1
LỜI CAM ĐOAN
Để hoàn thành luận văn, bản thân tác giả đã trực tiếp phát phiếu điều tra, tìm
hiểu, và gặp gỡ trực tiếp BGH, các giáo viên trường tiểu học quốc tể thành phố Hà
nội để thu thập số liệu phục vụ cho công tác làm luận văn.
Tôi xin cam đoan các số liệu và kết quả nghiên cứu trong luận văn này là
trung thực và không trùng lặp với các đề tài khác. Tôi cũng xin cam đoan rằng mọi
sự giúp đỡ cho việc thực hiện luận văn này đã được cảm ơn và các thông tin trích
dẫn trong luận văn đã được chỉ rõ nguồn gốc.
Hà Nội, ngày tháng 11 năm 2012
Tác giả luận văn
Trần Kim Dung
LỜI CẢM ƠN
Với tình cảm và lòng biết ơn chân thành, tôi xin được gửi lời cảm ơn
đến các Thầy Cô giáo, Ban Giám Đốc Học Viện Quản Lý Giáo Dục, cán bộ giáo
viên Trung tâm Đào tạo sau đại học - Bồi dưỡng Nhà Giáo và Cán bộ quản lý, đã
tận tình giảng dạy, cung cấp cho tác giả những kiến thức cơ bản và đã giúp đỡ tôi
trong quá trình học tập và nghiên cứu luận văn này.
Tôi xin chân thành cảm ơn các cán bộ quản lý và lãnh đạo trong Hội đồng
quản trị nhà trường. Ban giám hiệu, tổ chuyên môn, giáo viên và học sinh trường
tiểu học quốc tế đã tạo điều kiện thuận lợi, động viên, khuyến khích giúp đỡ tôi
trong quá trình học tập, nghiên cứu để hoàn thành luận văn này.
Đặc biệt tôi xin bày tỏ lòng kính trọng và biết ơn sâu sắc đến
2
PGS.TS. Đặng Quốc Bảo, một người thầy mà những bài giảng của thầy đã truyền
cảm hứng cho tôi trong việc lựa chọn và nghiên cứu luận văn này.
Cuối cùng, tôi xin bày tỏ lòng biết ơn vô cùng chân thành và sâu sắc đến
PGS. TS. Nguyễn Công Giáp, người thầy đã trực tiếp giảng dạy, hướng dẫn, và chỉ
bảo tận tình tôi trong suốt quá trình học tập, làm luận văn, giúp tôi hoàn thành và
bảo vệ thành công luận văn thạc sỹ.
Primary year Program
20. QL Quản lý
21. QLGD Quản lý giáo dục
22. SGK Sách giáo khoa
23. TBDH Thiết bị dạy học
24. TB Trung bình
25. TƯ Trung ương
26. UBND Uỷ ban nhân dân
4
MỤC LỤC
5
DANH MỤC CÁC BẢNG
6
CÁC SƠ ĐỒ, BIỂU ĐỒ
7
MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài
Thế kỷ 21 là một kỷ nguyên chứng kiến cuộc cách mạng khoa học kỹ thuật
phát triển với những bước tiến nhảy vọt. Thế giới đã và đang chuyển từ kỷ nguyên
công nghiệp sang kỷ nguyên thông tin để hình thành nền kinh tế tri thức. Chúng ta
đang sống trong giai đoạn lịch sử mà những đổi thay về chính trị, pháp luật, kinh tế,
xã hội diễn ra nhanh chóng hơn bao giờ hết và chúng có tác động to lớn đến cuộc
sống thường nhật của tất cả mọi người. Khoảng cách giữa giáo dục, phát minh khoa
học - công nghệ và ứng dụng trong thực tiễn đời sống ngày càng bị thu hẹp. Có mối
quan hệ biện chứng giữa sự phát triển giáo dục với sự phát triển nhân cách, phát
triển kinh tế-xã hội và khoa học-công nghệ, về điều kiện và hoàn cảnh thực hiện
