VIỆN HÀN LÂM
KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI
VŨ THỊ THANH HUYỀN
CHÍNH SÁCH XÃ HỘI HOÁ HOẠT ĐỘNG VĂN HOÁ - TỪ
THỰC TIỄN HUYỆN AN LÃO THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG
LUẬN VĂN THẠC SĨ CHÍNH SÁCH CÔNG
HÀ NỘI, năm2015
VIỆN HÀN LÂM
KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI
VŨ THỊ THANH HUYỀN
CHÍNH SÁCH XÃ HỘI HOÁ HOẠT ĐỘNG VĂN HOÁ - TỪ
THỰC TIỄN HUYỆN AN LÃO THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG
Chuyên ngành: Chính sách công
Mã số : 60 34 04 02
LUẬN VĂN THẠC SĨ CHÍNH SÁCH CÔNG
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC
PGS.TS TRẦN THỊ AN
Hà Nội, năm 2015
LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi. Các số
liệu và kết quả trong luận văn là trung thực. Những ý kiến khoa học trong
luận văn chưa được ai công bố trong bất kỳ công trình nào khác.
Hải phòng, ngày 18 tháng 7 năm 2015
TÁC GIẢ LUẬN VĂN
Vũ Thị Thanh Huyền
i
LỜI CẢM ƠN
Trong quá trình thực hiện đề tài, tôi đã nhận được sự động viên và giúp
đỡ nhiệt tình từ các thầy cô giáo, các cơ quan đơn vị, gia đình và các bạn
iv
DANH MỤC CÁC BẢNG TRONG LUẬN VĂN
v
MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Từ sau Đổi mới (1986), cùng với việc tăng trưởng kinh tế, đời sống
văn hóa đã được chú ý. Các thiết chế văn hóa từng bước được nhà nước
đầu tư xây dựng, các hoạt động văn hóa được nhà nước và các tổ chức xã
hội đầu tư nhằm thỏa mãn nhu cầu hưởng thụ văn hóa của người dân.
Năm 1998, Nghị quyết TW 5 khóa VIII với phương châm “xây dựng nền
văn hóa tiên tiến đậm đà bản sắc văn hóa dân tộc” đã tạo hành lang cho
các hoạt động văn hóa được phát triển mạnh mẽ và thông thoáng hơn. Có
thể thấy, với sự triển khai mạnh mẽ, phong phú đó, sự hạn chế nguồn lực
của nhà nước đã khiến cho sự đầu tư dàn trải thiếu đi vào chiều sâu, từ đó,
tác động tiêu cực đến việc thực hành các hoạt động văn hóa và nhận thức
của người dân. Xuất phát từ tình hình đó, một nhu cầu tất yếu là phải thu
hút nguồn lực từ nhiều nguồn, trong đó, vốn xã hội hóa là nguồn lực tối
quan trọng.
Huyện An Lão là một trong những đơn vị luôn coi trọng nhiệm vụ phát
triển kinh tế gắn với phát triển văn hóa và giải quyết các vấn đề xã hội. Đây là
một trong những đơn vị điển hình của Hải Phòng làm tốt công tác XHH hoạt
động văn hóa nhằm phát huy sức mạnh tổng hợp của hệ thống chính trị và
toàn xã hội tham gia vào nhiệm vụ xây dựng và phát triển văn hóa trên địa
bàn huyện như: xây dựng đền thờ Trạng nguyên Trần Tất Văn, Tiến sỹ Lê
Khắc Cẩn, toàn huyện có nhiều câu lạc bộ thuộc các xã, nhà văn hoá, thành
lập các đội văn nghệ quần chúng. Hàng năm tổ chức các cuộc thi, liên hoan,
hội diễn, biểu diễn văn nghệ quần chúng; Góp phần đáp ứng nhu cầu về
hưởng thụ văn hóa của nhân dân.
