Đánh giá tác động của can thiệp dược lâm sàng trong sử dụng vancomycin tại bệnh viện bạch mai - Pdf 29


BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO BỘ Y TẾ

TRƢỜNG ĐẠI HỌC DƢỢC HÀ NỘI
ĐỖ THỊ HỒNG GẤM ĐÁNH GIÁ TÁC ĐỘNG CỦA CAN THIỆP
DƢỢC LÂM SÀNG
TRONG SỬ DỤNG VANCOMYCIN
TẠI BỆNH VIỆN BẠCH MAI
LUẬN VĂN THẠC SĨ DƢỢC HỌC


ThS.NCS. Lê Vân Anh HÀ NỘI 2014 LỜI CẢM ƠN
Lời đầu tiên, tôi xin chân thành bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc tới hai người
thầy: TS. Nguyễn Thị Liên Hƣơng – Trưởng bộ môn Dược Lâm Sàng trường Đại
học Dược Hà Nội và ThS. Lê Vân Anh – Khoa Dược Bệnh viện Bạch Mai, đã tận
tình hướng dẫn, chỉ bảo và động viên tôi trong suốt quá trình thực hiện hoàn thành
luận văn.
Tôi xin trân trọng cảm ơn Ban Giám Đốc, Ban lãnh đạo và toàn thể các bác
sĩ, cán bộ công nhân viên tại khoa Vi sinh, khoa Hoá sinh, các khoa Lâm sàng,
Bệnh viện Bạch Mai đã giúp đỡ, tạo điều kiện cho tôi trong suốt quá trình nghiên
cứu.
Tôi xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc tới DSCKII. Nguyễn Thị Hồng Thủy –
Trưởng khoa Dược, Bệnh viện Bạch Mai cùng Ban lãnh đạo và các đồng nghiệp
trong khoa Dược đã hỗ trợ, tạo điều kiện thuận lợi cho tôi trong quá trình thực hiện
đề tài.
Tôi xin chân thành cảm ơn sự hỗ trợ nhiệt tình của các thầy cô giáo ở bộ môn
Dược lâm sàng, bộ môn Dược lý, Trường Đại học Dược Hà Nội – là những người
thầy đã chia sẻ, giải đáp các vướng mắc của tôi trong quá trình làm luận văn.
Tôi xin chân thành cảm ơn Ban Giám Hiệu, phòng Sau đại học, thầy cô và

2.3. PHƢƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 28
2.3.1. Thiết kế nghiên cứu 28
2.3.2. Các chỉ tiêu nghiên cứu 32
2.3.3. Phương pháp xử lí số liệu 33
Chƣơng 3. KẾT QUẢ 34
3.1. KHẢO SÁT THỰC TRẠNG TUÂN THỦ HƢỚNG DẪN SỬ DỤNG
VANCOMYCIN VÀ QUY TRÌNH GIÁM SÁT NỒNG ĐỘ THUỐC
TRONG MÁU TRƢỚC KHI CÓ CAN THIỆP DƢỢC LÂM SÀNG 34
3.1.1. Đặc điểm mẫu khảo sát 34
3.1.2. Đánh giá tỉ lệ tuân thủ HDSD vancomycin và quy trình TDM 36
3.2. ĐÁNH GIÁ ẢNH HƢỞNG CỦA CAN THIỆP DƢỢC LÂM SÀNG ĐẾN
SỬ DỤNG VANCOMYCIN TRONG VIỆC TUÂN THỦ HƢỚNG DẪN
SỬ DỤNG CỦA BỆNH VIỆN 40
3.2.1. Đặc điểm mẫu can thiệp 40
3.2.2. Các can thiệp của dược sĩ lâm sàng đến việc sử dụng vancomycin 42
3.2.3. Hiệu quả can thiệp dược lâm sàng trong sử dụng vancomycin 47
Chƣơng 4. BÀN LUẬN 50
4.1. BÀN LUẬN VỀ ĐẶC ĐIỂM CỦA MẪU NGHIÊN CỨU 50
4.1.1. Bàn luận về đặc điểm chung của bệnh nhân trong mẫu nghiên cứu 50
4.1.2. Bàn luận về vi khuẩn gây bệnh và kháng sinh đồ 51
4.2. BÀN LUẬN VỀ THỰC TRẠNG TUÂN THỦ HƢỚNG DẪN SỬ DỤNG
VANCOMYCIN VÀ QUY TRÌNH GIÁM SÁT NỒNG ĐỘ THUỐC
TRONG MÁU TRƢỚC KHI CÓ CAN THIỆP DƢỢC LÂM SÀNG 52
4.2.1. Mục tiêu nghiên cứu của mẫu khảo sát 52
4.2.2. Bàn luận về liều dùng 53
4.2.3. Bàn luận về cách dùng 54
4.2.4. Bàn luận về thực trạng tuân thủ TDM và hiệu chỉnh liều theo TDM 55
4.2.5. Bàn luận về thực trạng tuân thủ giám sát chức năng thận 56
4.2.6. Bàn luận về phản ứng có hại của thuốc 57
4.3. BÀN LUẬN VỀ ẢNH HƢỞNG CỦA CAN THIỆP DƢỢC LÂM SÀNG

