VIỆN DỆT MAY
BÁO CÁO TỔNG KẾT
ĐỀ TÀI KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ CẤP BỘ
NGHIÊN CỨU XÂY DỰNG CÔNG NGHỆ TỐI ƯU
NHUỘM TẬN TRÍCH MỘT SỐ LOẠI VẢI PES/WOOL
Mã số đề tài: 86.10 RD/HĐ-KHCN
Chủ nhiệm đề tài: KS.Trương Phi Nam 8304
2
MỤC LỤC
Trang
TÓM TẮT NHIỆM VỤ 3
LỜI NÓI ĐẦU 6
Chương I.
TỔNG QUAN TÀI LIỆU
7
I.1
Tổng quan tình hình nghiên cứu trong và ngoài nước
I.2.
Cơ sở lý thuyết về mặt hàng PES/Wool 9
I.2.1
Cấu trúc và những tính chất cơ bản của len
I.2.2
Cấu trúc và những tính chất cơ bản của sợi PES 10
I.2.3.
Giặt trước 11
I.2.4.
Công nghệ nhuộm 12
I.2.5.
Giặt sau 19
I.2.6
Đốt và xén lông 20
I.2.7
Hoàn tất
I.3.
Kiến nghị
TÀI LIỆU THAM KHẢO 57
PHỤ LỤC 58
3
TÓM TẮT NHIỆM VỤ
Đề tài: "Nghiên cứu xây dựng công nghệ tối ưu nhuộm tận trích một số loại
vải PES/Wool" nhằm mục tiêu:
- Xây dựng các công nghệ nhuộm tối ưu đáp ứng yêu cầu chất lượng, giảm
thiểu chi phí và thân thiện với môi trường.
- Góp phần hỗ trợ các nhà máy sản xuất mặt hàng PES/Wool trong công
đoạn nhuộm nhằm giảm chi phí, tăng năng suất, nâng cao chất lượng, gi
ảm giá
thành.
- Tối ưu hóa quy trình nhuộm dựa trên cơ sở các thông số công nghệ được
thể hiện đầy đủ, chính xác trong phần mềm phân tích các chỉ số đó.
Nội dung đề tài:
1. Xây dựng tổng quan về thuốc nhuộm phân tán, thuốc nhuộm axit.
2. Nghiên cứu và xây dựng bộ dữ liệu về nhuộm màu thuốc nhuộm phân tán
của các nhóm thuốc nhuộm chính: Dianix (DyeStar), Terasil (Huntsman), Foron
(Clariant).
3. Nghiên cứu và xây dựng bộ dữ liệu về nhuộm màu thuốc nhuộm axit:
Lanaset (Huntsman).
4. Nghiên cứu xác định thông số công nghệ và xây dựng quy trình nhuộm
với nhóm thuốc nhuộm tương ứng cho mặt hàng len.
5. Nghiên cứu xác
định thông số công nghệ và xây dựng quy trình nhuộm
thành phần len có ở thị trường Việt Nam.
- Xác định được các thông số công nghệ tối ưu cho thuốc nhuộm phân tán
để nhuộm PES.
- Xác định được các thông số công nghệ tối ưu cho thuốc nhuộm axit để
nhuộm thành phần len.
- Xác định thông số cho quy trình nhuộm phương pháp tận trích cho vải
PES/Wool.
- Nhuộm thử nghiệm tại Công ty theo đơn đã xây dựng trong phòng thí
nghiệm (màu lá mạ) trên vả
i pha PES/Wool 70/30 và 50/50 đã cho thấy những
sự điều chỉnh cần thiết theo hướng tối ưu hóa công nghệ đó là:
5
+ Về hóa chất thuốc nhuộm, chất trợ và các thông số công nghệ chính được sử
dụng như đơn công nghệ Công ty đang sử dụng (vì màu sắc thay đổi trong giới
hạn cho phép).
+ Rút ngắn được thời gian nâng nhiệt và duy trì ở nhiệt độ cao trong quá trình
nhuộm.