giáo dục. Giáo dục không còn chỉ là kiến trúc thượng tầng mà thực sự đã là cơ sở hạ
tầng xã hội giữ vai trò quyết định trong việc phát triển con người và đưa con người
vào quá trình phát triển nhanh nền kinh tế-xã hội. Để phát triển, không còn con
đường nào khác là bắt đầu từ chính con người. Một nền giáo dục tốt là một nền giáo
cầu hóa và hội nhập quốc tế, Đảng và Nhà nước ta đã rất quan tâm phát triển giáo
dục và hợp tác quốc tế trong giáo dục. Sự xuất hiện của nhiều trường quốc tế ở
nước ta nói chung và trên địa bàn Hà Nội nói riêng là một minh chứng cụ thể cho
chủ trương này. Trường tiểu học quốc tế thành phố Hà nội là một trong những
trường quốc tế được thành lập đầu tiên ở Việt nam. Trong quá trình phát triển của
nhà trường, bên cạnh những thành tựu nhà trường đã đạt được, nhà trường còn gặp
một số khó khăn và thách thức trong hoạt động dạy học, trong đó có công tác quản
lý hoạt động dạy học. Do đó nghiên cứu đề tài để có các giải pháp quản lý hoạt
động dạy học phù hợp nhằm nâng cao chất lượng hoạt động dạy học theo tiêu chuẩn
quốc tế là một đòi hỏi cấp bách trước tình hình thực tế hiện nay của trường tiểu học
quốc tế.
Từ các lý do như trên tác giả chọn đề tài: “Quản lý hoạt động dạy học tại
Trường tiểu học quốc tế thành phố Hà Nội trong bối cảnh hiện nay”
2. Mục đích nghiên cứu
Đề xuất các biện pháp tăng cường quản lý hoạt động dạy học ở trường tiểu
học quốc tế thành phố Hà nội trong bối cảnh hiện nay .
3. Nhiệm vụ nghiên cứu
3.1. Nghiên cứu cơ sở lý luận về quản lý hoạt động dạy học ở trường phổ thông.
9
3.2. Khảo sát và đánh giá thực trạng công tác quản lý hoạt động dạy học ở
trường tiểu học quốc tế và phân tích các nguyên nhân của thực trạng đó.
3.3. Đề xuất một số biện pháp tăng cường quản lý hoạt động dạy học ở
trường tiểu học quốc tế.
4. Khách thể và đối tượng nghiên cứu
4.1. Khách thể nghiên cứu: Hoạt động dạy học ở trường tiểu học quốc tế.
4.2. Đối tượng nghiên cứu: Quản lý hoạt động dạy học ở trường tiểu học
quốc tế.
5. Giới hạn và phạm vi nghiên cứu
5.1. Giới hạn nghiên cứu: Đề tài tập trung nghiên cứu biện pháp quản lý
hoạt động dạy học ở trường tiểu học quốc tế trong bối cảnh hiện nay.
- Phương pháp chuyên gia: lấy ý kiến của các chuyên gia về lĩnh vực nghiên cứu.
9. Cấu trúc của luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận-khuyến nghị, tài liệu tham khảo và phụ lục,
phần nội dung luận văn gồm 3 chương như sau:
- Chương 1: Cơ sở lý luận của việc quản lý HĐDH trong nhà trường phổ thông
- Chương 2: Thực trạng công tác quản lý HĐDH tại trường tiểu học quốc tế ở
thành phố Hà nội.
- Chương 3: Đề xuất các biện pháp tăng cường quản lý HĐDH của trường
tiểu học quốc tế ở thành phố Hà nội.