Cpeak
Peak concentration (Nồng độ đỉnh)
Ctrough
Trough concentration (Nồng độ đáy)
CXK
Cơ xương khớp
DLS
Dược lâm sàng
DRPs
Drug related problems (Các vấn đề liên quan đến thuốc)
DSLS
Dược sĩ lâm sàng
FDA
Food and Drug Administration
(Cơ quan quản lý thực phẩm và dược phẩm Mĩ)
GISA
Glycopeptide Intermediate Resistant Staphylococcus aureus
(Tụ cầu vàng kháng trung gian glycopeptid)
HICPAC
Hospital infection control practices advisory committee
(Ủy ban kiểm soát nhiễm khuẩn bệnh viện)
HDSD
Hướng dẫn sử dụng
HIV
Human immunodeficiency virus
(Vi rút gây suy giảm miễn dịch ở người)
hVISA
heterogeneous Vancomycin-Intermediate Staphylococcus aureus
(Dị chủng tụ cầu vàng giảm nhạy cảm vancomycin)
hGISA

TPN
Total parenteral nutrition (Dinh dưỡng tĩnh mạch toàn phần)
TTCĐ
Trung tâm chống độc
S.aureus
Tụ cầu vàng
VISA
Vancomycin Intermediate Resistant Staphylococcus aureus
(Tụ cầu vàng giảm nhạy cảm vancomycin)
VRSA
Vancomycin resistant Staphylococcus aureus
(Tụ cầu vàng kháng vancomycin)
VRE
Vancomycin resistant Enterococcus
(Liên cầu đường ruột kháng vancomycin)
DANH MỤC BẢNG
Bảng 1. 1. Một số nghiên cứu về hoạt động DLS tại bệnh phòng 17
Bảng 1. 2. Một số nghiên cứu đánh giá sử dụng vancomycin 23
Bảng 1. 3. Một số nghiên cứu về can thiệp của DSLS đến sử dụng vancomycin 25
[
Bảng 3. 1. Đặc điểm bệnh nhân trong mẫu khảo sát 34
Bảng 3. 2. Bệnh nhiễm khuẩn của bệnh nhân trong mẫu khảo sát 35
Bảng 3. 3. Các chủng vi khuẩn phân lập được trong mẫu khảo sát 35
Bảng 3. 4. Cách dùng vancomycin trong mẫu khảo sát 37
Bảng 3. 5. Đánh giá tính phù hợp về liều khởi đầu theo HDSD của mẫu khảo sát 38
Bảng 3. 6. Đánh giá tính phù hợp về cách dùng theo HDSD của mẫu khảo sát 38
Bảng 3. 7. Tỉ lệ giám sát nồng độ vancomycin phù hợp HDSD của mẫu khảo sát 39
Bảng 3. 8. Tỉ lệ giám sát chức năng thận phù hợp HDSD của mẫu khảo sát 39
Bảng 3. 9. Đặc điểm chung của bệnh nhân mẫu can thiệp 40
Bảng 3. 10. Bệnh nhiễm khuẩn của bệnh nhân trong mẫu can thiệp 41