+ Quá trình giặt sau có thay đổi do quá trình lựa chọn thuốc nhuộm phân tán ít
dây màu lên len và có độ tận trích cao, vì vậy số lần giặt sau nhuộm ít nhất cũng
giảm đượ
c 1 lần, do đó lượng nước sử dụng cho giặt có giảm đi.
+ Tính tổng thể chi phí điện, hơi, nước sẽ giảm đi cùng với việc tăng năng suất
của thiết bị (do giảm thời gian chu trình gia công 30 phút /1 mẻ, điện giảm
khoảng 5KW/1 mẻ, tiêu hao hơi giảm ước 10 kg/1 mẻ, tiêu hao nước giảm
3m
3
/1mẻ )
+ Quy trình nhuộm được ổn định, có tính lặp lại màu giữa các mẻ cao. Chất
lượng vải (ngoại quan và các chỉ tiêu độ bền màu) cũng đạt được cao đáp ứng
không hoặc ít xẩ
y ra sự tổn thương đối với phần xơ sợi len. Vật liệu len có sức
đề kháng không tốt với nhiệt độ cao và cũng không thích hợp trong việc kéo dài
thời gian nhuộm. Về phương diện kinh tế thì tốt nhất là gia công nhuộm hỗn hợp
ở dạng sợi hoặc vải, tuy nhiên về phương diện độ bền màu thì ngược lại nhuộm
xơ rời là thích hợp nhất, sau đó mới ph
ối ghép để kéo sợi (ở Việt Nam thiết bị
nhuộm dạng xơ này chưa cơ sở nào có đầu tư).
Việc nhuộm sau khi đã pha trộn dẫn đến cho quá trình nhuộm gặp nhiều
khó khăn, vì hai loại nguyên liệu này có những tính chất nhuộm trái ngược nhau.
Ở Việt Nam mặc dù số cơ sở sản xuất mặt hàng dạng PES/Wool không nhiều,
sản lượng hàng năm cũng không quá lớn, tuy nhiên trong những nă
m gần đây
cũng được Bộ Công Thương, Tập đoàn Dệt May Việt Nam và các cơ sở nghiên
cứu, sản xuất quan tâm đến việc nghiên cứu nhằm không ngừng nâng cao chất
lượng sản phẩm, hạ giá thành sản phẩm bằng nhiều con đường, trong đó có giải
pháp tối ưu hóa công nghệ nhuộm theo phương pháp tận trích mà Viện Dệt May
được Bộ Công Thương giao nhiệm vụ nghiên cứu trong năm 2010 (với các m
ục
tiêu, nội dung theo đề cương) kèm theo ở phụ lục báo cáo.
7
Chương I. TỔNG QUAN TÀI LIỆU
I.1 TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU TRONG VÀ
bằng cách sử dụng chất tải nhuộm, nhưng ngày nay việc dùng chất tải là rất hạn
chế và hầu như ít nơi dùng vì tính độc hại của nó đối với môi trường thải cũng
như phần dư lại trên sản phẩm. Để giả
i quyết bài toán nan giải nói trên, nhiều
công trình nghiên cứu đã tiến hành sử dụng các chất tạo liên kết ngang để bảo vệ
thành phần len khi nhuộm ở nhiệt độ và áp suất cao. Việc sử dụng chất bảo vệ
theo lý thuyết người ta nhận thấy để hạn chế tổn thất len đến mức thấp nhất ở
120
o
C là khi sử dụng 2,5 ÷ 5% khối lượng chất Formaldehyd cho loại hàng pha
tỷ lệ 50/50 (PES/Wool). Như vậy có nghĩa là sử dụng khoảng 5–10 % khối
lượng phần len có trong xơ sợi pha. Với tỷ lệ dùng ấy, thực tiễn đã chứng minh
8
sản phẩm sau nhuộm dư lượng Formaldehyd là khoảng 23 – 75 ppm (nằm trong
giới hạn an toàn của sản phẩm sinh thái cho phép).