11
Chương 1
CƠ SỞ LÝ LUẬN CỦA VIỆC QUẢN LÝ HOẠT ĐỘNG DẠY HỌC
TRONG TRƯỜNG PHỔ THÔNG
1.1. Các khái niệm cơ bản của đề tài
1.1.1. Quản lý, quản lý giáo dục và quản lý nhà trường
1.1.1.1. Quản lý
Quản lý là một dạng hoạt động đặc biệt quan trọng của con người. Quản lý
chứa đựng nội dung rộng lớn, đa dạng phức tạp và luôn vận động, biến đổi, phát
triển. Vì vậy khi nhận thức về quản lý, có nhiều cách tiếp cận và quan niệm khác nhau.
Quản lý là một hiện tượng xuất hiện rất sớm cùng với sự phát triển của xã
hội loài người, là một phạm trù tồn tại khách quan được ra đời từ nhu cầu của mọi
chế độ xã hội, mọi quốc gia và mọi thời đại. Hoạt động quản lý bắt nguồn từ sự
phân công, hợp tác lao động. Hoạt động quản lý có vai trò hết sức to lớn, đảm bảo
cho việc thực hiện thành công mục đích lao động, tăng hiệu quả lao động. Sự phân
công, hợp tác lao động là nhằm đạt hiệu quả, nâng cao năng suất, nhưng hiệu quả
chỉ có thể thực sự có khi có sự chỉ huy phối hợp, điều hành, kiểm tra, chỉnh lý. Mác
đã từng khẳng định: Bất cứ lao động xã hội hay lao động chung nào mà tiến hành
trên một quy mô khá lớn đều phải có sự chỉ đạo để điều hoà những hoạt động cá
nhân Một nhạc sĩ độc tấu thì tự điều khiển lấy mình, nhưng một dàn nhạc thì phải
có nhạc trưởng. Các Mác đã nói lên được bản chất của quản lý là một hoạt động lao
góc độ kinh tế - kỹ thuật đã cho rằng: Quản lý là hoàn thành công việc của mình
thông qua người khác và biết được một cách chính xác họ đã hoàn thành công việc
một cách tốt nhất và rẻ nhất. Ông cũng cho rằng: Quản lý là nghệ thuật biết rõ ràng,
chính xác cái gì cần làm và làm cái gì đó thế nào bằng phương pháp tốt nhất và rẻ
tiền nhất. Quản lý là các hoạt động được thực hiện nhằm bảo vệ sự hoàn thành công
việc qua những nỗ lực của người khác.
H. Fayol, người đầu tiên tiếp cận quản lý theo quá trình và là người có tầm
ảnh hưởng to lớn trong lịch sử tư tưởng quản lý từ thời kỳ cận hiện đại tới nay, quan
niệm rằng: quản lý hành chính là dự đoán và lập kế hoạch, tổ chức, điều khiển, phối
hợp, và kiểm tra.
Harold Koontz và các đồng sự, cho rằng: Bản chất quản lý là phối hợp các
nỗ lực của con người thông qua các chức năng lập kế hoạch, xây dựng tổ chức, xác
định biên chế, lãnh đạo và kiểm tra.
Những tiếp cận và quan niệm khác nhau đã tạo ra bức tranh đa dạng và
phong phú về quản lý, góp phần cho việc nhận thức ngày càng đầy đủ và đúng đắn
hơn về quản lý.
Theo Từ điển tiếng Việt thông dụng (NXB GD-1998): Quản lý là tổ chức,
điều khiển hoạt động của một đơn vị, cơ quan.
Theo quan điểm điều khiển học: Quản lý là chức năng của hệ có tổ chức với
bản chất khác nhau (sinh học, xã hội, kỹ thuật) nó bảo toàn cấu trúc các hệ, duy trì
chế độ hoạt động.
Theo C.Mac: Bất cứ lao động xã hội hay cộng đồng trực tiếp nào thực hiện ở
một quy mô tương đối lớn đều cần ở chừng mực nhất định đến sự quản lý. Quản lý
xác lập sự tương hợp giữa các công việc cá nhân và hình thành những chức năng
chung xuất hiện trong toàn bộ cơ thể sản xuất khác với sự vận động của bộ phận
riêng lẻ của nó.
