BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO BỘ Y TẾ
TRƯỜNG ĐẠI HỌC DƯỢC HÀ NỘI NGÔ MINH THÚY NGHIÊN CỨU ĐỊNH LƯỢNG
ĐỒNG PHÂN ĐỐI QUANG CỦA
ATENOLOL BẰNG ĐIỆN DI MAO QUẢN
LUẬN VĂN THẠC SĨ DƯỢC HỌC
HÀ NỘI 2014
LỜI CẢM ƠN
Với lòng kính trọng và biết ơn sâu sắc, em xin gửi lời cảm ơn tới PGS.TS.
Nguyễn Thị Kiều Anh - Phòng Quản lý khoa học - Trường Đại học Dược Hà Nội,
Th.S NCS. Tạ Mạnh Hùng - Viện Kiểm nghiệm thuốc Trung ương, đã tận tình
hướng dẫn, giúp đỡ em trong quá trình thực hiện và hoàn thành luận văn.
Em xin gửi lời cảm ơn đến Th.S Vũ Ngân Bình và các thầy cô, anh/ chị kỹ
thuật viên tại Bộ môn Hóa phân tích và độc chất- Trường Đại học Dược Hà Nội
cũng như ban lãnh đạo và toàn thể anh/ chị cán bộ, công nhân viên tại Labo Hóa –
Viện Kiểm nghiệm an toàn vệ sinh thực phẩm quốc gia đã tạo điều kiện tốt nhất về
cơ sở vật chất để em hoàn thành luận văn này.
Em xin chân thành cảm ơn các thầy cô trong Ban Giám hiệu, Phòng Sau đại học
và các thầy cô giáo Trường Đại học Dược Hà Nội đã truyền đạt cho em những kiến
thức, kinh nghiệm quý báu trong suốt thời gian em học tập tại trường.
Cuối cùng, em xin cảm ơn gia đình và bạn bè, những người luôn động viên,
khích lệ và tạo động lực cho em trong suốt quá trình học tập và thực hiện đề tài.
Hà Nội, ngày 1 tháng 10 năm 2014
Học viên DS. Ngô Minh Thúy
đối quang 15
1.5 MỘT SỐ NGHIÊN CỨU PHÂN TÍCH ĐỒNG PHÂN ĐỐI QUANG CỦA
ATENOLOL 16
1.5.1 Nghiên cứu trong nước 16
1.5.2 Nghiên cứu trên thế giới 17
CHƯƠNG 2: ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 20
2.1 ĐỐI TƯỢNG NGHIÊN CỨU, HÓA CHẤT, TRANG THIẾT BỊ 20
2.1.1 Đối tượng nghiên cứu 20
2.1.2 Hóa chất, trang thiết bị 20
2.2 NỘI DUNG NGHIÊN CỨU 21
2.2.1 Hoàn thiện phương pháp định lượng đồng phân đối quang của atenolol bằng
điện di mao quản 21
2.2.2 Thẩm định phương pháp phân tích 21
2.2.3 Ứng dụng 22
2.3 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 22
2.3.1 Chuẩn bị các dung dịch chuẩn, dung dịch mẫu và các dung dịch làm việc 22
2.3.2 Khảo sát và lựa chọn điều kiện điện di 23
2.3.3 Thẩm định phương pháp phân tích 24
2.3.4 Ứng dụng 26
2.3.5 Phương pháp xử lý số liệu 27
CHƯƠNG 3: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU 28
3.1 KHẢO SÁT VÀ LỰA CHỌN ĐIỀU KIỆN ĐIỆN DI 28
3.1.1 Lựa chọn dung dịch điện ly nền 28
3.1.2 Lựa chọn bước sóng phát hiện 29
3.1.3 Lựa chọn cột mao quản 29
3.1.4 Lựa chọn hiệu điện thế áp vào hai đầu mao quản 30
3.1.5 Lựa chọn nồng độ tác nhân chọn lọc đối quang 33
3.2 THẨM ĐỊNH PHƯƠNG PHÁP PHÂN TÍCH 35
3.2.1 Xác định hàm lượng đồng phân R, S-atenolol trong chuẩn atenolol racemic 35
3.2.2 Độ phù hợp hệ thống 36
DANH MỤC CÁC KÝ HIỆU, CHỮ VIẾT TẮT
AGP
Acid α1-glycoprotein
BGE ( Background Electrolyte )
Dung dịch điện ly nền
BSA ( Bovine Serum Albumine )
Albumin huyết thanh bò
CE ( Capillary Electrophoresis )
Điện di mao quản
CGE (Capillary Gel Electrophoresis)
Điện di mao quản gel
CZE (Capillary Zone Electrophoresis)
Điện di mao quản vùng
β-CD
Beta cyclodextrin
