1
MỞ ĐẦU
1. Đặt vấn đề
Ngày nay du lịch phát triển với tốc độ ngày càng nhanh và dần dần trở thành
ngành kinh tế mũi nhọn ở hầu hết các quốc gia trên thế giới. Theo báo cáo của Tổ
chức Lao động Thế giới ILO trong năm 2009 lĩnh vực du lịch đã đóng góp 9,4%
GDP của thế giới (trị giá 5.474 tỷ USD), con số tương ứng là 9% GDP năm 2010,
đồng thời tạo ra được 219,81 triệu việc làm trong năm 2009 chi
ếm 7,6% và 235
triệu việc làm năm 2010 chiếm 8% trong tổng số việc làm trên toàn thế giới; dự tính
du lịch sẽ đóng góp trị giá10.478 tỷ USD và tạo ra 275,6 triệu việc làm chiếm 8,4%
trong tổng số công ăn việc làm trên toàn thế giới vào năm 2019.
Vì vậy, nâng cao năng lực cạnh tranh quốc gia đang là mục tiêu trọng tâm
của nước ta. Đây là vấn đề đặt ra cho cho từng doanh nghiệp, từng ngành kinh tế và
cho toàn xã hội. Trong quá trình chuyển đổ
i nền kinh tế, Đảng và Nhà nước ta đã
từng bước đổi mới toàn diện cơ chế quản lý kinh tế thích ứng và tạo điều kiện phát
triển nền kinh tế thị trường
Cạnh tranh là cơ chế vận hành chủ yếu của kinh tế thị trường, là động lực
thúc đẩy phát triển kinh tế. Đối với xã hội, cạnh tranh là động lực quan trọng nhất
để huy
động nguồn lực của xã hội vào sản xuất của toàn xã hội. Đối với mỗi doanh
nghiệp kinh doanh cạnh tranh tạo sức ép hoặc kích cầu nhằm nâng cao chất lượng
sản phẩm, hạ giá thành và giá bán hàng hóa. Cạnh tranh với các tín hiệu giá cả và
lợi nhuận sẽ hướng người kinh doanh chuyển nguồn lực từ nơi sử dụng có hiệu quả
thấp sang nơi có hiệu quả cao, dịch vụ còn thiế
u. Do đó, việc nâng cao khả năng
cạnh tranh trong mỗi doanh nghiệp là rất cần thiết, nó giúp doanh nghiệp chủ động
hơn trong quá trình phát triển và hội nhập với quốc tế.
Tính cấp thiết
Mục tiêu của đề tài là đề xuất các giải pháp nâng cao năng lực cạnh tranh của
khách sạn Phương Nam đến năm 2020.
NỘI DUNG NGHIÊN CỨU
Để đạt được các mục tiêu trên cần nghiên cứu các vấn đề sau:
+ Hệ thống hóa các vấn đề cơ bản về nâng cao năng lực cạnh tranh
của doanh nghiệp, các nhân tố ảnh hưởng đến cạnh tranh
3
+ Phân tích và đánh giá thực trạng năng lực cạnh tranh tại khách sạn
Phương Nam từ đó chỉ ra các điểm mạnh và yếu làm cơ sở đề xuất các giải pháp
+ Đưa ra các giải pháp khả thi giúp nâng cao năng lực cạnh tranh tại
khách sạn Phương Nam.
Đồng thời đưa ra các kiến nghị đối với bộ ban ngành chính quyền địa
phương để nâng cao chất lượng dịch vụ kinh doanh khách sạn trên địa bàn
được
hoàn thiện hơn.
3. ĐỐI TƯỢNG NGHIÊN CỨU:
Đối tượng nghiên cứu của đề tài là năng lực cạnh tranh và các yếu tố liên
quan ảnh hưởng đến việc nâng cao năng lực cạnh tranh tại khách sạn
4. PHẠM VI NGHIÊN CỨU:
Đề tài nghiên cứu năng lực cạnh tranh tại khách sạn Phương Nam và một số
khách sạn trong khu vực Tp Hồ Chí Minh
Đề tài sử dụng số liệu do khách sạn cung cấp trong thời gian từ năm 2007
đến năm 2012 cùng với các thông tin khảo sát và tự nghiên cứu, tổng hợp tại khách
sạn Phương Nam
5. PHƯƠNG PHÁP LUẬN VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU:
PHƯƠNG PHÁP LUẬN
Phương pháp nghiên cứu là những nguyên tắc và cách thức hoạt động khoa
học nhằm đạt tới chân lý khách quan dựa trên cơ sở của sự chứng minh khoa học.
Điều này còn nghĩa rằng, các nghiên cứu khoa học cần phải có những nguyên tắc và
sạn Phương Nam đến năm 2020 và tham khảo ý kiến một số CBCNV khách sạn
Phương Nam.