Bên cạnh những kết quả đã đạt được, vấn đề XHH hoạt động văn hóa
ở Hải Phòng nói chung, An Lão nói riêng vẫn còn có nhiều hạn chế, cần
Các công trình này nghiên cứu khá nhiều nội dung, khía cạnh để xây
dựng và phát triển văn hóa ở Hải Phòng theo tinh thần Nghị quyết Trung
ương 5 (khóa VIII), nhưng cho đến nay, chưa có công trình nghiên cứu về
chính sách xã hội hóa hoạt động văn hóa trên địa bàn thành phố Hải Phòng và
các quận, huyện trên địa bàn thành phố một cách hệ thống và cụ thể, đề xuất
các nhiệm vụ, giải pháp về vấn đề xã hội hóa hoạt động văn hóa một cách
khoa học, khả thi.
3. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
3.1. Mục đích
Từ những vấn đề lý luận về chính sách xã hội hóa hoạt động văn hóa,
luận văn đi sâu đánh giá thực trạng chính sách xã hội hóa hoạt động văn hóa
trên địa bàn huyện An Lão hiện nay, đề xuất phương hướng và giải pháp nâng
cao chất lượng và hiệu quả của công tác này trong thời gian tới.
Nghiên cứu cơ sở lý luận về chính sách xã hội hóa hoạt động văn hóa
từ thực tiễn trong quá trình xây dựng và phát triển văn hóa.
3.2. Nhiệm vụ
Đánh giá thực trạng chính sách xã hội hóa hoạt động văn hóa từ thực
tiễn trên địa bàn huyện An Lão thời gian qua.
Đề xuất phương hướng và giải pháp để nâng cao hiệu quả chính sách xã
hội hóa hoạt động văn hóa trên địa bàn huyện An Lão, Hải Phòng trong thời
gian tới.
4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
4.1. Đối tượng
Chính sách xã hội hóa hoạt động văn hóa trên địa bàn huyện An Lão,
thành phố Hải Phòng.
4.2. Phạm vi nghiên cứu
Phạm vi không gian: huyện An Lão, thành phố Hải Phòng
3
Thời gian: 2010-2015
5. Phương pháp nghiên cứu
7. Kết cấu của luận văn
Ngoài Phần Mở đầu, Kết luận, Tài liệu tham khảo, nội dung chính của
luận văn được trình bày theo 3 chương:
Chương 1: Những vấn đề lý luận chính sách xã hội hóa hoạt động văn
hóa ở Việt Nam hiện nay
Chương 2: Thực trạng chính sách xã hội hóa hoạt động văn hóa ở
Huyện An Lão, thành phố Hải Phòng
Chương 3: Phương hướng, giải pháp để nâng cao chất lượng và hiệu
quả chính sách xã hội hoá hoạt động văn hoá ở huyện An Lão, thành phố Hải
Phòng
5
Chương 1
NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CHÍNH SÁCH XÃ HỘI HÓA
HOẠT ĐỘNG VĂN HÓA Ở VIỆT NAM HIỆN NAY
1.1. Khái niệm về chính sách công, chính sách văn hóa và chính sách
xã hội hóa hoạt động văn hóa
1.1.1. Khái niệm chính sách công
Trong hệ thống các công cụ quản lý được Nhà nước dùng để điều hành
hoạt động kinh tế - xã hội thì chính sách được coi là công cụ nền tảng định
hướng cho các công cụ khác. Chính sách công có vai trò đặc biệt quan trọng
đối với sự phát triển xã hội và quản lý phát triển xã hội. Chính sách được
dùng để định hướng phát triển, là động lực thúc đẩy các quá trình phát triển
trong xã hội; đồng thời phát huy các mặt tích cực, hạn chế các mặt tiêu cực
trong xã hội, nâng cao chất lượng phát triển xã hội và quản lý phát triển xã
hội. Ngoài ra, chính sách công còn có vai trò tạo lập sự cân đối hài hòa, bền
vững trong phát triển.