CM-β-CD
Carboxymethyl beta
cyclodextrin
DM-β-CD
Dimethyl beta cyclodextrin
EOF ( Electro-osmotic flow )
Dòng điện thẩm
HP-β-CD
Hydroxypropyl beta
cyclodextrin
HPLC ( High Performance Liquid Chromatography)
Sắc ký lỏng hiệu năng cao
HSA ( Human Serum Albumine )
Albumin huyết thanh người
Bảng 3.5 Quan hệ giữa nồng độ và diện tích pic của S-atenolol 40
Bảng 3.6 Quan hệ giữa nồng độ và diện tích pic của R-atenolol 40
Bảng 3.7 Kết quả đánh giá độ lặp lại trên mẫu Atenolol STADA 50 mg 41
Bảng 3.8 Kết quả đánh giá độ chính xác trung gian trên mẫu Atenolol STADA
50mg 42
Bảng 3.9 Kết quả đánh giá khả năng tìm lại với S-atenolol 43
Bảng 3.10 Kết quả đánh giá khả năng tìm lại với R-atenolol 43
Bảng 3.11 Kết quả định lượng mẫu chế phẩm viên nén chứa atenolol 44
Bảng 3.12 Kết quả định lượng các đồng phân đối quang của atenolol trong mẫu thử
hòa tan 46 DANH MỤC CÁC HÌNH VẼ VÀ ĐỒ THỊ
Hình 1.1 Công thức cấu tạo của Atenolol 3
Hình 1.2 Sơ đồ hệ thống điện di mao quản 6
Hình 1.3 Sự hình thành dòng EOF 7
Hình 3.1 Điện di đồ khi sử dụng các dung dịch điện ly nền khác nhau 28
Hình 3.2 Điện di đồ của dung dịch atenolol racemic 100 ppm khi sử dụng với các
mao quản khác nhau 30
Hình 3.3 Điện di đồ của dung dịch chuẩn atenolol racemic ở 3 điện thế sử dụng 32
Hình 3.4 Đồ thị biểu diễn sự phụ thuộc của thời gian di chuyển các đồng phân
Trong cuộc sống hiện đại ngày nay, xu hướng các bệnh tiểu đường, rối loạn
lipid máu, các bệnh tim mạch ngày càng tăng nhanh. Đặc biệt, với nhóm thuốc tim
mạch thời gian điều trị thường kéo dài, do đó việc sử dụng thuốc ở dạng đồng phân
quang học tinh khiết lại càng có ý nghĩa quan trọng. Atenolol là dẫn chất của
aryloxypropanolamin, có tác dụng chẹn chọn lọc trên thụ thể β
1
- adrenergic dùng
điều trị tăng huyết áp, đau thắt ngực mạn tính ổn định, nhồi máu cơ tim sớm (trong
vòng 12 giờ đầu) và dự phòng sau nhồi máu cơ tim, loạn nhịp nhanh trên thất [2].
Với một carbon bất đối trong phân tử, atenolol là hỗn hợp racemic của hai đồng
phân đối quang: S-atenolol và R-atenolol. Một số nghiên cứu đã chứng minh và chỉ
ra rằng S-atenolol có vai trò chính chẹn beta giao cảm khi dùng atenolol dạng hỗn
hợp racemic, đồng thời độc tính cũng thấp hơn so với dạng R-atenolol [20], [25],
[26]. Do đó việc sản xuất và sử dụng đồng phân S-atenolol ngày càng được quan
tâm nhiều hơn. Điều này đòi hỏi phải xây dựng phương pháp phân tách và định
lượng được từng dạng đơn đồng phân trong hỗn hợp racemic của atenolol.
- 2 -
Trong những năm gần đây, kỹ thuật điện di mao quản (Capillary
Electrophoresis - CE) là phương pháp hóa lý được các nhà phân tích lựa chọn trong
lĩnh vực tách các đồng phân quang học với nhiều lý do: hiệu lực tách cao, lượng
mẫu sử dụng ít, dung môi sử dụng trong quá trình phân tích chỉ là dung dịch đệm do
đó không ảnh hưởng đến môi trường, việc tách các đồng phân quang học có thể đạt
được khi chỉ cần thêm một lượng nhỏ tác nhân chọn lọc đối quang (chiral selector)
vào dung dịch điện ly nền [8].