Một xu hướng nghiên cứu phương pháp luận quản lý ở Việt Nam trong cuốn
“Khoa học tổ chức và quản lý” của nhiều tác giả: Đặng Quốc Bảo, Nguyễn Văn
Bình, Nguyễn Quốc Chí (NXB thống kê, Hà Nội 1999, tr 176) cho rằng: Hoạt
động quản lý nhằm làm cho hệ thống vận động theo mục tiêu đặt ra, tiến đến trạng
nhân tố hợp lý của các tiếp cận và quan niệm về quản lý trong lịch sử tư tưởng quản
lý, có thể tổng hợp và rút ra định nghĩa về quản lý như sau: Quản lý là sự tác động
có tổ chức, có định hướng của chủ thể quản lý tới đối tượng quản lý nhằm đạt được
mục tiêu đề ra.
Từ các định nghĩa trên có thể rút ra một số nhận xét sau:
+ QL là một hoạt đông mang tính tất yếu và phổ biến
+ HĐQL biểu hiện mối quan hệ giữa con người với con người
+ QL là tác động có ý thức
+ QL là tác động bằng quyền lực
+ QL là tác động theo quy trình
+ QL là hoạt động để phối hợp các nguồn lực
+ QL nhằm hướng tới thực hiện mục tiêu chung
+ QL là hoạt động vừa mang tính khoa học, vừa mang tính nghệ thuật
+ Mối quan hệ giữa quản lý và tự quản
Quản lý có thể xem là một quá trình tác động gây ảnh hưởng của chủ thể
quản lý đến khách thể quản lý nhằm đạt mục tiêu chung. Quá trình tác động này
được vận hành trong môi trường xác định. Cấu trúc hệ thống quản lý được thể hiện
ở sơ đồ 1.1:
Mục tiêu
Công cụ quản lý
Đối tượng quản lý
Phương pháp quản lý Chủ thể quản lý
14
Sơ đồ 1.1: Cấu trúc hệ thống quản lý.
Như vậy, thông qua quá trình: Kế hoạch hoá, tổ chức, chỉ đạo, kiểm tra, khái
niệm quản lý được hiểu như sau: Quản lý là sự tác động có ý thức thông qua kế
hoạch hoá, tổ chức, chỉ đạo, kiểm tra để chỉ huy, điều khiển các quá trình xã hội và
hành vi hoạt động của con người nhằm đạt đến mục tiêu đúng của người quản lý và
phù hợp với quy luật khách quan.
của từng bộ phận, mục tiêu của cá nhân và tạo thành cả một hệ thống mạng lưới các
mục tiêu được phản ánh trong các chương trình, được phối hợp chặt chẽ với nhau.
Xây dựng chương trình hành động và bước đi cụ thể nhằm đạt các mục tiêu,
thực chất là lập kế hoạch trong quá trình thực hiện chức năng kế hoạch hoá. Chức
năng kế hoạch hóa có các nội dung cơ bản sau:
+ Xác định mục tiêu phương hướng đối với tổ chức
+ Xác định và đảm bảo (có tính chắc chắn) về các nguồn lực của tổ chức để
đạt được mục tiêu này.
+ Quyết định xem những hoạt động nào là cần thiết để đạt được các mục
tiêu, xác định các hoạt động ưu tiên.
Nội dung của kế hoạch hoá một mặt tạo thuận lợi và đồng bộ cho quá trình
thực hiện, mặt khác có khả năng thích ứng với sự biến đổi của môi trường bên ngoài
hệ thống.
- Tổ chức
Tổ chức là xác định cơ cấu chủ định về vai trò nhiệm vụ hay chức vụ được
hợp thức hoá. Tổ chức là hoạt động hướng tới hình thành cấu trúc của hệ thống
quản lý và phối hợp tốt nhất giữa các hệ thống lãnh đạo và bị lãnh đạo.
Thứ nhất, tổ chức làm cho các chức năng khác của hoạt động quản lý thực
hiện có hiệu quả.