Trong quy trình công nghệ nhuộm len riêng biệt, ngày nay người ta cũng
đã tiến hành nhuộm ở nhiệt độ cao để rút ngắn thời gian nhuộm, vấn đề là nguy
cơ tổn hại đến len được giải quyết như thế nào và điều đó phụ thuộc các yếu tố
sau: a) Nhiệt độ; b) Giá tr
ị pH; c) Thời gian nhuộm. Trong quá trình nhuộm len
ở nhiệt độ cao, khi nhiệt độ > 110
o
C là không an toàn cho len, ví dụ ở 120
o
C len
đã bị cứng, độ bền cường lực và độ đàn hồi bị giảm.
Trong phép so sánh sự tổn thương của len ở các điều kiện nhiệt độ nhuộm
khác nhau khi môi trường nhuộm pH ≈ 5 người ta nhận thấy mức độ tổn thất là
tương đương khi:
t có thể đạt tới cân bằng. Các thuốc
nhuộm phân tán thường có tốc độ nhuộm khác nhau, tốc độ nhuộm thường cao
hơn khi nồng độ thuốc nhuộm trong dung dịch nhuộm thấp hơn.
9
Căn cứ định nghĩa cụm từ "tối ưu hóa điều kiện nhuộm của thuốc nhuộm"
là xác định điểm thích hợp của việc kết hợp các thông số về màu của một thuốc
nhuộm (một tập hợp thông số về màu) đó là:
a) Khả năng tận dụng thuốc nhuộm cao nhất lên vật liệu nền trong điề
u kiện
kinh tế nhất về thời gian nhuộm (tiết kiệm thời gian nhất) và sử dụng các
chất trợ với lượng dùng hợp lý nhất.
b) Đạt độ đều màu tốt.
c) Có khả năng nhuộm màu vật liệu nền cao nhất.
d) Ít làm tổn thương nhất đến vật liệu nền.
Bài toán tối ưu hóa quá trình nhuộm vải PES/Wool vì vậy là bài toán giải
quyết các vấn
đề sau:
- Chọn nhiệt độ nhuộm thích hợp.
- Thời gian gia công ngắn nhất có thể.
- Chọn thuốc nhuộm phân tán thích hợp, ít dây màu lên thành phần len
trong quá trình nhuộm và dễ giặt sạch hơn để đảm bảo độ bền màu cho sản
phẩm.
- Chọn bộ thuốc nhuộm phân tán để ghép màu phù hợp nhất.
I.2. CƠ SỞ LÝ THUYẾT VỀ MẶT HÀNG PES/WOOL
I.2.1. Cấu trúc và những tính chất cơ bản của len
• Sơ đồ liên kết của mạch keratin trong sợi len:
/ \ /
HN HN OC
chuyển từ dạng cấu trúc α sang β được biểu diễn theo sơ đồ sau:
10
Dạng α Dạng β
Khi nhúng ướt, len sẽ dãn dài khoảng 1,2% và nở ngang khoảng 18%, sự trương
nở này tạo điều kiện cho phân tử thuốc nhuộm đi vào dễ dàng.
Tuy nhiên sự trương nở này một mặt cũng làm giảm sức liên kết ion giữa
các mạch peptit, mặt khác làm đứt cầu nối hydro giữa 2 nhóm liền kề là amino
và ceton trong mạch polypeptit.
Từ những cấu trúc được mô tả
trên, cho ta thấy sợi len rất "nhạy cảm" với
các điều kiện tác động lên nó trong quá trình gia công ướt (nước, nhiệt độ, lực
căng, hóa chất).
I.2.2. Cấu trúc và những tính chất cơ bản của sợi PES
a/ Công thức tổng quát:
HO
OC
COOCH
2
CH
2
O H
n
Là sản phẩm trùng ngưng của axit terephtalic với etylenglycol.
Điểm nóng chảy: 250 – 260
o
len trước bằng phương pháp Wet setting là vô cùng cần thiết (crabing).