Tại Việt Nam, việc áp dụng kỹ thuật điện di mao quản trong phân tích kiểm
nghiệm vẫn còn hạn chế. Để nâng cao năng lực kiểm tra chất lượng thuốc của hệ
thống kiểm nghiệm cũng như hội nhập với xu hướng phát triển của ngành Dược trên
thế giới, chúng tôi thực hiện đề tài: “Nghiên cứu định lượng đồng phân đối quang
của Atenolol bằng điện di mao quản”. Với hai mục tiêu:
H
22
N
2
O
3
.
Khối lượng phân tử: 266,3.
Tên khoa học:
2-[4-[(2RS)-2-hydroxy-3-[(1-methylethyl)amino]propoxy]phenyl]acetamid.
1.1.1. Tính chất
Atenolol có các tính chất sau [1], [3], [21]:
• Bột kết tinh màu trắng hoặc gần như trắng, hơi tan trong nước, tan trong ethanol,
methanol, khó tan trong methylen clorid.
• Điểm chảy: 152
o
C đến 155
o
C.
• Góc quay cực (dung dịch 0,10 g atenolol trong 10,0 ml nước) từ -0,10
o
đến
+0,10
o
.
• Cực đại hấp thụ (dung dịch trong methanol): 225; 275; 283 nm.
• pKa: 9,6.
• Log P: hệ số phân bố (n-octanol/đệm phosphat) 0,008 (pH 7,0); 0,052 (pH 8,0).
1.1.2. Dược lý và cơ chế tác dụng
a) Tác dụng và cơ chế tác dụng
* Theo nghiên cứu của McCoy R. và cộng sự khi tiến hành thử nghiệm trên
người, S-atenolol có tác dụng ức chế chọn lọc β
1
-adrenergic hơn khoảng 40 lần
và có ít tác dụng phụ như loạn nhịp, đánh trống ngực so với R- atenolol [20].
b) Dược động học
Sau khi uống thuốc đạt nồng độ tối đa trong huyết tương trong vòng từ 2 -
4 giờ. Sinh khả dụng xấp xỉ 45%, nhưng có sự khác nhau tới 3 - 4 lần giữa các
người bệnh. Thể tích phân bố là 0,7 lít/kg. Atenolol chỉ được chuyển hóa một
lượng nhỏ. Phần lớn liều thuốc dùng được bài tiết qua thận dưới dạng không
- 5 -
thay đổi. Nửa đời trong huyết tương của thuốc từ 6 - 9 giờ đối với người lớn có
chức năng thận bình thường. Nửa đời trong huyết tương của thuốc tăng lên đối
với người có chức năng thận giảm và không bị ảnh hưởng bởi bệnh gan.
c) Chỉ định
Tăng huyết áp, đau thắt ngực mạn tính ổn định, nhồi máu cơ tim sớm (trong
vòng 12 giờ đầu) và dự phòng sau nhồi máu cơ tim, loạn nhịp nhanh trên thất.
d) Chống chỉ định
Sốc tim, suy tim không bù trừ, blốc nhĩ - thất độ II và độ III, chậm nhịp tim
có biểu hiện lâm sàng. Không được dùng kết hợp với verapamil.
e) Dạng thuốc và hàm lượng
• Viên nén 25 mg, 50 mg và 100 mg.
• Thuốc tiêm tĩnh mạch 5 mg/10 ml [2].
Một số chế phẩm chứa atenolol dạng racemic trên thị trường như viên nén
Tenormin 50 mg và 100 mg (Astra-Zeneca), Atenolol Stada 50 mg (Công ty TNHH
Liên doanh Stada Việt Nam), Tenocar 50mg, Teginol 50 mg (Công ty cổ phần
Dược Hậu Giang); thuốc tiêm Tenormin 5 mg.
1.2 TỔNG QUAN VỀ KỸ THUẬT ĐIỆN DI MAO QUẢN
1.2.1 Khái niệm
dung dịch đệm làm việc, do đó trị số EOF thay đổi theo pH. Ở pH thấp, nhóm
silanol nói chung có độ ion hóa thấp và dòng EOF nhỏ. Ở pH cao hơn, nhóm silanol
bị ion hóa nhiều hơn và dòng EOF tăng.
