được đưa vào trường phổ thông và được nhiều thế hệ học trò
thuộc lòng. Đó là bài lục bát nổi tiếng Tre Việt Nam.
Từ 1971, nghe đài gặp Hoài Thanh bàn truyện ca dao hiện đại, trong
đầu cậu lính trẻ Nguyễn Duy nhớ mãi câu nói: “Cái gì còn tồn tại đến hôm
nay thì hiện đại”. Câu nói ấy đã góp thêm niềm tin mãnh liệt vào thể thơ lục
bát Nguyễn Duy đang làm. Nguyễn Duy sau lần ấy viết thư gửi cho Hoài
Thanh và được hồi âm ở Báo Văn Nghệ. Số tết năm 1972 thơ Nguyễn Duy
được in hai bài trên Báo Văn Nghệ. Đây là một khởi đầu khá tốt đẹp cho
Nguyễn Duy trong những ngày mới chập chững bước vào làng thơ.
Năm 1973 Nguyễn Duy đoạt giải nhất cuộc thi thơ trên Báo Văn Nghệ
với chùm thơ ba bài: Hơi ấm ổ rơm, Tre Việt Nam, Bầu trời vuông trong
tập Cát trắng đây là sự kiện có ý nghĩa đặc biệt quan trọng nó thể tài năng và
vị trí xứng đáng của thơ Nguyễn Duy trong nền thơ ca chống Mĩ.
Nhìn chung giai đoạn này thơ Nguyễn Duy đã đạt được một số thành
tựu đáng kể. Có thể xem đây là bước khởi đầu đầy thuận lợi để làm nền móng
vững chắc cho những giai đoạn sáng tác sau này.
18
giả như tập: Mẹ và em (1987), Đãi cát tìm vàng (1984), Bụi (1997), Về
(1994), Vợ ơi (1995), Sáu và Tám (1994)… Có thể nói, thơ Nguyễn Duy đến
giai đoạn này đã định hình được phong cách riêng. Ông đã nhiều lần Về
đồng, Về làng, Về bến Đò Lèn đầy ắp kỉ niệm với người bà đã khuất, về với
Tuổi thơ, Tuổi học trò nhất quỷ nhì ma, rồi lại Ngồi buồn nhớ mẹ ta xưa,
nghe Ca dao vọng về để tâm hồn lắng dịu trước cuộc sống hiện tại đầy những
lo toan, tất bật.
Năm 1997 ông tuyên bố “gác bút” để chiêm nghiệm lại bản thân rồi tập
trung vào làm lịch thơ, in thơ trên các chất liệu: tranh, tre, lứa, lá và thậm chí
cả bao tải. Từ năm 2001, ông in nhiều thơ trên giấy dó. Ông đã biên tập và
cho ra mắt tập thơ Thiền (gồm 30 bài thơ Thiền thời Lí, Trần do ông chọn
lọc) in trên giấy dó năm 2005, có nguyên bản tiếng Hán, phiên âm, dịch nghĩa
và dịch thơ tiếng Việt, dịch nghĩa và dịch thơ tiếng Anh với ảnh nền và ảnh
minh họa của ông.
Năm 2007, ông được tặng giải thưởng Nhà nước về Văn học Nghệ
thuật - một giải thưởng cao quí dành cho những nghệ sĩ tài năng và chân
chính.
Cầm bút gắn bó với thơ khoảng 30 năm, Nguyễn Duy cho in 10 tập thơ
trong đó có tập Cát trắng được in trước 1975 còn lại 9 tập thơ được in sau khi
đất nước thống nhất. Nhìn khái quát trong 30 năm làm thơ của tác giả ta dễ
dàng nhận thấy rằng dù ở thời điểm nào thi thơ ông cũng đều bám chặt vào
cuộc sống ở hai thời: một là quá khứ với cội nguồn quê hương ông bà, cha
mẹ, đồng đội trong chiến tranh; một là hiện tại ngổn ngang bề bộn. Không
gian trong thơ Nguyễn Duy vừa có sự êm ả trong lành của làng quê, vừa có
cái ồn ào láo nhiệt và trật chội của phố xá. Dù ở không gian, thời gian nào thì
thơ ông cũng đều thể hiện một chiều sâu chiêm nghiệm về nhân thế từ những
20
gì dù rất đơn sơ, dân dã và bình dị. Chính đặc điểm này đã tạo nên phong cách
thơ Nguyễn Duy vừa hiện đại nhưng lại vẫn rất đậm đà bản sắc dân tộc.
“Cái lưng em sụm bất ngờ
Tứ chi anh lõng thõng quơ rụng rời”
(Vợ ốm)
Nhịp lẻ trong thơ lục bát được Nguyễn Duy kế thừa nhưng không phải
dùng để diễn tả những cảnh ngộ ngang trái, éo le mà được dùng để chỉ sự trẻ
trung, khoẻ khoắn :
“Thức là ngày / ngủ là đêm”
(Bầu trời vuông)
Như vậy có thể nói rằng cũng tiếp thu lục bát của ca dao nhưng Nguyễn
Duy không rập khuôn mà vận dụng đầy sáng tạo để làm nên được “cái giọng
riêng” của mình. Gần như bài viết nào về thơ Nguyễn Duy cũng có chung một
nhận xét rằng ông thực sự có biệt tài và rất thành công ở thể loại này. Gần
đây, thơ lục bát của ông còn được chọn làm đối tượng nghiên cứu của nhiều
luận văn thạc sĩ.