1

ĐẶT VẤN ĐỀ

Dược lâm sàng là hoạt động thực hành thuộc lĩnh vực khoa học sức khoẻ,
trong đó người dược sỹ thực hiện vai trò tư vấn về thuốc cho thầy thuốc giúp tối
ưu hoá phác đồ điều trị, đồng thời thực hiện vai trò cung cấp thông tin tư vấn,
hướng dẫn sử dụng thuốc an toàn hợp lý, hiệu quả cho cán bộ y tế và người
bệnh. Mặc dù hoạt động dược lâm sàng trên thế giới đã bắt đầu phát triển từ
những năm 1960 nhưng tại Việt Nam, hoạt động này mới được bắt đầu một vài
năm gần đây và chỉ chính thức được pháp lý hóa sau khi có thông tư
31/2012/TT - BYT Hướng dẫn hoạt động dược lâm sàng trong bệnh viện ra đời
[4]
Tại Bệnh viện Bạch Mai hoạt động dược lâm sàng được đưa vào thử
nghiệm từ đầu năm 2006 và đã triển khai được hầu hết các đầu việc theo thông
tư 31/2012/TT – BYT bao gồm các hoạt động chung, hoạt động trên từng bệnh
nhân tại các khoa lâm sàng. Tuy nhiên vẫn chưa có nghiên cứu nào đánh giá mức
độ ảnh hưởng cũng như hiệu quả của can thiệp dược lâm sàng trong phạm vi
toàn bệnh viện.
Vancomycin là một kháng sinh đòi hỏi cần quản lí sử dụng, giám sát nồng
độ thuốc để nâng cao hiệu quả điều trị, hạn chế đề kháng và độc tính [68]. Tháng
5/2013, Giám đốc Bệnh viện Bạch Mai đã phê duyệt hướng dẫn sử dụng
vancomycin (HDSD) và quy trình giám sát nồng độ thuốc trong máu là tài liệu
nội bộ giúp các bác sĩ sử dụng thuốc an toàn, hiệu quả [3].
Mặc dù có nhiều hình thức thông tin để HDSD vancomycin đến được với
bác sĩ nhưng mức độ tuân thủ HDSD vancomycin trong thực hành lâm sàng đến
đâu, ảnh hưởng của hoạt động dược lâm sàng đến tỉ lệ tuân thủ HDSD như thế
nào còn là câu hỏi lớn. Xuất phát từ những thực tế trên, chúng tôi thực hiện
nghiên cứu
“Đánh giá tác động của can thiệp dược lâm sàng trong sử dụng vancomycin

Vào những năm 1950, khi kháng sinh không kiểm soát được nhiễm trùng tụ
cầu bệnh viện, công ty Eli Lily đã tổ chức chương trình sàng lọc quy mô lớn nhằm
tìm ra một kháng sinh mới. Trong một mẫu đất được gửi đến từ Borneo cho tiến sĩ
EC Kornfeld, các nhà nghiên cứu đã tìm thấy chủng Streptomyces orientalis có khả
năng sản sinh ra hợp chất được kí hiệu: 05.856. Về hoạt tính kháng khuẩn, nghiên
cứu in vivo chỉ ra rằng hợp chất này kháng lại hầu hết các vi khuẩn Gram dương (kể
cả tụ cầu vàng kháng penicillin). Về tính an toàn, các nghiên cứu trên động vật cho
thấy mức độ độc tính tương đối thấp. Hợp chất 05.865 sau đó được đặt tên là
vancomycin và được đưa vào sử dụng trên lâm sàng với chỉ định điều trị tụ cầu
kháng penicilin từ năm 1958 [38], [50]
1.1.1.2. Cấu trúc hóa học

Hình 1. 1.Cấu trúc hóa học của vancomycin [41]
Vancomycin là một glycopeptid ba vòng có phân tử lượng khoảng 1500 Da,
bao gồm một chuỗi 7 liên kết peptid. Nhờ cấu trúc hóa học có nhiều liên kết peptid
nên vancomycin là một kháng sinh rất thân nước, phân bố rộng rãi vào khắp các mô
và dịch ngoại bào trong cơ thể [41]
4

1.1.2. Đặc tính dƣợc lực học
1.1.2.1. Cơ chế tác dụng
Cơ chế tác dụng chính của Vancomycin là ức chế sinh tổng hợp vách tế bào
giai đoạn muộn trong quá trình phân chia của vi khuẩn.
Đích tác dụng của vancomycin là các đơn phân murein có thành phần chính
là các peptidoglycan. Vancomycin gắn vào D-alanyl-D-alanine tận cùng của
pentapeptide mới hình thành trong chuỗi peptidoglycan, do đó ức chế phản ứng
transglycosylase ngăn cản sự tạo lưới peptidoglycan, quá trình tạo thành vách tế
bào bị gián đoạn [30]