- 7 - Hình 1.3: Sự hình thành dòng EOF
Ngoài pH dung dịch đệm, dòng EOF sẽ thay đổi khi:
• Lực ion của dung dịch tăng lên, làm giảm thế Zeta nên dòng EOF giảm.
• Trong một số trường hợp, các dung môi hữu cơ như methanol hay acetonitril
được cho thêm vào dung dịch đệm để dễ hòa tan chất phân tích, hằng số điện
môi của dung dịch điện di giảm xuống kéo theo sự giảm của EOF.
Detector được đặt về phía đầu catod của mao quản. Dòng EOF thường lớn
hơn linh độ điện di. Do vậy, ngay cả anion cũng bị đẩy về phía catod và detector.
Khi sử dụng đệm phosphat pH 7,0 ở mao quản không có lớp bao, thông thường
trình tự xuất hiện các chất tan trong điện di đồ là các cation, các chất trung tính và
các anion.
Hiện nay, có 5 loại điện di mao quản chủ yếu:
• Điện di mao quản vùng (capillary zone electrophoresis - CZE) còn gọi là
điện di dung dịch tự do hay điện di mao quản dòng tự do.
• Sắc ký mixen điện động, còn gọi là sắc ký điện động mixen (micellar
electrokinetic chromatography - MEKC).
• Điện di mao quản gel (capillary gel electrophoresis - CGE).
• Điện di mao quản hội tụ đẳng điện (capillary isoelectric focusing - CIEF)
• Điện di mao quản đẳng tốc (capillary isotachophoresis - CITP) [1], [6].
1.2.3 Điện di mao quản vùng
Trong điện di mao quản vùng, quá trình tách được kiểm soát bằng sự khác
nhau về linh độ tương đối của từng thành phần trong mẫu thử hoặc dung dịch thử.
- 8 -
ν
eo
= µ
eo
(V/L)
Trong đó: µ
eo
là linh độ dòng EOF (cm
2
/V.s).
Thời gian di chuyển (t
m
), tính bằng giây, cần thiết cho chất tan di chuyển trên
toàn bộ chiều dài hiệu dụng (l) của mao quản (từ đầu vào đến detector), t
m
được
biểu thị bằng hệ thức sau:
t
m
= l/E.(µ
ep
+ µ
eo
)= lL/V.(µ
ep
+ µ
eo
)
Trong đó: E là cường độ điện trường (E = V/L)
Hiệu lực của hệ thống điện di được biểu thị bằng số đĩa lý thuyết (N), được
góc quay của mặt phẳng ánh sáng phân cực.
Dạng đồng phân quang học đơn giản nhất xuất hiện trong trường hợp khi
hợp chất có thể tồn tại dưới hai dạng đồng phân lập thể có cấu tạo không chồng khít
lên nhau được. Ngoài sự khác biệt trong cấu trúc phân tử theo kiểu như sự khác biệt
giữa bàn tay phải và bàn tay trái, còn tất cả các tính chất lý học thông thường của
các đồng phân đó là giống nhau, trừ khả năng quay mặt phẳng ánh sáng phân cực
theo những góc bằng nhau nhưng ngược chiều.
Chất có khả năng làm quay mặt phẳng của ánh sáng phân cực một góc α nào
đó, người ta gọi chất đó là chất hoạt quang (hoạt động quang học). Hỗn hợp racemic
có chứa số phân tử bằng nhau của mỗi dạng đối quang, độ quay cực tổng cộng do
đó bằng không [5].
1.3.2. Phương pháp phân tách đồng phân đối quang
1.3.2.1 Phương pháp phân tách đồng phân đối quang gián tiếp
Phương pháp này dựa trên một phản ứng hóa học giữa hai đồng phân đối
quang với một hợp chất bất đối tạo thành hỗn hợp hai đồng phân lập thể nhưng
không đối quang trước khi được phân tách bằng điện di. Được thể hiện như sơ đồ:
(R,S)-C + (S)-D [(R)-C-(S)-D] + [(S)-C-(S)-D]
Trong đó:
( ) ( )
[
]
2
1
21
/18,0
eoepepep
DVR
µµµµ
+−=
- 10 -
phương pháp thông thường không đem lại kết quả. Tuy nhiên, các đồng phân này có
- 11 -
khả năng tương tác khác nhau với một số chất đặc biệt, gọi là tác nhân chọn lọc đối
quang. Khi có mặt trong hệ thống phân tích, chúng sẽ tương tác với hỗn hợp đồng
phân quang học. Quá trình tách đồng phân này đạt được do sự khác nhau về năng
lượng tương tác của tác nhân chọn lọc đối quang với mỗi đồng phân.