Đối với sợi PES việc ổn định nhiệt cũng là một điều kiện vô cùng quan trọng
và cần thiết. Vì nó làm cho sợi PES ổn định kích thước, không b
ị nhàu, có tính
đàn hồi và đặc biệt làm giảm tính vón gút (pilling effect). Tuy nhiên, khi pha
trộn với len (do tính chất như nói ở trên) nên việc lựa chọn nhiệt độ, độ căng và
thời gian định hình PES là vô cùng quan trọng. Nếu nhiệt độ quá cao và thời
gian quá dài sẽ làm cho bề mặt vải cứng, ngược lại nếu nhiệt độ thấp và thời
gian ngắn thì làm cho khả năng chống nhàu bị kém và tăng khả năng vón gút.
Độ căng của vả
i trong lúc định hình cũng có ý nghĩa rất quan trọng, làm tăng,
giảm khả năng phòng nhàu, hiệu ứng vón gút và đến độ co của vải. Cũng cần
nhở rằng đối với vải PES/Wool khi định hình trước thì bao giờ cũng làm tăng
khả năng dây màu thuốc nhuộm phân tán lên thành phần len. Nhiệt độ định hình
vải PES/Wool thích hợp nhất là ở 185
o
C ± 2, thời gian ≈ 45 giây, mức độ căng
ngang không vượt quá 1% (tức từ -5% ÷1%), mức độ cấp dồn (overfeed) khoảng
10%.
I.2.3. Giặt trước
Mục đích của công đoạn giặt trước là để loại bỏ các tạp chất dầu và các
tạp chất khác gây nên trong quá trình kéo sợi và dệt. Việc giặt vải có thành phần
len luôn phải được tiến hành thận trọng (vì thành phần len rất dễ b
ị tổn thương).
Bằng kinh nghiệm và theo phương diện lý thuyết, các nhà kỹ thuật nhuộm có thể
nói rằng: " Khâu giặt trước được tiến hành tốt có nghĩa là thắng lợi được ½ công
việc của nhuộm".
12
Trước hết phải lựa chọn chất giặt thích hợp. Thông thường tùy theo các
ẽ có tác dụng nhũ hóa
dầu khoáng có trong len và ngăn ngừa không cho chúng tái hợp lại.
Qua nghiên cứu các chất giặt của các hãng gửi chào thì các chất giặt sau
đây là phù hợp với yêu cầu: Sandoclean PC; Eriopon OLS; Ultravon EL;
Levapon OLN (hai chất đầu mang điện tích không ion, 2 chất sau là anion).
I.2.4. Công nghệ nhuộm
Để nhuộm hỗn hợp vật liệu từ PES với Wool, điều đầu tiên ta cần lưu ý là
thành phần Wool rất dễ bị tổn thương trong điều kiện nhuộm chung với PES.
13
Thực tế đã chứng minh rằng: Nhiệt độ nhuộm càng cao, thời gian nhuôm càng
dài thì độ tổn hại xơ Wool càng lớn.
Một vấn đề khó khăn lớn nhất trong nhuộm PES/Wool là độ dây màu của
thuốc nhuộm phân tán lên thành phần Wool. Tất cả các tài liệu đều nói và thực
nghiệm đã chứng minh việc dây màu này rất khó giặt sạch, ảnh hưởng nhiều đến
độ bền màu giặt và ma sát của sản ph
ẩm. Công nghệ nhuộm ở nhiệt độ thấp hơn
hay cao hơn; nhuộm một công đoạn hay 2 công đoạn đều ít cải thiện hoặc thậm
chí ở các màu đậm cũng không khác biệt là bao nhiêu về kết quả độ bền màu
(ngoại trừ nhuộm riêng biệt 2 loại xơ). Vì vậy các tài liệu đều nói rằng khi tỷ lệ
PES/Wool mà Wool < 50% thì nên chọn giải pháp nhuộm 1 pha ở nhiệt độ
120
o
C là phù hợp và kinh tế nhất. Điều này trong phạm vi đề tài trước cũng đã
thử nghiệm và khẳng định. Vấn đề chính ở đây là quá trình lựa chọn thuốc
nhuộm phân tán và khâu giặt sau nhuộm.
a). Tổng quan về thuốc nhuộm phân tán
Phân loại thuốc nhuộm phân tán cho Polyeste
Phân loại
Khối lượng
rất quan trọng. Còn lại là các nhóm mang màu khác.