6. BỐ CỤC ĐỀ TÀI
Trong đề tài này, ngoài phần mở đầu và phần kết luận ra, nội dung gồm 3
chương với kết cấu như sau:
Chương 1: Cơ sở lý luận về cạnh tranh
Chương 2: Thực trạng nă
ng lực cạnh tranh của khách sạn Phương Nam trong
giai đoạn từ 2010 - 2012
Chương 3: Một số giải pháp nâng cao năng lực cạnh tranh của khách sạn
Phương Nam đến năm 2020 5
CHƯƠNG 1
CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA ĐỀ TÀI
1.1. Năng lực cạnh tranh
1.1.1 Khái niệm về cạnh tranh
Cạnh tranh là hành động ganh đua, đấu tranh chống lại các cá nhân hay các
nhóm, các loài vì mục đích giành được sự tồn tại, sống còn, giành được lợi nhuận,
địa vị, sự kiêu hãnh, các phần thưởng hay những thứ khác. Thuật ngữ cạnh tranh
được sử dụng cho nhiều lĩnh vực khác nhau như
lĩnh vực kinh tế, thương mại, luật,
chính trị, sinh thái, thể thao.
Cạnh tranh có thể là giữa hai hay nhiều lực lượng, hệ thống, cá nhân, nhóm,
loài, tùy theo nội dung mà thuật ngữ này được sử dụng. Cạnh tranh có thể dẫn đến
các kết quả khác nhau. Một vài kết quả, ví dụ như trong cạnh tranh về tài nguyên,
nguồn sống hay lãnh thổ, có thể thúc đẩy sự phát triển về mặt sinh học, tiến hoá, vì
chúng có cơ h
phát triển. Điều kiện cho sự cạnh tranh trên một thị trường là: có ít nhất hai chủ thể
có quan hệ đối kháng và có sự tương ứng giữa sự cống hi
ến và phần thưởng của
mỗi thành viên trên thị trường. Về bản chất, cạnh tranh là quá trình lựa chọn trên cơ
sở so sánh giữa các đối tượng có những tính năng, tác dụng tương đối giống nhau,
có thể thay thế cho nhau.
Ngày nay, hầu hết các nước đều thừa nhận cạnh tranh và coi cạnh tranh
không những là môi trường và động lực của sự phát triển mà còn là một yếu tố quan
trọng làm lành mạnh hóa các quan hệ xã hộ
i, tạo động lực cho sự phát triển.
1.1.1.2 Các công cụ cạnh tranh của doanh nghiệp trên thị trường
Cạnh tranh về giá
Giá cả là sự biểu hiện bằng tiền của giá trị sản phẩm mà người bán hay
doanh nghiệp dự tính có thể nhận được từ người mua thông qua việc trao đổi sản
phẩm trên thị trường. Giá cả là tín hiệu tin cậy phản ánh tình hình biến động trên thị
trường.
Cạ
nh tranh về giá cả thường được thể hiện qua các chính sách định giá :
- Chính sách định giá thấp
- Chính sách định giá ngang giá thị trường
- Chính sách định giá cao
- Chính sách định giá phân biệt
- Chính sách bán phá giá
7
Mức giá có vai trò cực kỳ quan trọng trong cạnh tranh. Trong lực lượng
tương quan với giá trị khách hàng mong đợi, nếu khoảng cách giữa giá và giá trị
càng nhỏ thì doanh nghiệp càng có nhiều lợi thế cạnh tranh. Do đó doanh ngiệp
cũng dần chiếm được lòng tin người tiêu dùng và cũng có nghĩa là vị thế cạnh tranh
của doanh nghiệp ngày càng cao.
Có thể nói thương hiệu là tài sản quý giá nhất của khách sạn. Đây là một tài sản vô
hình nhưng có giá trị vô cùng to lớn nhất là đối với doanh nghiệp khách sạn.
Khách của khách sạn là những người từ nơi khác đến, họ chưa tiêu dùng sản
phẩm dịch vụ của khách sạn do đó thương hiệu khách sạn là tiêu chí đầu tiên để họ
lựa chọn. Tuy nhiên không phải bất cứ khách sạn nào cũng có thương hi
ệu. Tất cả
các khách sạn đều có nhãn hiệu nhưng để nhãn hiệu trở thành thương hiệu nó phải
trải qua một quá trình dài, được khách hàng công nhận và khẳng định được vị trí
của mình trên thị trường. Một khách sạn có thương hiệu mạnh sẽ là một khách sạn
có năng lực cạnh tranh lớn, có lợi thế cạnh tranh tuyệt đối so với đối thủ cạnh tranh.