Tác nhân chọn lọc đối quang hoặc có thể được thêm vào dung dịch điện ly
nền hoặc được gắn lên thành mao quản, hoặc được cố định hay gắn lên các hệ gel
để tạo một môi trường chọn lọc đối quang mà tương tác với hai đồng phân đối
quang trong suốt quá trình điện di dựa trên sự hình thành phức đồng phân lập thể
không đối quang tạm thời. Các phức tạm thời di chuyển về phía detector với vận tốc
khác nhau chỉ khi chúng có hằng số bền khác nhau. Các tương tác tương đối yếu
tham gia vào quá trình hình thành đồng phân lập thể không đối quang gồm liên kết
hydro, tương tác kỵ nước, liên kết π-π, lưỡng cực - lưỡng cực. Độ tinh khiết quang
học của tác nhân chọn lọc đối quang trong phương pháp tách trực tiếp không phải là
một yếu tố quan trọng như trong phương pháp tách gián tiếp; trên thực tế, các tạp
chất chỉ ảnh hưởng đến độ phân giải và đã được chỉ ra rằng kết quả tương đối tốt có
thể thu được bằng cách sử dụng tác nhân chọn lọc đối quang có chứa tới 10% đồng
phân đối quang còn lại [15], [16], [22].
Các tác nhân chọn lọc đối quang có bản chất hóa học khá đa dạng và được
chia thành các nhóm chính sau [11]:
− Nhóm 1: có bản chất protein (albumin huyết thanh (HSA, BSA), α1- acid
glycoprotein – AGP, ovalbumin trong trứng gà…), cyclopeptid, một số
kháng sinh macrocyclic glycopeptid (vancomycin, teicoplanin, avoparcin,
tubocuracin…) đã được dùng để tách nhiều đồng phân đối quang.
− Nhóm 2: Các oligosaccharid không vòng và dẫn chất polysaccharid. Một số
phân tử hay dùng như dẫn chất maltose, lactose, sucrose, amylose, cellulose.
− Nhóm 3: Chất chọn lọc đối quang dựa trên cấu trúc tạo thành một “hốc”
chọn lọc đối quang (chiral cavity). Gồm các cyclodextrin (CD) và dẫn chất
với việc phân tích hợp chất phân cực và tích điện. Các chất chọn lọc hoạt quang sử
dụng trong điện di mao quản chính là các chất chọn lọc đối quang được sử dụng các
pha tĩnh của HPLC. Tuy nhiên trong phương pháp điện di mao quản, các chất chọn
- 13 -
lọc đối quang được hòa tan vào dung dịch điện ly nền (BGE) và tạo phức chất
không đối quang (diastereomeric complexes) với các đồng phân R, S của chất phân
tích. Từ các tính chất điện di khác nhau của các phức này khiến chúng có thể tách
khỏi hỗn hợp racemic.
Ưu điểm của phương pháp CE cho phép điều chỉnh linh hoạt điều kiện phân
tích để tối ưu hóa kết quả, độ đặc hiệu cao và thời gian phân tích ngắn, giá thành
phân tích cũng giảm đi nhiều so với phương pháp HPLC sử dụng cột sắc ký có gắn
chất chọn lọc hoạt quang đắt tiền, đồng thời lượng mẫu sử dụng ít giúp tiết kiệm
hóa chất phân tích [27].
Việc tách đồng phân đối quang bằng CE có thể được thực hiện bằng phương
pháp gián tiếp hoặc trực tiếp. Các phương pháp trực tiếp thuận lợi hơn các phương
pháp gián tiếp do sự đơn giản và tính sẵn có của một loạt các tác nhân chọn lọc đối
quang như cyclodextrins (CDs), ether vòng được tetracarboxylat hóa và kháng sinh
tạo phức lồng với các đồng phân đối quang. Trong số đó, CD là tác nhân chọn lọc
đối quang được sử dụng phổ biến nhất. Ngoài các CD tự nhiên, các dẫn xuất CD
khác nhau đã được thương mại hóa và chúng mang lại độ chọn lọc cao trong tách
đồng phân đối quang. Bên cạnh cơ chế tạo phức lồng, các cơ chế khác dùng để tách
đồng phân đối quang gồm trao đổi phối tử, tương tác ái lực (ví dụ: việc sử dụng
protein, kháng sinh là tác nhân chọn lọc đối quang), và tương tác mixen (ví dụ: sử
dụng các bề mặt tự nhiên hay tổng hợp là tác nhân chọn lọc đối quang)[17].