Hình 1. 2. Cơ chế tác dụng và đề kháng vancomycin [14]

này, theo Viện chuẩn thức lâm sàng và xét nghiệm Hoa kì (Clinical and Laboratory
Standards Institute - CLSI) thì chủng có MIC ≤ 4µg/mL với vancomycin được coi
là nhạy cảm, MIC từ 8 – 16 µg/ml được coi là giảm nhạy cảm và MIC ≥ 32 µg/mL
được coi là kháng. Do đó, Mu50 được coi là chủng kháng trung gian với
vancomycin (glycopeptid) hay còn gọi là GISA [30], [44]
Chủng S.aureus thứ hai phân lập được tại Mỹ được đặt tên là Mu3, chủng
này được phân lập từ bệnh phẩm của một bệnh nhân người lớn với chẩn đoán viêm
phổi. MIC vancomycin của chủng này = 4 µg/mL, theo lí thuyết được coi là nhạy
cảm nhưng Mu3 có chứa quần thể các chủng có thể phát triển trong môi trường có
vancomycin ở nồng độ từ 5-9 µg/mL và không được phát hiện bằng kĩ thuật xác
định độ nhạy cảm thông thường mà chỉ phát hiện được bằng kĩ thuật Etest dải
6

kháng sinh kép. Mu3 được đặt tên là hGISA (heteroresistant) hay dị chủng GISA
[30]
Cơ chế S.aureus kháng trung gian vancomycin là làm dày vách tế bào, tăng
số lượng các D-alanyl-D-alanine tự do nhiều hơn để bẫy các glycopeptid, không cho
glycopeptid có cơ hội tiếp cận được đích tác dụng chính ở gần màng tế bào chất
[30], [44]
 S.aureus toàn kháng vancomycin (fully vancomycin resistant S.aureus -
VRSA)
Cơ chế kháng của S.aureus toàn kháng với vancomycin có liên quan đến liên
cầu đường ruột kháng vancomycin (Vancomycin resistance Enterococcus – VRE),
trong số các chủng này người ta phát hiện ra Tn1546 hoặc Tn1547 là 2 loại gen
nhảy mã hóa cho một loạt gene tổng hợp vách tế bào có chuỗi peptidoglycan kết
thúc bằng D-ala-D-lactate thay vì D-ala-D-ala như các chủng nhạy cảm
vancomycin, điều này làm cho vancomycin không thể gắn vào chuỗi peptidoglycan
đã bị biến đổi. Chủng có Tn1547 hay còn gọi là VanA có khả năng truyền cho
S.aures. [30]
Tình hình đề kháng vancomycin của một số chủng vi khuẩn Gram dương

Rẫy năm 2008 cho thấy, có 8% chủng tụ cầu vàng phân lập được xác định giảm
nhạy cảm với vancomycin (MIC = 2,5μg/mL) [11]. Tính đến năm 2011, chưa phát
hiện chủng hVISA tại bệnh viện Bạch Mai [10]. Theo báo cáo của Song và cs năm
2004, tỉ lệ chung của hVISA tại Việt nam là 2,4%. [74] Tỉ lệ Entercococci kháng
vancomycin tại bệnh viện Bạch Mai hiện nay là 5% [10]
1.1.3. Đặc tính dƣợc động học của vancomycin
1.1.3.1. Hấp thu
Vancomycin hấp thu ít qua đường tiêu hóa (sinh khả dụng đường uống <
5%), tiêm bắp gây đau và sự hấp thu là không ổn định. Do vậy, thuốc thường được
truyền tĩnh mạch trong điều trị các trường hợp nhiễm khuẩn toàn thân [14]
1.1.3.2. Phân bố
Vancomycin có tỉ lệ liên kết với protein huyết tương thấp, từ 10-50% tùy
theo từng đối tượng [30]
Phân bố trong dịch cơ thể: nồng độ điều trị của vancomycin đạt được trong
dịch cổ trướng, màng ngoài tim, màng phổi và hoạt dịch, trên bệnh nhân có chức
8