Tiến sĩ Đỗ Phú Hải - Học viện KHXH đã đưa ra định nghĩa một cách
chung nhất về chính sách công như sau: “Chính sách công là một tập hợp các
quyết định chính trị có liên quan của nhà nước nhằm lựa chọn các mục tiêu cụ thể
với giải pháp và công cụ thực hiện giải quyết các vấn đề của xã hội theo mục tiêu đã
bằng cách sử dụng tối ưu tất cả những nguồn vất chất và nhân lực mà một xã
hội nào đó sắp đặt vào một thời điểm thích hợp”. Năm 2002, UNESCO đưa ra
một định nghĩa về chính sách văn hoá như sau: “Chính sách văn hoá là một
tổng thể các nguyên tắc hoạt động quyết định các cách thực hành, các phương
pháp quản lý hành chính và phương pháp ngân sách của Nhà nước dùng làm
cơ sở cho các hoạt động văn hoá”
7
1.1.3. Khái niệm chính sách xã hội hóa hoạt động văn hóa
Chính sách XHH hoạt động văn hóa là sự vận động và tổ chức nhằm
thu hút toàn xã hội, mọi lực lượng, các thành phần kinh tế, các tầng lớp nhân
dân tham gia các hoạt động sáng tạo, cung cấp và phổ biến văn hóa, tạo điều
kiện cho văn hóa phát triển mạnh, rộng khắp, phong phú và nâng cao dần mức
hưởng thụ văn hóa của nhân dân trên cơ sở tăng cường sự lãnh đạo của Đảng,
sự quản lý của nhà nước trong lĩnh vực văn hóa.
Chính sách XHH văn hóa là huy động tiềm lực của xã hội để tạo lập và
cải thiện môi trường kinh tế - xã hội thuận lợi cho sự phát triển văn hóa, trên
cơ sở đó nâng cao và khẳng định quyền tổ chức và điều hành các hoạt động
văn hóa theo hướng đa dạng chủ thể hoạt động văn hóa.
Chính sách XHH hoạt động văn hóa là mở rộng các nguốn đầu tư, khai
thác các tiềm năng và nhân lực, vật lực và tài lực trong toàn xã hội, phát huy
và sử dụng có hiệu quả các nguồn lực của nhân dân để phát triển sự nghiệp
xây dựng nền văn hóa Việt Nam tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc.
Chính sách XHH hoạt động văn hóa thực chất là thực hiện và trở lại
đúng quy luật vận động của bản thân văn hóa. Vì vậy, một mặt nó phải là một
chính sách đầu tư lâu dài, mang tính khoa học và hợp với quy luật văn hóa, là
phương châm thực hiện chính sách xã hội của Đảng và Nhà nước, mặt khác
phải chú ý đến tính đặc thù, lĩnh vực đặc biệt nhạy cảm của văn hóa.
Chính sách XHH hoạt động văn hóa đi liền với tăng cường sự lãnh đạo
của Đảng, và hiệu lực quản lý của bộ máy Nhà nước, bao gồm việc củng cố
xây dựng các cơ sở văn hóa của Nhà nước đủ mạnh để giữ vai trò định hướng
đây được bộc lộ hơn bao giờ hết. Kinh doanh văn hóa nghệ thuật ra đời.
Sản phẩm văn hóa trở thành hàng hóa. Vậy là cơ chế thị trường, hoạt động
9
sản xuất văn hóa mang thuộc tính của sản xuất hàng hóa và sản phẩm của
nó trở thành đối tượng kinh doanh, là một tất yếu khách quan.
