MỤC LỤC
2
DANH MỤC BẢNG, BIỂU ĐỒ 3
PHẦN MỞ ĐẦU 1
1. LÝ DO CHỌN ĐỀ TÀI 1
2. MỤC ĐÍCH NGHIÊN CỨU 4
3. NHIỆM VỤ NGHIÊN CỨU 4
4. ĐỐI TƯỢNG VÀ PHẠM VI NGHIÊN CỨU 4
5. PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 5
6. GIẢ THUYẾT KHOA HỌC 5
7. ĐÓNG GÓP CỦA ĐỀ TÀI 6
8. CẤU TRÚC CỦA LUẬN VĂN 6
Chương 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ GDHN VÀ QUẢN LÝ HOẠT ĐỘNG GDHN Ở
TRƯỜNG TRUNG HỌC PHỔ THÔNG 7
1.1. LỊCH SỬ NGHIÊN CỨU VẤN ĐỀ 7
1.1.1 Nghiên cứu công tác hướng nghiệp 7
1.1.2. Nghiên cứu quản lý GDHN: 12
1.2. QUẢN LÝ GIÁO DỤC 13
1.3 GIÁO DỤC HƯỚNG NGHIỆP 15
1.3.1. Tiếp cận khái niệm “GDHN” 15
1.3.2. Ý nghĩa của GDHN cho học sinh phổ thông 17
1.3.3. Nhiệm vụ cơ bản của GDHN ở trường phổ thông 19
1.3.4. Các cách hướng nghiệp cho học sinh trong nhà trường phổ thông 21
1.4. BIỆN PHÁP QUẢN LÝ HOẠT ĐỘNG GDHN TRONG TRƯỜNG PHỔ THÔNG
25
1.5. BẬC TRUNG HỌC PHỔ THÔNG VÀ LỨA TUỔI ĐẦU THANH NIÊN 26
1.5.1. Bậc học trung học phổ thông 26
1.5.2. Đặc trưng tâm lý lứa tuổi học sinh trung học phổ thông 27
KẾT LUẬN CHƯƠNG 1 31
Chương 2 THỰC TRẠNG CÔNG TÁC QUẢN LÝ 32
HOẠT ĐỘNG GDHN TRONG CÁC TRƯỜNG TRUNG HỌC 32
73
3.2.5. Nâng cấp cơ sở vật chất, thiết bị phục vụ giáo dục hướng nghiệp 80
3.2.6. Quan tâm hỗ trợ tư vấn cho học sinh và phụ huynh về sự lựa chọn nghề trong
GDHN 84
3.3. KHẢO NGHIỆM SỰ CẦN THIẾT VÀ KHẢ THI CỦA CÁC BIỆN PHÁP QUẢN
LÝ CÔNG TÁC GDHN Ở THÀNH PHỐ ĐIỆN BIÊN PHỦ 89
3.3.1. Phương pháp thăm dò sự cần thiết và khả thi của các biện pháp quản lý 89
KẾT LUẬN VÀ KHUYẾN NGHỊ 95
1. KẾT LUẬN 95
2. KHUYẾN NGHỊ 98
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 100
DANH MỤC BẢNG, BIỂU ĐỒ
Bảng 2.1: Nhận thức của học sinh về nghề nghiệp 38
Bảng 2.2: Sự quan tâm lựa chọn nghề của học sinh 39
Bảng 2.3: Sự mong muốn được trang bị thêm kiến thức về nghề nghiệp 40
Bảng 2.4: Những hiểu biết về nghề và nhu cầu lao động mà xã hội đang cần.42
Bảng 2.5: Những yếu tố có ảnh hưởng lớn đến chọn nghề của học sinh 43
Bảng 2.6: Các yếu tố ảnh hưởng đến việc chọn nghề của học sinh 46
Bảng 2.7: Hiểu biết của PHHS về nghề định chọn cho con em mình 48
Biểu đ‚ 3.1: Biểu đ‚ đánh giá tính rất cần thiết và rất khả thi của các biện
pháp 93
Biểu đ‚ 3.2: Biểu đ‚ đánh giá mức độ cần thiết của các biện pháp 93
Biểu đ‚ 3.3: Biểu đ‚ đánh giá tính khả thi của các biện pháp 93
PHẦN MỞ ĐẦU
1. LÝ DO CHỌN ĐỀ TÀI
Hiện nay, học sinh phổ thông thường chọn nghề một cách ngẫu nhiên,
theo cảm tính, không có hiểu biết cần thiết về nghề mà mình định lựa chọn;
do đó, gặp nhiều khó khăn trong học nghề, ảnh hưởng đến chất lượng đào tạo,
phát triển ngu‚n nhân lực, vừa lãng phí công lao đào tạo của nhà nước, vừa
làm chậm sự phát triển của cá nhân. Ngoài số học sinh được học lên đại học,