16
Thứ hai, từ khối lượng công việc quản lý mà xác định biên chế, sắp xếp
con người.
Thứ ba, tạo điều kiện cho hoạt động tự giác và sáng tạo của các thành viên
trong tổ chức, tạo nên sự phối hợp ăn khớp nhịp nhàng trong các cơ quan QL và đối
tượng QL.
Thứ tư, dễ dàng cho việc kiểm tra, đánh giá.
Nhờ thực hiện chức năng tổ chức có hiệu quả, người quản lý có thể phối hợp,
điều phối tốt hơn các nguồn lực và nhân lực. Tổ chức tốt sẽ khơi nguồn cho những
tiềm năng, cho các động lực khác. Tổ chức không tốt sẽ làm triệt tiêu động lực và
làm giảm sút hiệu quả QL.
Ngay từ khi loài người còn sống theo “bầy đàn”đã xuất hiện các biểu hiện
của giáo dục. Để tồn tại và phát triển, con người phải trải qua quá trình lao động.
Trong lao động và cuộc sống hàng ngày con người nhận thức thế giới xung quanh,
tích luỹ kinh nghiệm từ đó nảy sinh nhu cầu truyền đạt những hiểu biết ấy cho nhau.
Đến khi cuộc sống của loài người tiến triển tới mức có tính tổ chức xã hội thì các
biểu hiện GD trong xã hội loài người mới dần đúng với nghĩa giáo dục và phát sinh
hiện tượng giáo dục.
Lúc đầu giáo dục xuất hiện như là một hiện tượng tự phát, sau đó trở thành
một hoạt động có ý thức. Ngày nay giáo dục đã trở thành một hoạt động được tổ
chức đặc biệt, đạt tới trình độ cao, có nội dung, chương trình, kế hoạch và phương
pháp hiện đại thúc đẩy sự phát triển nhanh chóng của xã hội loài người.
Giáo dục là một hiện tượng xã hội đặc biệt, bản chất của nó là quá trình
truyền đạt và lĩnh hội kinh nghiệm lịch sử xã hội của các thế hệ loài người. Giáo
dục có vị trí đặc biệt quan trọng, không chỉ là sản phẩm xã hội mà còn là nhân tố
tích cực, động lực thúc đẩy sự phát triển của xã hội.
Trong xã hội hiện đại khi các quốc gia đua tranh về khoa học và công nghệ
thì giáo dục có vai trò quyết định giúp các quốc gia thắng lợi trong cuộc tranh đua
đó. Phát triển giáo dục trở thành quốc sách hàng đầu thể hiện trong chiến lược và
mọi chính sách của mỗi quốc gia.
Như vậy: Giáo dục là một hiện tượng xã hội, bản chất của nó là sự truyền
đạt và lĩnh hội kinh nghiệm lịch sử-xã hội của các thế hệ loài người, nhờ có giáo
dục mà các thế hệ nối tiếp nhau phát triển, tinh hoa văn hoá dân tộc, nhân loại
được thừa kế, bổ sung và trên cơ sở đó xã hội loài người không ngừng phát triển.
b) Quản lý giáo dục
Quản lý giáo dục có nhiều định nghĩa:
Trong tác phẩm “Cơ sở lý luận của khoa học QLGD” tác giả M.I.Kônđacốp
đã định nghĩa: “Quản lý giáo dục là tập hợp các biện pháp (tổ chức, cán bộ, giáo
dục, kế hoạch hoá, tài chính ) nhằm đảm bảo sự vận hành bình thường của các cơ
18
quan trong hệ thống giáo dục, đảm bảo sự tiếp tục phát triển và mở rộng hệ thống
trường là một thiết chế chuyên biệt và đặc thù của xã hội, được hình thành (thiết
lập) do nhu cầu tất yếu khách quan của xã hội nhằm thực hiện chức năng truyền thụ
các kinh nghiệm xã hội cần thiết cho từng nhóm dân cư nhất định trong cộng đồng
và xã hội. Nhà trường được tổ chức và hoạt động với chức năng truyền thụ và lĩnh
hội tri thức nhân loại để nhằm mục tiêu tồn tại và phát triển cá nhân, phát triển cộng
đồng và phát triển xã hội.