Thứ hai, xuất phát từ quan niệm cho rằng: Văn hóa vừa là mục tiêu,
vừa là động lực thúc đẩy sự phát triển kinh tế xã hội, chúng ta chủ trương
xây dựng nền văn hóa tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc, góp phần tích cực
và sự nghiệp CNH, HĐH đất nước, hội nhập quốc tế. Ngày nay, ai cũng
nhận thức một cách sâu sắc rằng: CNH, HĐH không chỉ bao hàm yếu tố
công nghiệp, kỹ thuật và vốn. Muốn CNH, HĐH thành công thì nhân tố
con người (nguồn nhân lực) đóng một vai trò hết sức quan trọng trong đó
phải hình thành được nền kinh tế tri thức. Mô hình phát triển của các quốc
gia hiện nay đều phải chú trọng đến sự phát triển bền vững trong đó văn
hóa được coi như là nguồn lực nội sinh quan trọng, đó là "tài sản văn hóa".
Xã hội hóa là quá trình tất yếu, qua đó tài sản văn hóa trở thành tài sản
quốc gia. Tài sản này góp phần làm giàu có năng lực sáng tạo, làm hoàn
thiện nhân cách của một công dân làm nền tảng tinh thần cho sự phát triển
bền vững của một quốc gia, dân tộc.
Thứ ba, chính sách XHH các hoạt động văn hóa không phải bây giờ
mới có mà trong lịch sử xã hội trước đây đã từng thực hiện. Khi nhân dân
tôn thờ các vị anh hùng dân tộc, những vị thần có công với cộng đồng thì
cùng nhau huy động sức lực, vật lực để xây dựng nên các đền thờ để tưởng
nhớ, ghi công. Khi nhu cầu tinh thần của cộng đồng cần các hoạt động văn
hóa thì cùng nhau đóng góp tiền của để tổ chức các cuộc hội làng và toàn
dân cùng tham gia tích cực vào việc tổ chức các hoạt động trong ngày hội.
Các phường hát, phường chèo được nhân dân mời về nuôi dưỡng và nếu ai
hát hay thì được thưởng tiền để cổ vũ, động viên. Các làng nghề được tổ
chức từ gia truyền đến phổ biến trong cộng đồng để mọi người cùng có
điều kiện lao động, sáng tạo làm ra của cải vật chất đáp ứng nhu cầu của xã
chuyên ngành cho từng loại hình, vùng, miền, đặc biệt là tập trung phát triển
mạnh ở các vùng kinh tế phát triển bao gồm: hoạt động nghệ thuật, đào tạo
văn hoá nghệ thuật, điện ảnh, xuất bản - in - phát hành, bảo tồn di sản văn
hoá, mỹ thuật - nhiếp ảnh, thư viện, dịch vụ bảo hộ quyền tác giả. Khuyến
khích phát triển các bảo tàng tư nhân.
- Từng bước chuyển sang loại hình ngoài công lập các đoàn nghệ thuật,
các trường đào tạo văn hóa - nghệ thuật trung cấp. Khuyến khích một số khoa
hoặc ngành đào tạo không chuyên sâu, có tính phổ thông, quần chúng của các
trường văn hoá nghệ thuật công lập tách ra để thành lập các cơ sở văn hoá
nghệ thuật ngoài công lập. Khuyến khích các đơn vị, tổ chức ngoài công lập
phối hợp với các tổ chức công lập xây dựng đời sống văn hoá cơ sở theo định
hướng của nhà nước; xây dựng các thiết chế văn hoá thông tin cơ sở ở xã,
phường, thị trấn, thôn, làng, ấp, bản, cơ quan, đơn vị theo nguyên tắc tự tổ
chức, tự quản lý và chịu sự quản lý nhà nước của cơ quan có thẩm quyền.
Đại hội Đảng lần thứ IX đã chỉ rõ: "Đẩy mạnh XHH, khuyến khích
nhân dân và các tổ chức tham gia thiết thực có hiệu quả các hoạt động văn
hóa, thể thao. Khuyến khích các doanh nghiệp đầu tư và bảo trợ các hoạt động
văn hóa thể thao. Phát triển thị trường sản phẩm và dịch vụ văn hóa, thể thao
phong phú, lành mạnh".