Do thuốc nhuộm có gốc azo chiếm vị trí số 1 trong các thuốc nhuộm phân
tán, nên có câu hỏi đặt ra liệu có thuốc nhuộm phân tán azo bị cấm không? Có
thể trả lời rằng có một số thuốc nhuộm phân tán trên cơ sở các amin thơm đã
được xếp loại bổ sung bởi cộng đồng Châu Âu (EU) như chất gây ung thư. Mặc
dầu chưa được liệt kê trong luật tiêu dùng CHLB Đức vẫn còn được sản xuất.
Tuy nhiên nhiều hãng buôn bán hàng dệt đã cấm các cơ sở sản xuất hàng dệ
t sử
dụng các thuốc nhuộm trên cơ sở 2 amin nêu trên là:
O-anisidin có số "CAS" (CAS N
o) 90-4-0 và
P-aminoazobenzen có số "CAS" (CAS N
o) 60-9-3
Nói chung các loại thuốc nhuộm phân tán bị cấm đã có nhiều tài liệu viện dẫn,
ghi chú đăng trên nhiều tài liệu hoặc báo cáo ở nhiều đề tài môi trường.
b).Quá trình lựa chọn thuốc nhuộm phân tán.
Tất cả các loại thuốc nhuộm phân tán ít hay nhiều đều dây màu lên thành
phần Wool trong quá trình nhuộm, điều đó đã được khẳng định vì bản chất cấu
trúc hóa học của chúng. Sự dây màu này rất khó giặt và vì vậ
y làm cho độ bền
màu của sản phẩm không cao. Về phương diện lý thuyết có thể sử dụng nhóm
thuốc nhuộm phân tán có độ dây lên Wool ít nhất hoặc loại dây vừa nhưng dễ
giặt sạch hơn để nhuộm PES/Wool.
Ở đây cũng có thể nói rằng:
- Nếu tiến hành nhuộm riêng biệt 2 loại xơ thì vấn đề lựa chọn thuốc nhuộm
phân tán để nhuộm thành phần PES không đặt thành vấ
n đề lớn.
- Trong trường hợp tiến hành nhuộm theo quy trình 2 pha đối với PES/ Wool thì
việc lựa chọn thuốc nhuộm phân tán cũng có phần dễ dàng hơn (chọn được diện
rộng hơn).
- Sử dụng hoặc không sử dụng chất phân tán trong quá trình nhuộm ( có
phụ lục số liệu kèm theo).
- Sử dụng các chất trợ kiềm chế sự dây màu thuốc nhuộm phân tán lên
Wool trong quá trình nhuộm.
- Các chế độ giặt trước và sau nhuộm.
- Sử dụng các loại hồ hoàn tất phù hợp nhất.
16
c. Tổng quan về thuốc nhuộm axit
Thuốc nhuộm axit hiện đang được ứng dụng để nhuộm các loại xơ sợi
Protein và Polyamid trong môi trường axit, chúng được chia ra thành các nhóm
chính sau đây:
- Thuốc nhuộm axit thường (có 3 phân nhóm tùy theo độ pH khi nhuộm)
- Thuốc nhuộm axit tạo phức crom sau nhuộm.