hệ thống trường lớp dạy nghề, dân lập, tư thục trang bị cho thanh niên những
kiến thức sản xuất, kỹ năng lao động và năng lực tiếp thu công nghệ mới, để
tạo việc làm, chủ động tìm kiếm cơ hội lập thân, lập nghiệp”[24]. Nghị quyết
Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ X của Đảng tiếp tục khẳng định “Phát triển
mạnh hệ thống giáo dục nghề nghiệp, tăng nhanh quy mô đào tạo cao đẳng
nghề, trung cấp nghề cho các khu vực công nghiệp, các vùng kinh tế động lực
và cho xuất khẩu lao động”. [40]
Vấn đề hướng nghiệp có vai trò đặc biêt quan trọng trong bối cảnh đất
nước ta đang đẩy mạnh công nghiệp hoá, hiện đại hoá đối với vùng núi, vùng
có đ‚ng bào dân tộc thiểu số lại càng phải quan tâm tới phát triển giáo dục,
trong đó có GDHN. Đó là sự cụ thể hoá nghị quyết Đại hội XI của Đảng về
“Phát triển nhanh và nâng cao chất lượng giáo dục ở vùng khó khăn, vùng
núi, vùng đ‚ng bào dân tộc thiểu số”.
T€nh Điện Biên nói chung, thành phố Điện Biên Phủ nói riêng là một
địa bàn trọng yếu của vùng Tây Bắc, tuy đã được Đảng và Nhà nước quan
tâm đầu tư phát triển về giáo dục, nhưng so với yêu cầu chung vẫn còn nhiều
bất cập, trong đó có những bất cập về GDHN.
Khi cả nước đang trên con đường công nghiệp hóa, hiện đại hóa, thế
giới đã và đang bước vào nền kinh tế tri thức, sự chuyên môn hóa trong sản
2
xuất ngày càng ở trình độ cao thì rất cần ngu‚n lao động có trình độ, có
năng lực, đáp ứng yêu cầu của toàn xã hội. Để đáp ứng yêu cầu đó thì hệ
thống giáo dục quốc dân, trước hết là ở bậc Trung học phổ thông cần giúp các
em có định hướng nghề nghiệp rõ ràng, chính xác phù hợp với khả năng, sở
thích của bản thân và phù hợp với yêu cầu của xã hội. Nhằm tránh tình trạng
học sinh lựa chọn vào những ngành nghề không phù hợp với năng lực bản
thân, sau khi được đào tạo mà không có việc làm, không đáp ứng được yêu
cầu xã hội, đào tạo lệch lạc. Chính vì vậy hệ thống giáo dục của nước ta đã và
đang có sự phân lu‚ng học sinh, bắt đầu quan tâm đến hướng nghiệp cho học
sinh THPT, nhất là ở những lớp cuối cấp.
- Đánh giá thực trạng công tác quản lý hoạt động GDHN trong các
trường THPT ở thành phố Điện Biên Phủ.
- Đề xuất một số biện pháp quản lý hoạt động GDHN cho học sinh các
trường THPT ở thành phố Điện Biên Phủ.
4. ĐỐI TƯỢNG VÀ PHẠM VI NGHIÊN CỨU
4.1. Đối tượng nghiên cứu
Nghiên cứu nội dung và biện pháp quản lý của Hiệu trưởng các trường
THPT ở thành phố Điện Biên Phủ đối với hoạt động GDHN cho học sinh
(g‚m: trường THPT chuyên Lê Quý Đôn; trường THPT thành phố Điện Biên
Phủ; trường THPT Phan Đình Giót; trường PTDTNT t€nh).
4.2. Phạm vi nghiên cứu
- Giới hạn nội dung: Nghiên cứu quản lý hoạt động GDHN trong các
trường Trung học phổ thông; vận dụng vào 4 trường ở thành phố Điện Biên
Phủ.