19
Trong bối cảnh hiện tại, nhà trường được thừa nhận rộng rãi như là một thiết
chế chuyên biệt của xã hội để giáo dục, đào tạo thế hệ trẻ trở thành những công dân
hữu ích trong tương lai. Thiết chế đó có mục đích rõ ràng, có tổ chức chặt chẽ, được
cung ứng các nguồn lực cần thiết cho việc thực hiện chức năng của mình mà không
một thiết chế nào có thể thay thế được. Nhiệm vụ của nhà trường cũng được đề cập
từ nhiều khía cạnh khác nhau, việc quản lý nhà trường cũng có nhiều cách tiếp cận.
Điều đó có thể thấy rằng bản chất của nhà trường được thực hiện thông qua tính
mục đích cũng như cách thức vận hành của nó. Dấu hiệu phân biệt nhà trường với
các thiết chế khác ở chỗ tính mục đích tập trung hay tính hẹp được “chiết suất”; tính
tổ chức và tính kế hoạch hoạch hoá cao; tính hiệu quả giáo dục cao nhờ quá trình
truyền thụ có tổ chức; tính biệt lập tương đối hay tính lý tưởng hoá các giá trị xã
hội; tính chuyên biệt cho từng đối tượng hay tính chất phân biệt đối xử theo sự phát
triển tâm lý và thể chất.
Như vậy: Nhà trường là một thiết chế tổ chức chuyên biệt trong hệ thống tổ
chức xã hội thực hiện chức năng tái tạo nguồn nhân lực phục vụ cho sự duy trì và
phát triển của xã hội.
Nhà trường là tổ chức trực tiếp làm công tác giáo dục và đào tạo. Nó chịu sự
quản lý của các cấp QLGD đồng thời nhà trường cũng là một hệ thống độc lập, tự
quản. Quản lý nhà trường nhằm nâng cao chất lượng, hiệu quả và phát triển nhà trường.
Nhà trường là tổ chức mang tính nhà nước, xã hội trực tiếp giáo dục thế hệ
trẻ; là tế bào cơ sở của hệ thống giáo dục từ trung ương đến địa phương. Vì vậy, nhà
trường là khách thể cơ bản của tất cả các cần quản lý, lại vừa là hệ thống độc lập, tự
quản. Do đó quản lý nhà trường vừa có tính nhà nước vừa có tính xã hội.
đối tượng QL. Sản phẩm của các hoạt động trong nhà trường là nhân cách người HS
được hình thành trong quá trình học tập, tu dưỡng và rèn luyện, phát triển theo yêu
cầu phát triển của xã hội. QL nhà trường là toàn diện với mục đích là để hình thành
nhân cách HS.
1.1.2. Quản lý hoạt động dạy học
1.1.2.1. Hoạt động dạy - học
Về mặt lịch sử, tri thức nhân loại luôn phát triển và mỗi ngày một hoàn thiện
hơn. Khái niệm dạy học cũng dần dần được mở rộng để thích ứng với những yêu
cầu về tiêu chuẩn nhân cách người học do mỗi hình thái xã hội quy định và để phù
hợp với sự phát triển của các phương thức dạy học. Khái niệm về hoạt động dạy học
đã được hình thành và phát triển từ cơ sở lý luận của quá trình giáo dục tổng thể.