- Thuốc nhuộm axit phức kim loại 1:1
- Thuốc nhuộm axit phức kim loại 1:2
Tất cả các nhóm thuốc nhuộm nêu trên đều tồn tại dưới dạng muố
i của các
"axit" có màu. Trong mọi trường hợp, khi nhuộm đều xảy ra phản ứng giữa
nhóm mang điện tích dương của vật liệu dệt với nhóm điện tích âm của thuốc
nhuộm. Đối với nhóm thuốc tạo phức kim loại ngoài ra còn một vài dạng liên
kết khác giữa vật liệu dệt với thuốc nhuộm. Trong bảng 1 dưới đây được dẫn ra
những liên kết quan trọng nhấ
t của từng nhóm thuốc nhuộm và ảnh hưởng của
chúng đến độ bền màu ướt, gía trị pH tối ưu khi áp dụng và một số thông số
khác:
Thuốc nhuộm axit
thường
Tên nhóm
thuốc nhuộm
Tương
đối tốt
(trung
bình)
Rất tốtRất tốt
đến
cực tốt
Rất tốt đến
cực tốt
Rất tốt
đến cực
tốt
Rất tốt
đến cực
tốt
17
Dấu " – ": không liên kết
Dấu "+" đến "+ + + + " : Cấp độ liên kết
1. Nhuộm bằng thuốc nhuộm axit thường
Thuốc nhuộm axit trên cơ sở tính chất và độ bền màu của chúng được
chia ra 3 phân nhóm
- Phân nhóm 1: Loại thuốc nhuộm hấp phụ lên xơ sợi trong môi trường axit
mạnh (pH 2 – 3). Khi nhuộm phải sử dụng các axit mạnh, ví dụ: H
2
SO
4
hoặc
axit formic. Thuốc nhuộm phân nhóm này cho kết quả độ bền màu ánh sáng tốt
đến rất tốt, độ bền màu ướt đạt trung bình. Ưu điểm lớn nhất là cho độ đều màu
* Ảnh hưởng của axit trong bể nhuộm:
Quá trình nhuộm bị ảnh hưởng bởi lượng axit bổ sung, trường hợp không
đủ axit, sự hấp phụ thuốc nhuộm sẽ bị kém, điều đó sẽ ảnh hưởng không những
đến độ lặp màu trong nhuộm mà còn không kinh tế trong việc tận trích thuốc
nhu
ộm. Ngược lại nếu thừa axit hoặc chọn loại axit mạnh không thích hợp sẽ
dẫn đến sự hấp phụ thuốc nhuộm lên xơ sợi quá nhanh dẫn đến nhuộm loang
màu.
* Ảnh hưởng của muối trong bể nhuộm
Điện tích dương của vật liệu dệt không những chỉ hút anion thuốc nhuộm
mà còn hút các anion khác có trong bể nhuộm. Khi nhuộm với sự có mặt của ion
sulphat, nó sẽ
xẩy ra liên kết với vật liệu dệt, do đó thuốc nhuộm sẽ hấp phụ
chậm hơn lên xơ sợi, điều đó làm tăng khả năng đều màu. Bổ sung muối Na
2
SO
4
tất nhiên chỉ có tác dụng khi pH < 5. Lượng muối dùng tối ưu phụ thuộc vào độ
pH của bể nhuộm và độ đậm màu nhuộm. pH thấp - màu nhạt, lượng dùng lớn
nhất – màu đậm lượng dùng ít nhất (theo đơn hướng dẫn). Dao động lượng muối
dùng theo chỉ định của từng nhóm thuốc nhuộm, nói chung trong khoảng 5 –
20%.
* Ảnh hưởng của nhiệt độ:
Khi tăng nhiệt độ bể
nhuộm, bên cạnh việc tăng tốc độ hấp phụ thuốc
nhuộm lên xơ sợi, thì hầu hết các nhóm thuốc nhuộm axit tăng khả năng phân
giải độ keo tụ thuốc nhuộm, dẫn đến khả năng nhuộm màu tốt hơn và độ bền
màu đạt chuẩn hơn.
Tốc độ tăng nhiệt được điều chỉnh sao cho việc hấp phụ thuốc nhu
hợp và bổ sung chất trợ nhuộm thì vẫn đạt độ bền màu tốt.