- Giới hạn đối tượng khảo sát (theo mẫu đại diện):
4
+ Khảo sát việc học nghề, chọn nghề của học sinh khối 10, 11, 12 các
trường Trung học phổ thông ở thành phố Điện Biên Phủ.
+ Khảo sát công tác giáo dục nghề nghiệp của giáo viên, cán bộ quản lý
các trường Trung học phổ thông ở thành phố Điện Biên Phủ.
+ Phỏng vấn phụ huynh học sinh (khối 12) về việc định hướng nghề
nghiệp cho học sinh.
5. PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
5.1. Phương pháp nghiên cứu lý thuyết
- Hệ thống hóa chủ trương, chính sách của Đảng, Nhà nước về công tác
dạy nghề.
- Hệ thống hóa những vấn đề lý luận về quản lý GDHN ở trường
THPT.
5.2. Phương pháp nghiên cứu thực tiễn
- Điều tra bằng phiếu hỏi để có thông tin về công tác giáo dục nghề ở
6
Chương 1
CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ GDHN VÀ QUẢN LÝ HOẠT ĐỘNG GDHN
Ở TRƯỜNG TRUNG HỌC PHỔ THÔNG
1.1. LỊCH SỬ NGHIÊN CỨU VẤN ĐỀ
1.1.1 Nghiên cứu công tác hướng nghiệp
1.1.1.1 Ở nước ngoài:
Ở lĩnh vực nghề nghiệp, việc chọn nghề và nhất là mối quan hệ giữa
người lao động với nghề nghiệp đã được nhiều nhà khoa học của nhiều quốc
gia quan tâm nghiên cứu, nhằm giúp cho học sinh sinh viên có sự chọn lựa
nghề nghiệp phù hợp với năng lực, thể lực, trí tuệ, hứng thú cá nhân và yêu
cầu kinh tế của đất nước.
- Thế kỷ 19 (năm 1848), những người làm công tác hướng nghiệp ở
Pháp đã xuất bản cuốn sách: “Hướng nghiệp chọn nghề” nhằm giúp đƒ thanh
niên trong việc lựa chọn nghề nghiệp để sử dụng có hiệu quả năng lực lao
động của thế hệ trẻ.
Cộng hòa Pháp là một trong những nước đã phát triển hướng học,
hướng nghiệp và tư vấn nghề sớm nhất trên thế giới. Ngày 25-12-1922 Bộ
Công nghiệp và Thương nghiệp Cộng hòa Pháp đã ban hành nghị định về
công tác hướng học, hướng nghiệp và thành lập Sở Hướng nghiệp cho thanh
niên dưới 18 tuổi; tới ngày 24-5-1938 công tác hướng nghiệp đã mang tính
pháp lý thông qua quyết định ban hành chứng ch€ hướng nghiệp bắt buộc đối
với tất cả thanh niên dưới 17 tuổi, trước khi trở thành người làm việc trong
các xí nghiệp thủ công, công nghệ hoặc thương nghiệp. Từ năm 1960, Pháp
đã tiến hành thành lập hệ thống các trung tâm thông tin hướng học và hướng
nghiệp từ Bộ Giáo dục đến khu, t€nh, huyện và cụm trường.
Năm 1975, nước Pháp đã tiến hành cải cách giáo dục để hiện đại hóa
nền giáo dục. Cải cách giáo dục ở Pháp chú ý đặc biệt chăm lo giảng dạy lao
động và nghề nghiệp cho học sinh, khắc phục khuynh hướng và quan niệm
7
đoạn mà thế hệ trẻ lựa chọn cho mình con đường bước vào cuộc sống lao
động thực sự. Hướng nghiệp tạo điều kiện cho học sinh lựa chọn một trong
nhiều con đường khác nhau, giúp thế hệ trẻ có cơ hội học tập, tiếp cận đúng
nghề nghiệp phù hợp khả năng cá nhân, tránh lãng phí cho gia đình, xã hội.
1.1.1.2. Ở Việt Nam.