năng thận bình thường, trong dịch thẩm tách màng bụng sau khi truyền đơn liều
hoặc đa liều
Phân bố vào màng não: khi màng não không bị viêm, khả năng thấm của
vancomycin qua hàng rào máu não thấp. Khi màng não bị viêm, khả năng thấm của
vancomycin được cải thiện với nồng độ dao động từ 6 - 11μg/mL.
Phân bố vào phổi: nồng độ vancomycin trong dịch màng phổi, dịch biểu mô
lót phế nang, trong hệ bạch huyết phổi, và tế bào phổi phụ thuộc vào nồng độ
vancomycin trong máu. Tỷ số nồng độ trong dịch, tế bào phổi/nồng độ thuốc trong
huyết tương lần lượt là: 0-0,9; 0,8; 1/6; 0,41
Phân bố vào mô tim: nồng độ điều trị của vancomycin đạt được trong các mô
tim (van tim, cơ tim, tâm nhĩ, màng ngoài tim)
1.1.3.3. Chuyển hóa và thải trừ
Vancomycin ít bị chuyển hóa, được thải trừ dưới dạng còn hoạt tính gần như

Đây là hai tác dụng không mong muốn hay gặp nhất của vancomycin, xảy ra
khi tiêm truyền tĩnh mạch nhanh.
Phản ứng giả dị ứng gồm có 3 loại: hội chứng „Red man‟ xuất hiện trong
vòng 10 phút và biến mất sau vài giờ; hạ huyết áp (hạ huyết áp tâm thu xuống
khoảng 25%); triệu chứng đau và co thắt cơ (người bệnh bị cơn đau cấp ở ngực và
sau lưng). Phản ứng giả dị ứng là kết quả của việc giải phóng histamin liên quan tới
tốc độ truyền quá nhanh (thường là >500mg trong thời gian <30 phút).
Phản ứng viêm tắc tĩnh mạch có thể quan sát được ở nơi tiêm. Việc truyền
thuốc chậm và pha loãng đúng cách dung dịch truyền sẽ hạn chế đáng kể các phản
ứng này [14]
1.1.4.4. Ảnh hưởng trên hệ tạo máu
Ảnh hưởng trên hệ tạo máu gồm có: giảm bạch cầu trung tính, tăng bạch cầu
ái toan và giảm tiểu cầu. Trong đó, giảm bạch cầu trung tính xuất hiện sau 7 ngày
hoặc lâu hơn nữa kể từ khi bắt đầu liệu trình điều trị, hoặc sau khi tổng liều quá 25g.
Giảm bạch cầu trung tính hồi phục nhanh chóng ngay sau khi ngừng thuốc. Rất
hiếm khi gặp giảm tiểu cầu [17]
1.1.4.6. Các phản ứng khác
Hiếm khi gặp phản ứng phản vệ, sốt do thuốc, buồn nôn, rét run, chóng mặt
hay viêm da tróc vẩy (ADR < 1/1000). [17]
10

1.1.5. Giám sát nồng độ thuốc trong điều trị và giám sát nồng độ vancomycin
1.1.5.1. Khái niệm
Giám sát nồng độ thuốc trong điều trị (TDM-Therapeutic drug monitoring) là
việc sử dụng nồng độ thuốc đo được trong dịch sinh học như một chỉ số giúp tối ưu
hóa việc sử dụng thuốc trong điều trị và giảm các tác dụng không mong muốn [19]
Đặc tính của thuốc quyết định việc có cần giám sát hay không, những thuốc
phù hợp hoặc cần phải giám sát thường bao gồm: các thuốc có dược động học thay
đổi, thuốc có mối tương quan giữa nồng độ với hiệu quả điều trị và tác dụng phụ,
thuốc có phạm vi điều trị hẹp, thuốc khó đạt tác dụng điều trị như mong muốn cần