Ở đây, chủ trương của Đảng là giao cho nhiều chủ thể xã hội khác nhau
(Nhà nước, tập thể và cá nhân) cùng tham gia vào các hoạt động tổ chức và
điều hành quá trình sản xuất văn hóa, biến hoạt động này vốn trước đây chỉ
thuộc về chủ thể Nhà nước trở thành của toàn xã hội, được xã hội quan tâm và
chủ động tham gia. Chính sách xã hội hóa hoạt động văn hóa không có
nghĩa là giảm nhẹ trách nhiệm của nhà nước, trái lại Nhà nước thường
xuyên tìm thêm các nguồn thu để tăng tỷ lệ ngân sách cho các hoạt động
12
này. Thực hiện XHH hoạt động văn hóa cũng là một giải pháp quan trọng
để thực hiện chính sách công bằng xã hội, trong chiến lược kinh tế xã hội
của Đảng và Nhà nước. Trong giai đoạn hiện nay, chính sách XHH các
1.3. Các chính sách xã hội hóa các hoạt động văn hóa
1.3.1. Chính sách xã hội hóa các hoạt động văn hóa thông qua các
thiết chế văn hóa
Nền văn hóa nào cũng được vận hành thông qua các thiết chế cụ thể.
Nhà hát, Bảo tàng, Thư viện, Nhà văn hóa cộng đồng, Làng văn hóa…là
những mô hình nhà văn hóa xuất hiện ở nhiều quốc gia, nhiều vùng miền của
đất nước.
Viết về kết quả việc xã hội hóa các hoạt động nghệ thuật, tác giả Hoàng
Tuấn Anh, trong bài viết: “Xã hội hóa hoạt động văn hóa - những thành tựu
và giải pháp” đã viết: “Trong lĩnh vực nghệ thuật biểu diễn, đã có hơn 200 tổ
chức, cá nhân hoạt động theo phương thức xã hội hóa, trong đó gần 80 đơn vị
có đăng ký hoạt động thường xuyên, ổn định, số còn lại hoạt động mang tính
tự phát, chưa có hiệu quả; hơn 700 doanh nghiệp đăng ký chức năng tổ chức
biểu diễn và hoạt động biểu diễn nghệ thuật, trong đó có khoảng 150 đơn vị,
doanh nghiệp tham gia hoạt động thường xuyên ở loại hình ca múa nhạc, thời
trang”
1
. (Nguồn: Tạp chí cộng sản online).
Lĩnh vực điện ảnh là hoạt động nghệ thuật thể hiện xu hướng xã hội
hóa rõ rệt và hiệu quả nhất. Viết về kết quả việc xã hội hóa hoạt động này, tác
giả Hoàng Tuấn Anh đã viết: “Hoạt động xã hội hóa lĩnh vực điện ảnh chủ
yếu tập trung ở các thành phố lớn như Hà Nội, Thành phố Hồ Chí Minh, trên
cả hai lĩnh vực sản xuất phim và phát hành phim; số lượng phim do các hãng
1
14
tư nhân sản xuất, mô hình cụm rạp chiếu phim tư nhân tăng lên cả về số lượng
và chất lượng, khẳng định xu hướng xã hội hóa đang đạt được những kết quả
đáng khích lệ, nổi bật như Hãng phim Phước Sang sản xuất phim “áo lụa Hà
Đông”; Hãng phim Thiên Ngân liên kết với nước ngoài triển khai hệ thống
rạp chiếu phim chất lượng cao MegaStar tại một số thành phố lớn v.v ”
thiện và nâng cao dân trí, đời sống văn hóa tinh thần cho nhân dân, đặc biệt là
người dân vùng nông thôn” (Nguồn: Tạp chí Cộng sản online).