Chủ tịch H‚ Chí Minh và Đảng ta rất coi trọng vận dụng sáng tạo các
quan điểm giáo dục của chủ nghĩa Mác - Lênin nhằm đào tạo lớp người lao
động mới. Từ năm 1960, Bác H‚ đã dạy: “Trong việc giáo dục và học tập
phải chú trọng đủ các mặt: đạo đức cách mạng, giác ngộ xã hội chủ nghĩa, văn
hóa, kĩ thuật, lao động và sản xuất”. Người cũng đã sớm tìm ra:
“Nhà trường xã hội chủ nghĩa là nhà trường:
- Học đi với lao động
- Lý luận đi với thực hành
- Cần cù đi với tiết kiệm
Trong bài báo “Học hay, cày giỏi”, Chủ tịch H‚ Chí Minh đã đề cập
đến một yếu tố mới của giáo dục, đó là phải coi trọng “Việc cung cấp cho học
sinh những tri thức cơ bản về kĩ thuật sản xuất công nghiệp và nông nghiệp”
và “Những ngành sản xuất chủ yếu” trong xã hội. Đó cũng chính là những nội
dung giáo dục kĩ thuật nghề nghiệp của giáo dục nước ta lúc bấy giờ.
Ngày 19-3-1981, Hội đ‚ng Chính phủ đã ban hành Quyết định số
126/CP về "Công tác hướng nghiệp trong trường phổ thông và việc sử dụng
học sinh các cấp phổ thông cơ sở và phổ thông trung học tốt nghiệp ra
trường". Có thể coi quyết định này là một cột mốc quan trọng đối với sự phát
triển giáo dục trong hệ thống nhà trường phổ thông, bởi từ thời điểm ấy,
hướng nghiệp được chính thức coi như là một nội dung giáo dục và đ‚ng thời
được coi như một hoạt động có trong các tiết dạy của các môn học.
9
Tuy nhiên, vào cuối thập kỷ 80 của thế k€ XX, do nhiều yếu tố khác
nhau, xu thế tách học với hành, giáo dục với lao động sản xuất ngày càng tăng
lên. Vai trò của công tác hướng nghiệp dần dần bị coi nhẹ, việc học nghề của
hướng nghiệp là loại hoạt động của nhiều cơ quan khác nhau nhằm giúp cho
con người chọn nghề phù hợp với nhu cầu của xã hội và nguyện vọng, sở
trường của cá nhân. [1]
- Tác giả Nguyễn Toàn đã nêu mục tiêu của công tác hướng nghiệp là:
Học sinh phải được trang bị một cách hệ thống những hiểu biết và kỹ năng
lao động cần thiết để lựa chọn nghề nghiệp, để làm được những nghề phổ
thông, những nghề phổ biến ở địa phương hoặc tiếp tục học nghề một cách
thuận lợi, thích nghi nhanh chóng với những thay đổi về việc làm. [36]
- Tác giả Nguyễn Văn Hộ đã đề cập vấn đề: “Thiết lập và phát triển hệ
thống hướng nghiệp cho học sinh Việt Nam”, nhằm thúc đẩy công tác ch€
đạo, quản lý GDHN trong trường phổ thông. [29]
- Tác giả Phạm Tất Dong có bài viết: “Công tác hướng nghiệp trong
giai đọan hiện nay” [21] đã đề cập đến vấn đề: Đổi mới nội dung hướng
nghiệp trong nhà trường hiện nay đang là một yêu cầu ngày càng cấp thiết và
xác định trong những năm tới, công tác hướng nghiệp phải đóng góp hơn nữa
vào việc giải quyết việc làm cho thanh, thiếu niên, định hướng thế hệ trẻ vào
những lĩnh vực sản xuất cần phát triển, tạo ra cho mỗi thanh, thiếu niên nhiều
khả năng để tự tạo ra việc làm.
Nhìn chung các công trình của các tác giả nêu trên đều tập trung vào
nghiên cứu cơ sở lý thuyết và thực tiễn của hoạt động hướng nghiệp với mục
đích, ý nghĩa, nội dung, hình thức tổ chức hướng nghiệp cho học sinh phổ
thông. Những công trình nghiên cứu đó tuy chưa tương xứng với thực tế giáo
dục, nhưng cũng đã góp phần tạo chuyển biến trong nhận thức và hỗ trợ
11
chuyên môn nghiệp vụ cho cán bộ quản lý thực hiện quản lý đối với công tác
GDHN.
1.1.2. Nghiên cứu quản lý GDHN:
Quản lý nhà trường bao g‚m các hoạt động: quản lý giáo viên; quản lý
học sinh; quản lý quá trình dạy học - giáo dục; quản lý cơ sở vật chất, trang
thiết bị trường học; quản lý tài chính trường học trong đó quản lý hoạt động
cùng với lao động và ngôn ngữ. Giáo dục thực hiện chức năng truyền thụ và lĩnh
hội kinh nghiệm lịch sử của xã hội loài người từ thế hệ này qua thế hệ khác.