Trong cuốn “Giáo dục học – tập 1”, tác giả Trần Thị Tuyết Oanh viết: “Dạy
học – là một quá trình dưới sự lãnh đạo, tổ chức, điều khiển của người giáo viên,
người học tự giác, tích cực, chủ động tự tổ chức, tự điều khiển hoạt động nhận thức
– học tập của mình nhằm thực hiện những nhiệm vụ dạy học”. (18, tr.139)
Như vậy, dạy học là khái niệm chỉ quá trình hoạt động chung của người dạy
và người học. Hoạt động dạy - học bao gồm hai hoạt động thống nhất biện chứng,
hoạt động dạy của GV và hoạt động học của HS. HĐDH là một hệ toàn vẹn gồm
hoạt động dạy và hoạt động học luôn luôn tương tác với nhau, thâm nhập vào nhau,
sinh thành ra nhau. Sự tương tác giữa dạy và học mang tính chất cộng tác trong đó
dạy giữ vai trò chủ đạo. Bản chất của hoạt HĐDH là sự thống nhất biện chứng của
dạy và học; nó được thực hiện trong và bằng sự tương tác có tính chất cộng đồng và
hợp tác (cộng tác) giữa dạy và học, tuân theo lôgíc khách quan của nội dung dạy
học. Như vậy dạy học là một chức năng xã hội, nhằm truyền đạt và lĩnh hội kiến
21
thức, kinh nghiệm xã hội đã tích lũy được, nhằm biến kiến thức, kinh nghiệm xã hội
thành phẩm chất và năng lực cá nhân.
Theo tác giả Phạm Viết Vượng “Nói đến dạy học là nói đến hoạt động dạy
và học của thầy và trò trong nhà trường, với mục tiêu là giúp học sinh nắm vững hệ
thống kiến thức khoa học, hình thành hệ thống kỹ năng, kỹ xảo và thái độ tích cực
Hoạt động học
Hoạt động dạy
Truyền đạt
Điều khiển
HOẠT ĐỘNG DẠY HỌC
Tự điều khiển
Lĩnh hội
22
Sơ đồ 1.3: Hoạt động dạy học
Các hoạt động này có mục tiêu rõ ràng, có nội dung nhất định, do các chủ thể
thực hiện - đó là thầy và trò, với những phương pháp và phương tiện nhất định. Sau
một quá trình vận động, các hoạt động dạy và học phải đạt tới những kết quả mong
muốn. Hoạt động dạy và hoạt động học có mối quan hệ chặt chẽ với nhau, thể hiện
ở mối quan hệ tương tác giữa các thành tố: mục tiêu, nội dung, phương pháp của
hoạt động dạy và hoạt động học. Phân tích mối quan hệ giữa hoạt động dạy và hoạt
động học, chúng ta có thể đi đến kết luận: Hoạt động học, trong đó có hoạt động
nhận thức của học sinh có vai trò quyết định kết quả dạy học. Để hoạt động học có
kết quả thì trước tiên chúng ta phải coi trọng vai trò người giáo viên, giáo viên phải
xuất phát từ lôgíc của khái niệm khoa học, xây dựng công nghệ dạy học, tổ chức tối
ưu hoạt động cộng tác của dạy và học, thực hiện tốt các chức năng của dạy cũng
như của học, đồng thời bảo đảm liên hệ nghịch thường xuyên, bền vững. Vì vậy,
muốn nâng cao mức độ khoa học của việc dạy học ở trường phổ thông thì người
quản lý phải đặc biệt chú ý hoàn thiện hoạt động dạy của giáo viên; chuẩn bị cho họ
có khả năng hình thành và phát triển ở học sinh các phương pháp, cách thức phát
hiện lại các thông tin học tập. Đây là khâu cơ bản để tiếp tục hoàn thiện tổ chức
hoạt động học tập của học sinh trong nhà trường. Hoạt động DH làm cho HS nắm
vững tri thức khoa học một cách có hệ thống cơ bản, có những kỹ năng, kỹ xảo cần
thiết trong học tập, lao động và đời sống. Hoạt động này làm phát triển tư duy độc lập
sáng tạo, hình thành những năng lực cơ bản về nhận thức và hành động của HS, hình
thành ở HS thế giới quan khoa học, lòng yêu tổ quốc, yêu CNXH, đó chính là động cơ
quan hệ giữa toàn cầu và cục bộ, giữa phổ biến và riêng lẻ, giữa truyền thống và
hiện đại, giữa sự phát triển phi thường về kiến thức và khả năng tiếp thu của con
người, giữa trí tuệ và vật chất. Mặt khác dạy học trong giai đoạn hiện nay cũng
phải đảm bảo được những yêu cầu đặt ra của những trụ cột trong giáo dục theo quan
điểm giáo dục của tổ chức UNESCO – Học để biết, Học để làm, Học để cùng chung
sống, Học để làm người – và thực hiện cho được triết lý Học suốt đời. Hoạt động
dạy học trong nhà trường bao gồm các nội dung như sau: mục tiêu dạy học và nội
24
dung chương trình dạy học, phương pháp dạy học, hoạt động dạy của giáo viên và
hoạt động học của học sinh, cơ sở vật chất, phương tiện dạy học.