1.3.2. Chính sách xã hội hóa văn hóa bằng các phương tiện truyền
thông đại chúng
Ngày nay không có ai là không thừa nhận vai trò của các phương tiện
truyền thông đại chúng trong việc xã hội hóa hoạt động văn hóa. Trường phái
xã hội học Chicago nhấn mạnh rằng; các phương tiện truyền thông đại chúng
không chỉ để phổ biến tin tức mà hệ thống này còn có nhiệm vụ xây dựng và
duy trì nền văn hóa. Những thành tựu của Đài tiếng nói Việt Nam, vô tuyến
truyền hình cũng như của các báo khác trong quá trình đổi mới hoạt động của
báo chí những năm gần đây, cho thấy rõ điều này. Qua các loại báo viết, báo
hình, các chương trình truyền thông, người dân đã được tiếp xúc và hưởng thụ
các giá trị văn hóa.
Mục du lịch đất nước rất hay, rất đẹp, tác dụng rất lớn về mặt tình cảm
thẩm mỹ, giáo dục. Người dân chỉ sống trong ngôi làng của mìn nhưng có thể
biết được cảnh đẹp bốn phương, hiểu được giá trị văn hóa của các nước trên
thế giới, biết được sâu sắc hơn nét đẹp của con người và văn hóa của mọi
miền tổ quốc của mình….
1.3.3. Chính sách xã hội hóa văn hoá ở cơ sở nông thôn
Hiện nay chúng ta đang phấn đấu xây dựng “gia đình văn hóa”, tức là
đang thể nghiệm một kiểu thiết chế cho văn hoá ở gia đình mà muốn nói
nhiều đến văn hóa ở làng và ở nông thôn nói chung.
16
Việc XHH hoạt động văn hóa ở nông thôn có khi được thể hiện trong
các thiết chế như nhà văn hóa thôn, ấp hay các hoạt động văn hóa phi vật thể
như các phong trào văn hóa cơ sở: “Phong trào xây dựng gia đình văn hóa”,
“Phong trào toàn dân đoàn kết”; việc xây dựng các thuần phong mỹ tục như
cưới xin, tang ma; việc khôi phục các lễ hội truyền thống…
Hiện nay, ở một số xã đã có hương ước mới. Ở đây các truyền thống đã
được cải tiến và phát huy theo những tinh thần đổi mới. Một số địa phương
vụ, giải pháp về XHH hoạt động văn hóa, văn nghệ. Trong đó, xác định mục
tiêu là:
Hướng mọi hoạt động văn hóa vào việc xây dựng con người phát triển
toàn diện về chính trị, tư tưởng, trí tuệ, đạo đức, thể chất, năng lực sáng tạo;
tuân thủ pháp luật; có ý thức cộng đồng, lòng nhân ái, khoan dung, trọng
nghĩa tình, lối sống văn hóa, quan hệ hài hoà trong gia đình, cộng đồng và xã
hội, làm cho văn hóa trở thành nhân tố thúc đẩy con người tự hoàn thiện nhân
cách, thấm sâu vào toàn bộ đời sống xã hội, vào mọi lĩnh vực sinh hoạt và
quan hệ con người trong thời kỳ CNH, HĐH đất nước, thành phố và hội nhập
quốc tế; gắn kết mối quan hệ giữa văn hóa và xây dựng môi trường văn hóa
với vấn đề hình thành nhân cách.
Tiếp tục đẩy mạnh bảo tồn, kế thức và phát huy các giá trị tốt đẹp của
văn hóa dân tộc, tập trung xây dựng những giá trị văn hóa mới, đi đôi với mở
rộng và chủ động trong giao lưu văn hóa quốc tế; tiếp nhận có chọn lọc tinh
hoa văn hóa thế giới, làm phong phú thêm nền văn hóa dân tộc và nét đặc
trưng riêng của văn hóa Hải Phòng, bắt kịp sự phát triển của thời đại.
Giải phóng mạnh mẽ năng lực và tiềm năng sáng tạo của mọi người,
phát huy cao độ tính sáng tạo của trí thức, văn nghệ sĩ, đào tạo tài năng văn
18