Trong nền văn minh công nghiệp hiện đại, giáo dục càng có vai trò vô
cùng quan trọng góp phần quyết định vào sự hưng thịnh của một quốc gia,
một dân tộc trong mối tương quan với các quốc gia, dân tộc khác. Chính vì
vậy mà ngày càng có nhiều quốc gia trên thế giới đặc biệt quan tâm đầu tư
ngu‚n lực cho giáo dục, đặt giáo dục vào vị trí chiến lược quốc sách hàng
đầu, coi giáo dục là chìa khóa bước vào xã hội tương lai, là động lực thúc đẩy
sự phát triển của đất nước. Để phát huy sức mạnh tổng hợp và các chức năng
đặc biệt của hoạt động giáo dục, các nhà khoa học đã và đang quan tâm đặc
biệt đến vấn đề quản lý giáo dục, tức là vấn đề điều khiển quá trình giáo dục,
rèn luyện con người, mà đặc biệt là hệ thống nhà trường - nơi giáo dục và rèn
luyện thế hệ trẻ.
Quản lý giáo dục là gì ?
- Theo M.M.MêchtiZade: Quản lý giáo dục là tập hợp những biện pháp
(tổ chức, phương pháp, cán bộ, kế hoạch, tài chính, cung tiêu ) nhằm đảm
bảo sự vận hành bình thường của các cơ quan trong hệ thống giáo dục, đảm bảo
sự tiếp tục phát triển và mở rộng hệ thống cả về mặt số lượng và chất lượng.
- Theo P.V. Khuđôminxky: Quản lý giáo dục là tác động có hệ thống,
có kế hoạch, có ý thức và có mục đích của chủ thể quản lý ở các cấp khác
nhau đến tất cả các khâu của hệ thống (từ Bộ, Sở, Phòng Giáo dục đến trường
13
học) nhằm mục đích đảm bảo giáo dục cộng sản chủ nghĩa cho thế hệ trẻ, đảm
bảo sự phát triển toàn diện và hài hòa của họ, trên cơ sở nhận thức và sử dụng
các quy luật chung vốn có của chủ nghĩa xã hội cũng như những quy luật
khách quan của quá trình dạy học - giáo dục của sự phát triển về thể chất, tinh
thần của thế hệ thanh niên.
- Tác giả Nguyễn Ngọc Quang định nghĩa quản lý giáo dục như sau: “
Quản lý giáo dục là hệ thống những tác động có mục đích, có kế hoạch hợp
qui luật của chủ thể quản lý (hệ giáo dục) nhằm làm cho hệ vận hành theo
Có nhiều quan niệm khác nhau về hướng nghiệp. Sự khác nhau này là do
bắt ngu‚n từ những cách quan sát khác nhau, với góc độ chuyên môn khác nhau:
- Các nhà giáo dục học cho rằng: “Hướng nghiệp là một hoạt động của
các tập thể sư phạm, của các cán bộ thuộc các cơ quan, nhà máy khác nhau,
được tiến hành với mục đích giúp cho học sinh chọn nghề đúng đắn phù hợp
với năng lực, hứng thú, thể lực và tâm lý của cá nhân với nhu cầu nhân lực
của xã hội. Hướng nghiệp là một bộ phận cấu thành của quá trình giáo dục -
học tập trong nhà trường.”
- Trong tâm lý học, hướng nghiệp được coi là hệ thống các biện pháp
tâm lý - sư phạm và y học giúp cho thế hệ trẻ chọn nghề có tính đến nhu cầu
của xã hội và năng lực của bản thân. Đó là quá trình chuẩn bị cho thế hệ trẻ sự
sẵn sàng tâm lý đi vào lao động nghề nghiệp. Sự sẵn sàng tâm lý đó chính là
tâm thế lao động - một trạng thái tâm lý tích cực trước hoạt động lao động.
- Các nhà kinh tế lại cho rằng “hướng nghiệp là những mối quan hệ
kinh tế giúp cho mỗi thành viên xã hội phát triển năng lực lao động và đưa họ
vào một lĩnh vực hoạt động cụ thể phù hợp với sự phân bổ lực lượng lao động
xã hội”.