0–24
/MIC và hiệu quả. Kết
quả nghiên cứu cho thấy AUC
0–24
/MIC ≥ 400 góp phần cải thiện hiệu quả lâm
sàng và có tương quan chặt chẽ trong khả năng làm sạch các vi khuẩn [62].
Tuy nhiên, theo dõi thường xuyên AUC
0–24
trong thực hành lâm sàng không
thuận tiện vì để tính được AUC phải lấy ít nhất 2 mẫu máu ở 2 thời điểm khác nhau,
Jeffres đã chỉ ra rằng nồng độ đáy có mối tương quan chặt chẽ với AUC
0–24
và nồng
độ đáy được xem là thông số phù hợp nhất để giám sát vancomycin trong điều trị
[45]. Ở những bệnh nhân được chỉ định vancomycin với khoảng cách đưa liều nhỏ
hơn 8h, bệnh nhân suy thận và trẻ em thì nồng độ đáy không phải là chỉ số chính
xác phản ánh AUC/MIC ≥ 400 [55]
Theo thời gian, đích nồng độ vancomycin đã có nhiều thay đổi để phù hợp
với tình hình vi khuẩn kháng thuốc. Nếu những năm đầu các tác giả gợi ý nồng độ
đáy từ 5–10 µg/mL thì hiện nay tăng lên trong khoảng từ 10-20 µg/mL tùy thuộc
vào loại nhiễm khuẩn, vị trí nhiễm khuẩn, chủng vi khuẩn gây bệnh [55] Sự đồng
thuận của các hiệp hội chuyên môn truyền nhiễm ở Mĩ (hiệp hội dược sĩ ASHP,
hiệp hội các bệnh truyền nhiễm IDSA và hiệp hội dược sĩ các bệnh nhiễm khuẩn
SIDP) ở Nhật (hiệp hội hóa trị và hiệp hội giám sát nồng độ thuốc - Japanese
Society of Chemotherapy and the Japanese Society of Therapeutic Drug
Monitoring) khuyến cáo TDM vancomycin để hạn chế độc tính trên thận và tối ưu
hóa hiệu quả của vancomycin [55],[68] với các nội dung chính:
- TDM vancomycin được thực hiện trên các bệnh nhân có dự kiến sử dụng
vancomycin trên 3 ngày, dùng vancomycin liều cao hoặc phối hợp với các thuốc
khác có độc tính trên thận, bệnh nhân nhiễm khuẩn nặng, chức năng thận không ổn

Tại bệnh viện Chợ Rẫy, TDM vancomycin đã có thực hiện nhưng chưa đầy
đủ. Nghiên cứu của Lê Ngọc Hùng khảo sát tỉ lệ bệnh nhân đạt nồng độ đáy trong
phạm vi từ 5-15mg/L trên 36 bệnh nhân khoa Hồi sức ngoại thần kinh với 2 mức
liều chính là 500mg/8h và 1g/12h. Kết quả cho thấy 41,7% đạt nồng độ trong giới
hạn khuyến cáo [7]
13

Tại bệnh viện Bạch Mai, các nghiên cứu nhằm xây dựng quy trình giám sát
nồng độ vancomycin đã được thực hiện từ năm 2011, đến năm 2013 Hội đồng thuốc
& Điều trị của bệnh viện đã thông qua và trình Giám đốc bệnh viện phê duyệt
hướng dẫn sử dụng vancomycin và quy trình giám sát nồng độ thuốc trong máu [1],
[3], [6]

1.2. TỔNG QUAN VỀ HOẠT ĐỘNG DƢỢC LÂM SÀNG TRONG BỆNH VIỆN
1.2.1. Lịch sử ra đời và quá trình phát triển hoạt động dƣợc lâm sàng
1.2.1.1. Trên thế giới
Dược lâm sàng là hoạt động thực hành thuộc lĩnh vực khoa học sức khỏe,
trong đó người dược sĩ thực hiện vai trò tư vấn về thuốc cho thầy thuốc, giúp tối ưu
hóa phác đồ điều trị; đồng thời thực hiện vai trò cung cấp thông tin, tư vấn, hướng
dẫn sử dụng thuốc an toàn, hợp lý, hiệu quả cho cán bộ y tế và cho người bệnh [4].
Cho tới giữa những năm 1960 hoạt động chủ yếu của dược sĩ bệnh viện là
tham gia vào các hoạt động truyền thống như: cấp phát và sản xuất, sau đó số lượng
thuốc sử dụng trong bệnh viện tăng lên, nhận thức được các sai sót liên quan đến
thuốc và liên quan đến kê đơn thuốc ở bệnh phòng trở nên phổ biến đã khiến cho
dược sĩ chuyển từ công việc cấp phát thuốc sang làm việc nhiều hơn trên phòng
bệnh với bác sĩ, điều dưỡng và bệnh nhân.
Dược lâm sàng được phát triển đầu tiên tại Mĩ nhưng dần dần đã được chấp
nhận ở các quốc gia khác, đầu tiên là Canada, rồi đến châu Âu và Úc, gần đây là các
nước châu Á [70]
Tại Anh, Graham Calder và John Baker là người mở đường vai trò mới của