1.2.1. Mục tiêu của hoạt động dạy học
Mục tiêu tổng quát: Từng bước hoàn thiện nhân cách người học, mà nhân
cách đó là chuẩn mực người lao động đáp ứng được các yêu cầu của cộng đồng, của
đất nước và của thời đại trong từng giai đoạn phát triển kinh tế-xã hội.
Các mục tiêu cụ thể:
- Trang bị kiến thức: Người thầy có nhiệm vụ chọn lọc trong kho tàng tri
thức phong phú của nhân loại những tri thức vừa có tính lý luận vừa có tính thực
tiễn để tạo cho người học cơ sở nghiên cứu và khám phá các quy luật của tự nhiên
và xã hội. Phải lựa chọn nội dung dạy học phù hợp để người học đạt được các mục
tiêu học để biết, học để làm việc, học để cùng chung sống trong một cộng động, và
học để làm người có ích cho xã hội.
- Rèn luyện kỹ năng: Làm cho người học thành thạo trong việc phát hiện vấn
đề, lý giải được nguồn gốc của vấn đề, biết giải quyết sáng tạo và hiệu quả vấn đề;
đồng thời có thể ứng dụng kết quả nhận biết vấn đề vào xử lý các tình huống cụ thể
của cuộc sống.
- Hình thành thái độ: Người học phải có thái độ phân biệt được cái đúng, cái
sai, cái đã biết, cái chưa biết, cái gì cần cho bản thân, cho gia đình, cho xã hội. Từ
đó tự định hướng cho bản thân những lý tưởng và những hành động chân chính cần
thiết để thực hiện lý tưởng của mình.
1.2.2. Nội dung và chương trình dạy học
mới nền giáo dục. “Không có thầy giáo thì không có giáo dục”, câu nói đó của
Người khẳng định vai trò không thể thay thế của người giáo viên trong sứ mệnh đào
tạo thế hệ trẻ. Người giáo viên phải có trí tuệ và tài năng mới có thể đào tạo được
những thế hệ công dân, cán bộ có tài cho xã hội. Người khuyên mọi người thực hiện
theo chỉ dẫn của Lê-nin “Học, học nữa, học mãi” để thường xuyên tự rèn luyện
mình, đồng thời lấy phương châm “Học không bao giờ biết chán, dạy người không
bao giờ biết mỏi” của Khổng Tử để thực hành trong công việc.
Sản phẩm của giáo dục, dạy học là con người, là thế hệ tương lai của dân tộc,
vì vậy, không được phép tạo ra “phế phẩm”. Một người công nhân tồi có thể làm
hỏng một vài sản phẩm, một người kỹ sư tồi có thể làm hỏng một vài công trình,
nhưng, một người giáo viên tồi có thể làm hỏng cả một thế hệ, đó là hậu quả khôn
lường mà cả xã hội phải gánh chịu cho đến tận mai sau. Chính vì vậy đội ngũ giáo
viên đóng vai trò quan trọng trong hoạt động dạy học, giữ vai trò chủ đạo trong việc
định hướng tổ chức và điều khiển hoạt động học của học sinh.
1.2.4. Học sinh