- Hiểu hướng nghiệp trên bình diện xã hội:
15
Toàn bộ các nhà máy, xí nghiệp, công trường, nông trường các cơ
quan quản lý kinh tế và quản lý nhà nước, cơ quan đoàn thể chính trị và xã
hội đều cần những người có năng lực và những phẩm chất nhân cách phù
hợp. Để chọn được người theo đúng tiêu chuẩn đã định, cơ quan tổ chức nói
trên có nhiệm vụ làm cho thế hệ trẻ hiểu được nội dung, tính chất, đặc điểm,
điều kiện công tác của cơ quan mình, giúp họ tìm hiểu những nghề nghiệp
chuyên môn mà cơ quan mình cần tuyển chọn. Cuối cùng, các cơ quan, cơ sở
sản xuất phải tuyển chọn người trên cơ sở nguyện vọng và dự định nghề
nghiệp của cá nhân.
Có thể nói rằng, hướng nghiệp là công việc mà toàn xã hội có trách
nhiệm tham gia. Trong những điều kiện lý tưởng, các em cần được hướng
Từ khái niệm và các cách tiếp cận trên đây, có thể hiểu “GDHN” là:
- GDHN là quá trình định hướng cho học sinh nhận biết được nghề
nghiệp xã hội, tự lựa chọn xu hướng học nghề sao cho bảo đảm tính phù hợp
với năng khiếu, sở trường và điều kiện cho phép.
- GDHN được tổ chức một cách khoa học, dựa trên những nguyên tắc
sư phạm, đưa học sinh tiếp cận với tài liệu, thâm nhập thực tế, làm quen với công
việc mà học sinh dự kiến sẽ lựa chọn, nhờ đó hiệu quả GDHN sẽ tốt hơn.
- GDHN là trách nhiệm của xã hội, trong đó trách nhiệm của nhà
trường và phụ huynh học sinh, của các tổ chức đoàn thể, của hội nghề nghiệp
phải được đề cao.
1.3.2. Ý nghĩa của GDHN cho học sinh phổ thông
1.3.2.1. Ý nghĩa giáo dục
GDHN là một bộ phận của công tác giáo dục xã hội chủ nghĩa. Về
phương diện này, hướng nghiệp là công việc điều ch€nh động cơ chọn nghề
của học sinh, điều ch€nh hứng thú nghề nghiệp của các em theo xu thế phân
17
công lao động xã hội. Kinh nghiệm cho thấy, sự chọn nghề một cách tự phát
của thanh, thiếu niên thường không phù hợp với hướng phát triển sản xuất và
ngành nghề trong xã hội. Vì vậy, tác động giáo dục trong quá trình hướng
nghiệp có ý nghĩa rất đặc biệt. Kết quả cuối cùng cần đạt là mỗi học sinh phải
tự giác chọn nghề với ý thức đặt lợi ích của sự phát triển sản xuất lên trên
những nguyện vọng cá nhân.
Hướng nghiệp với ý nghĩa giáo dục sẽ là một hoạt động góp phần cụ
thể hóa mục tiêu đào tạo của trường phổ thông. Trong giai đoạn cách mạng
hiện nay, trường phổ thông phải đào tạo thế hệ trẻ thành những người lao
động trong một lĩnh vực nghề nghiệp cụ thể. Tốt nghiệp trường phổ thông,
học sinh phải có năng lực tham gia một nghề ở địa phương hoặc sẽ tiếp tục
học để sau này làm tốt một nghề. Như vậy, quá trình hướng nghiệp trong nhà
trường không dừng lại ở sự giáo dục ý thức lao động nghề nghiệp chung
chung, mà phải hướng học sinh đi vào nghề nghiệp cụ thể.
niên, hướng nghiệp kết hợp chặt chẽ với lao động sản xuất và dạy nghề có tác
dụng làm ổn định đời sống xã hội: góp phần tạo điều kiện để xã hội sử dụng
hết lực lượng học sinh phổ thông ra trường trong lĩnh vực kinh tế, kể cả kinh
tế quốc doanh, kinh tế ngoài quốc doanh và kinh tế gia đình.
1.3.3. Nhiệm vụ cơ bản của GDHN ở trường phổ thông
1.3.3.1. Nhiệm vụ trước mắt
- Giáo dục thái độ và ý thức đúng đắn với nghề nghiệp.