Một số nghiên cứu dùng phương pháp CE sử dụng CM-β-CD làm tác nhân
chọn lọc đối quang trong phân tích đồng phân quang học như phân tách
chlorpheniramin maleat, amlodipin, lamivudin, ofloxacin [7], [12].
1.4.TÁCH ĐỒNG PHÂN ĐỐI QUANG BẰNG CE SỬ DỤNG
CYCLODEXTRIN LÀ TÁC NHÂN CHỌN LỌC ĐỐI QUANG.
1,75 ± 0,04
Thể tích khoang (nm
3
)
0,176 0,346 0,510
Độ tan trong nước ở 25
0
C (g/100ml)
14,50 1,82 23,20
Giá trị pK
a
cho nhóm hydroxyl
12,1-12,6 12,1-12,6 12,1-12,6
Các nhóm hydroxyl có mặt trên vành của CD có thể dễ dàng được thay thế
bởi các phản ứng hóa học để có được các dẫn xuất CD với các mức độ thế khác
nhau, các thành phần CD biến đổi phụ thuộc vào một số thông số như điều kiện
- 15 -
phản ứng, loại và tỷ lệ thuốc thử…Một số lượng lớn các dẫn xuất của CD hiện đang
được sử dụng trong CE để phân tích đồng phân đối quang như dẫn xuất methyl,
hydroxyethyl, hydroxypropyl, acetyl hóa không tích điện và các dẫn xuất
methylamino, sulphobutylether, carboxymethyl, sulfat, photphat hóa tích điện. Các
dẫn xuất của CD có thể biểu hiện tính chất rất khác so với những CD tự nhiên, có
thể được sử dụng dễ dàng để cải thiện độ chọn lọc trong tách đồng phân đối quang,
ví dụ như tăng độ tan, tăng khả năng tạo ra các liên kết thứ cấp khác nhau, tiềm
năng trong phân tích những hợp chất không tích điện, mức độ kị nước khác nhau
của hốc kị nước. Ví dụ, so sánh β - CD và DM - β- CD, có thể thấy rằng sự có mặt
của các nhóm methoxy làm tăng hoặc độ sâu hoặc độ tan của tác nhân chọn lọc đối
quang với CD. Đồng phân tạo phức lồng bền hơn thì có linh độ hiệu dụng thấp hơn.
Linh độ hiệu dụng là linh độ trung bình hoặc biểu kiến của chất tan trong điều kiện
thử nghiệm, nhưng trong hầu hết các trường hợp, chúng ta sử dụng đơn giản là linh
độ [24].
Phân tách đồng phân đối quang có thể bị ảnh hưởng bởi các yếu tố như: loại
và nồng độ CD, pH, thành phần của BGE, nhiệt độ mao quản, hiệu điện thế…[14]
1.5 MỘT SỐ NGHIÊN CỨU PHÂN TÍCH ĐỒNG PHÂN ĐỐI QUANG CỦA
ATENOLOL.
1.5.1. Nghiên cứu trong nước.
Nhóm tác giả Tạ Mạnh Hùng, Trịnh Văn Lẩu, Nguyễn Thị Thu Hiền, Nguyễn
Thị Kiều Anh [9], đã tách và định lượng đồng phân đối quang của atenolol bằng
phương pháp sắc ký lỏng hiệu năng cao sử dụng:
• Cột Chirex 3022 ((S)-indoline-2-carboxylic acid và (R)-1-(α-
naphtyl)ethylamine) kích thước 4,0 x 250 mm; 5 µm.
• Pha động: n-hexan/ 1,2 dicloromethan/ methanol / acid trifluoroacetic tỷ lệ
57,5/35/7,5/0,2 (v/v/v/v).
• Bước sóng phát hiện: 229 nm.
• Thể tích tiêm mẫu: 20 µL.
• Tốc độ dòng: 1 ml/ phút.
• Nồng độ chất phân tích: 0,05 mg/ml (racemic).