Đặc tính của nhóm thuốc này là cho độ bền màu ánh sáng cao, thuận lợi
nữa là quy trình công nghệ đơ
n giản, đỡ tốn kém.
d). Lựa chọn thuốc nhuộm axit
Việc sử dụng thuốc nhuộm axit để nhuộm thành phần Wool trong vải pha
PES/Wool không có vấn đề gì phức tạp. Chỉ cần lưu ý chọn loại nào cho độ đều
màu cao trong quá trình nhuộm và đạt yêu cầu độ bền màu là được, mặt khác
cần sử dụng loại thuốc nhuộm axit có môi trường nhuộm pH phù hợp với môi
trường nhuộm của thu
ốc nhuộm phân tán (khi nhuộm phương pháp 1 pha) là
được. Thông thường người ta sử dụng các loại thuốc nhuộm axit thường và loại
phức kim loại 1: 2 để nhuộm. Hiện nay hãng Hunsmant (Ciba cũ) có sản xuất
loại thuốc nhuộm axit phức dưới tên thương mại Lanaset, đây là một loại pha
trộn giữa phức kim loại 1:2 và axit thường nhằm đạt độ bền màu tương đối cao
lại có được gam màu tương đối sáng để dung hòa các đặ
c tính riêng biệt của 2
20
loại thuốc nhuộm mà bản thân một mình nó không đạt được. Hiện tại chúng tôi
cũng đang sử dụng nhóm thuốc nhuộm Lanaset để nhuộm.
I.2.5. Giặt sau
- Giặt bằng chất giặt thích hợp: Phương pháp này thực tế thí nghiệm và
sản xuất tại Công ty đã tiến hành giặt 3 – 5 lần, song đối với các màu đậm độ
bền màu vẫn chưa đạt cao.
- Vấn đề giặt khử trong môi tr
ường kiềm nhẹ kết hợp với giặt thông
thường: Phương án này trên thế giới ít dùng vì dù sao thì Wool vẫn bị tổn
thương.
Để hạn chế hiện tượng tách màu thuốc nhuộm phân tán lên bề mặt vải trong
o
C, thời gian 45’, nồng độ 3%
TT Tên thuốc nhuộm
Dây ít lên
Wool
Dây trung
bình lên
Wool
Dây nhiều
lên Wool
1 2 3 4 5
1 Terasil Blue BGE-01 200% (*) x
2 Terasil Pink 3G x
3 Terasil Blue 3R-01 (*) x
4 Terasil Blue 3RL-02 150% (*) x
5 Terasil Yellow 2GW x
6 Disperse Blue 2BLN (*) x
7 Disperse Red 3B (*) x
8 Dispersol Blue C-RN x
9 Dianix Red B-SE x
10 Dianix Pink KR-SE x
11 Miketon Polyester Red 4BF x
12 Miketon Polyester Blue BFL x
13 Foron Yellow Brown S-3GL x
14 Terasil Navy BRW (*) x
15 Terasil Red 5G x
16 Terasil Yellow W-6GS (*) x
22
45 Terasil Pink 2GLA x
46 Terasil Red 3BL-01 150% x
47 Terasil Blue RBS x
48 Terasil Blue BG-01 200% x
49 Terasil Blue GNN 200% x
50 Terasil Blue 3R x
51 Terasil Navy Blue BGLN 200% x
52 Terasil Navy Blue SGL 200% x
53 Foron Brilliant Yellow S-7GL x
54 Foron Brilliant Yellow S-4GL x
55 Foron Brilliant Yellow SE 6GFL x
56 Foron Yellow SE-NGF x
57 Foron Yellow SE-FL x
58 Foron Yellow E-RGFL x
59 Foron Yellow Brown S-3GL x
60 Foron Yellow Brown S-2RFL x
61 Foron Orange SE-2FL x
62 Foron Brilliant Orange S-FL x
63 Foron Brilliant Orange E-RL x
64 Foron Brilliant Scarlet S-2GL x
65 Foron Scarlet S-3GFL x
66 Foron Brilliant Scarlet S-RL x
67 Foron Scarlet S-GFL x
68 Foron Scarlet S-BWFL x
24
69 Foron Scarlet E-2GFL x
70 Foron Red S-FL x
71 Foron Red SE-R x
72 Foron Red SE-2GL x