- Tổ chức cho học sinh học tập làm quen với một số nghề phổ biến
trong xã hội và các nghề truyền thống của địa phương.
- Tìm hiểu năng khiếu, khuynh hướng nghề nghiệp của từng học sinh
để khuyến khích, hướng dẫn, b‚i dưƒng khả năng nghề nghiệp thích hợp nhất.
- Động viên, hướng dẫn học sinh đi vào những nghề, những nơi đang
cần lao động trẻ tuổi có văn hóa.
19
1.3.3.2. Nhiệm vụ lâu dài
a. Định hướng nghề cho học sinh:
Định hướng nghề là việc thông tin cho học sinh biết về đặc điểm hoạt
động và yêu cầu phát triển của các nghề trong xã hội, đặc biệt là các nghề và
các nơi đang cần nhiều lao động trẻ tuổi có văn hóa, về những yêu cầu tâm
sinh lý của mỗi nghề, về tình hình phân công và yêu cầu điều ch€nh lao động
ở cộng đ‚ng dân cư, về hệ thống trường lớp đào tạo nghề của nhà nước, tập
thể và tư nhân.
Nhà trường cũng cần cung cấp những thông tin nói trên cho cha mẹ học
sinh nhằm mục đích phối hợp hướng nghiệp cho học sinh.
Sau việc thông tin nghề nghiệp phải tạo điều kiện cho học sinh làm
quen với một số nghề, để từ đó học sinh kiểm nghiệm hứng thú năng lực bản
thân, tự giác lựa chọn và đi vào một lĩnh vực nghề phù hợp nhất.
b. Tư vấn nghề đối với từng học sinh:
Công việc chủ yếu của tư vấn nghề là khảo sát đặc điểm tâm lý của
từng học sinh, đối chiếu các thuộc tính cơ bản nhất như hứng thú, năng lực,
1.3.4.2. Hướng nghiệp qua dạy - học môn "Công nghệ", dạy nghề
phổ thông và giáo dục lao động
- Hướng nghiệp qua dạy - học môn "Công nghệ": môn “Công nghệ” là
tên gọi của môn kỹ thuật trước đây, nay được dùng trong chương trình đổi
mới của giáo dục phổ thông ở bậc trung học cơ sở và bậc trung học phổ
thông. Chương trình môn công nghệ bao g‚m kỹ thuật phục vụ, kỹ thuật nông
nghiệp, kỹ thuật công nghiệp; ở bậc trung học phổ thông, chương trình tập
trung vào các lĩnh vực nông - lâm - ngư nghiệp, tạo lập doanh nghiệp và công
nghiệp.
21
Qua đó cho thấy môn công nghệ có khả năng hướng nghiệp rất lớn.
Mặc dù học sinh chưa thật sự đi sâu vào kỹ thuật nghề nghiệp, nhưng qua việc
học kỹ thuật các ngành nghề thuộc kỹ thuật phục vụ, kỹ thuật nông - lâm -
ngư nghiệp, công nghiệp , các em có điều kiện hiểu về những nghề thuộc các
ngành này trong xã hội. Nếu đảm bảo khâu thực hành được tiến hành một
cách đầy đủ nghiêm túc, học sinh sẽ được thử sức mình với hoạt động kỹ
thuật cụ thể, qua đó các em sẽ phát hiện và đánh giá đúng hơn năng lực kỹ
thuật của bản thân mình, hứng thú kỹ thuật được phát triển mạnh và ngày
càng bền vững. Đó là điều kiện rất thuận lợi cho việc định hướng nghề nghiệp
của các em.
- Hướng nghiệp qua hoạt động dạy nghề phổ thông:
Giáo dục nghề phổ thông là một hoạt động GDHN cho học sinh phổ
thông, một bộ phận của nội dung giáo dục toàn diện.
Giáo dục nghề phổ thông chuẩn bị một số kỹ năng lao động có kỹ thuật
cho học sinh và góp phần định hướng nghề để học sinh có thể vận dụng vào
cuộc sống lao động và lựa chọn hướng phát triển phù hợp với năng lực bản
thân, đ‚ng thời tạo điều kiện cho học sinh củng cố và vận dụng những hiểu
biết và kỹ năng được trang bị ở môn công nghệ và các môn học khác vào
những điều kiện thực tiễn cụ thể.
Giáo dục nghề phổ thông chính là một con đường để hướng nghiệp cho