CHƯƠNG 2 : HỆ THỐNG BIỂU TƯỢNG TRONG THƠ
LỤC BÁT CỦA NGUYỄN DUY 2.1. Một số quan niệm về biểu tượng
22
Từ điển Tiếng Việt đã đưa ra khái niệm chung về biểu
tượng như sau: “1: Hình ảnh tượng trưng, 2: Hình thức của nhận thức cao hơn
cảm giác, cho ta hình ảnh của sự vật còn giữ lại trong đầu óc sau khi tác động
nghĩa tượng trưng. Ranh giới giữa các hỉnh ảnh tượng trưng với tất cả các lối
diễn đạt bằng hình ảnh khác (như vật hiện, loại suy, biểu hiện, ẩn dụ…) được
phân biệt rạch ròi. Các nhà văn hóa học đã chỉ ra một số đặc trưng cơ bản của
biểu tượng, phân biệt nó với dấu hiệu: Dấu hiệu là sự qui ước tùy tiện nên cái
biểu đạt và cái được biểu đạt có thể xa lạ với nhau. Ở biểu tượng nhờ có sự
tưởng tượng mà có sự đồng nhất giữa cái biểu đạt và cái được biểu đạt. Nhờ
vậy biểu tượng luôn rộng lớn hơn cái ý nghĩa được gán cho nó một cách nhân
tạo, nó có một sức vang cốt yếu và tự sinh. Nó không dừng lại ở chỗ chỉ tạo
nên những cộng hưởng mà còn giục gọi một sự biến đổi trong chiều sâu. Đặc
tính của biểu tượng là mãi mãi gợi cảm đến bất tận. Mỗi nhóm người, mỗi
thời đại sẽ có cho mình những biểu tượng đôi khi không giống nhau.
Như vậy, nếu nhìn từ góc độ văn hoá, khái niệm biểu tượng được xác
định với nhiều tầng nghĩa. Ngoài ý nghĩa miêu tả hình ảnh cảm tính vật chất
của hiện thực khách quan và ý nghĩa tượng trưng khái quát nó còn biểu hiện
chiều sâu cảm xúc, mang tính dân tộc và thời đại. Ví dụ : chùa Một Cột của
Việt Nam, Kim tự tháp của Ai Cập đều đã gợi cảm hứng cho nhiều nghệ sĩ
trên thế giới.
Các nhà nghiên cứu lí luận văn học của Đại học Sư
phạm Hà Nội đưa ra quan niệm “Biểu tượng là hình tượng từ ngữ có tính
chất tĩnh tại, cố định, thường xuyên như là các kí hiệu cho một hiện tượng đời
sống” [41; 88].
Theo Nguyễn Xuân Kính: “Biểu tượng là hình ảnh cảm tính về hiện
thực khách quan, thể hiện quan niệm thẩm mỹ, tư tưởng của từng nhóm tác
24
giả (có khi của riêng một tác giả), từng thời đại, từng dân tộc và từng khu vực
cư trú…” [33; 185].
Trong các tác phẩm văn học, để tạo nên các biểu tượng, nghĩa đen,
nghĩa biểu vật của các từ ngữ sẽ không được khai thác, ở đây chủ yếu nghĩa
biểu cảm, nghĩa bóng của ngôn ngữ sẽ phát huy tác dụng.
tân. Chính tính chất hình thể của các biểu tượng nghệ thuật làm cho hình
tượng văn học càng trở nên sắc nét và đảm trách được nhiệm vụ nghệ thuật.
2.2. Biểu tượng trong thơ lục bát của Nguyễn Duy
Một trong những yếu tố quan trọng tạo nên tính độc đáo và giá trị nhân
văn cho thơ lục bát Nguyễn Duy là việc tạo dựng thành công những hình ảnh
biểu tượng. Với một tư duy nghệ thuật đầy sáng tạo Nguyễn Duy đã tìm ra
những sắc thái ý nghĩa mới mẻ cho các biểu tượng tưởng chừng như đã quen
thuộc trong thơ ca truyền thống. Biểu tượng trong thơ lục bát của ông có
những nét đặc thù mang tính hệ thống xuyên suốt các yếu tố nội dung và hình
thức tác phẩm.
2.3. Biểu tượng thiên nhiên
Thi sĩ vốn đa tình. Có lẽ vì vậy mà từ bao đời nay thiên nhiên luôn luôn
là suối nguồn gợi nhiều cảm xúc đối với thi nhân. Ở mỗi người vẻ đẹp của nó
lại được cảm nhận từ những góc độ khác nhau. Chính vì vậy mà khi đi vào
văn học nói chung và thơ ca nói riêng thiên nhiên hiện lên luôn sinh động, hấp
dẫn bởi sự đa dạng nhiều vẻ của nó. Đã biết bao thế hệ độc giả không khỏi
xúc động khi gặp những hình ảnh thiên nhiên như: “Đường vô xứ nghệ quanh
quanh/ Non xanh nước biếc như tranh họa đồ” hay “Cỏ non xanh rợn chân
trời/ Cành lê trắng điểm một vài bông hoa”. Nguyễn Duy cũng không nằm
ngoài qui luật “tức cảnh sinh tình” ấy. Thiên nhiên trong thơ lục bát của
Nguyễn Duy vì thế không chỉ đẹp bằng vẻ đẹp vốn có của nó mà cao hơn cả