viện đã triển khai hoạt động DLS tùy theo quy mô giường bệnh, nhân lực và trình
độ dược sĩ
Tại Bệnh viện Bạch Mai, ngay từ những năm 1990 khoa Dược đã xây dựng và
tổ chức hoạt động dược lâm sàng sau khi có văn bản chỉ đạo của Bộ y tế. Tuy nhiên
các hoạt động dược lâm sàng tập trung vào người bệnh chỉ được thực sự bắt đầu
triển khai vào cuối những năm 2006. Khoa Dược đã triển khai thử nghiệm hoạt
động dược lâm sàng với 2 dược sĩ được phân công làm việc tại các khoa Nội tiết và
Hồi sức tích cực. Đến nay hoạt động dược lâm sàng đã triển khai tại 1 viện Tim
mạch, 4 trung tâm: Dị ứng và Miễn dịch lâm sàng, Phục hồi chức năng, Hô hấp,
Chống độc và 8 khoa gồm: Hồi sức tích cực, Nội tiết, Ngoại, Sản, Nhi, Đông Y, Cơ
15

xương khớp, Da liễu. Mặc dù chưa có tổng kết chính thức nhưng kết quả ban đầu
cho thấy dược sĩ lâm sàng đã cung cấp nhiều nhất là các hoạt động tư vấn về liều
dùng, đường dùng và thông tin thuốc.
Bên cạnh các hoạt động liên quan trực tiếp đến bệnh nhân cụ thể, các hoạt
động chung của dược lâm sàng thường tập trung thường được triển khai tại các
bệnh viện hiện nay gồm: Hoạt động thông tin thuốc cung cấp thông tin chủ động
cho cán bộ y tế dưới dạng văn bản, ấn bản hoặc trả lời các câu hỏi liên quan đến
thuốc; Bình bệnh án đưa ra các bình luận về việc sử dụng thuốc trực tiếp cho cá thể
người bệnh; duyệt thuốc nhằm kiểm soát đơn trước khi thuốc đến với bệnh nhân;
đánh giá sử dụng thuốc.
1.2.2. Nhiệm vụ và ảnh hƣởng của hoạt động dƣợc lâm sàng
1.2.2.1. Nhiệm vụ của dược lâm sàng
Nhiệm vụ của dược lâm sàng có thể chia thành 2 nhóm chính:
- Nhiệm vụ chung là các hoạt động nhằm hỗ trợ chính sách thuốc của bệnh
viện/quốc gia, bao gồm: đánh giá sử dụng thuốc, phê duyệt thuốc mới, xây dựng
hướng dẫn và phác đồ điều trị, đánh giá các liệu pháp điều trị khác nhau, tham gia
vào các chương trình quản lý sử dụng thuốc, quản lý các các nguy cơ lâm sàng [4],
[22], [72]

sàng chiếm tỉ lệ khá cao, từ 54,7–96%. Trong đó 2,2 – 14,3% các can thiệp được
đánh giá có ý nghĩa quan trọng trên lâm sàng, góp phần giảm tỉ lệ bệnh mắc kèm,
tái nhập viện, phòng ngừa các tác dụng không mong muốn nghiêm trọng có thể xảy
ra. 34 – 68,3% can thiệp được đánh giá có ý nghĩa trung bình, góp phần cải thiện
chất lượng cuộc sống cho người bệnh, tăng cường tỉ lệ thuốc sử dụng hợp lí, an
toàn. [24], [33],[37],[47],[48], [56], [73], [75],[76]
Các nghiên cứu cũng chứng minh hiệu quả của hoạt động DLS có tác động
tích cực về mặt kinh tế thông qua việc giảm chi phí điều trị, giảm thời gian nằm
viện [23], [47].
Tổng hợp một số nghiên cứu liên quan đến hoạt động DLS tại bệnh phòng
được trình bày trong bảng 1.1.

Trích đoạn Bàn luận về liều dùng Bàn luận về thực trạng tuân thủ giám sát chức năng thận Mục tiêu nghiên cứu của mẫu can thiệp HẠN CHẾ CỦA NGHIÊN CỨU
Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status