Theo M.Porter, NLCT phụ thuộc vào khả n
ăng khai thác các năng lực độc đáo
của mình để tạo sản phẩm có giá phí thấp và sự dị biệt của sản phẩm. Muốn nâng
cao năng lực cạnh tranh, doanh nghiệp cần phải xác định lợi thế của mình để đạt
thắng lợi trong cạnh tranh. Có hai nhóm lợi thế cạnh tranh:
- Lợi thế về chi phí: Tạo ra sản phẩm có chi phí thấp hơn đối thủ cạnh tranh.
Các nhân tố s
ản xuất như đất đai, vốn, lao động thường được xem là nguồn lực để
tạo lợi thế cạnh tranh.
- Lợi thế về sự khác biệt: Dựa vào sự khác biệt của sản phẩm làm tăng giá trị
cho khách hàng, giảm chi phí sử dụng sản phẩm hoặc nâng cao tính hoàn thiện khi
sử dụng sản phẩm. Lợi thế này cho phép thị trường chấp nhận mức giá thậm chí cao
h
ơn đối thủ.
Thông thường việc xác định khả năng cạnh tranh của sản phẩm dựa vào 4
tiêu chí-Tính cạnh tranh về chất lượng và mức độ đa dạng hóa sản phẩm, tính cạnh
tranh về giá cả, khả năng thâm nhập thị trường mới, khả năng khuyến mại, lôi kéo
khách hàng và phương thức kinh doanh ngày càng phong phú hơn.
Cạnh tranh về thương hiệu còn tạo ra sự trung thành từ phía khách hàng.
so với các đối thủ cạnh tranh trên thị trường .
Năng l
ực canh tranh của doanh nghiệp được tạo ra từ thực lực của doanh
nghiệp và là các yếu tố nội hàm của mỗi doanh nghiệp. Năng lực cạnh tranh không
chỉ được tính bằng các tiêu chí về công nghệ, tài chính, nhân lực, tổ chức quản trị
doanh nghiệp… mà năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp gắn liền với ưu thế của
sản phẩm mà doanh nghiệp đưa ra thị trường. Năng lự
c cạnh tranh của doanh
nghiệp gắn với với thị phần mà nó nắm giữ, cũng có quan điểm đồng nhất của
doanh nghiệp với hiệu quả sản xuất kinh doanh…
10
Năng lực cạnh tranh còn có thể được hiểu là khả năng tồn tại trong kinh doanh
và đạt được một số kết quả mong muốn dưới dạng lợi nhuận, giá cả, lợi tức hoặc
chất lượng các sản phẩm cũng như năng lực của nó để khai thác các cơ hội thị
trường hiện tại và làm nảy sinh thị trường mới.
1.1.2.2 Vị thế cạnh tranh
Vị thế cạnh tranh là sở hữu của những giá trị đặc thù, có thể sử dụng được để
“nắm bắt cơ hội”, để kinh doanh có lãi. Khi nói đến lợi thế cạnh tranh, là nói đến lợi
thế mà một doanh nghiệp, một quốc gia đang có và có thể có, so với các đối thủ
cạnh tranh của họ. Lợi thế cạnh tranh là một khái niệm vừa có tính vi mô (cho
doanh nghiệp), vừa có tính vĩ mô (ở c
ấp quốc gia). Ngoài ra còn xuất hiện thuật ngữ
lợi thế cạnh tranh bền vững có nghĩa là doanh nghiệp phải liên tục cung cấp cho thị
trường một giá trị đặc biệt mà không có đối thủ cạnh tranh nào có thể cung cấp
được.
Sự cạnh tranh buộc người sản xuất phải năng động, nhạy bén, nắm bắt tốt hơn
nhu cầu của người tiêu dùng, tích cực nâng cao tay nghề, thường xuyên cả
i tiến kỹ
thuật, áp dụng những tiến bộ, các nghiên cứu thành công mới nhất vào trong sản
lao động.
Đội ngũ lao động tác
động tới năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp thông
qua các yếu tố như: năng suất lao động, thái độ phục vụ khách hàng, sự sáng
tạo…Các nhân tố này ảnh hưởng trực tiếp tới việc nâng cao chất lượng sản phẩm,
chi phí sản xuất ra sản phẩm hàng hóa.
Đội ngũ lao động của doanh nghiệp khách sạn có trình độ cao, biết các tiêu
chuẩn dịch vụ, các sản phẩm sẽ ảnh h
ưởng trực tiếp đến chất lượng dịch vụ. Nó sẽ
tác động tới giá của dịch vụ và thông qua đó khách sạn sẽ có nhiều lựa chọn khi
định giá dịch vụ tạo lợi thế về cạnh tranh cho doanh nghiệp.
Ta xem xét tác động môi trường cạnh tranh ngành đến doanh nghiệp thông
qua mô hình 5 áp lực cạnh tranh đến doanh nghiệp của M.Porter.
12
ủ tiềm ẩn chưa xuất hiện.
Các doanh nghiệp sẽ tham gia vào thị trường là đối thủ mới xuất hiện hoặc sẽ
xuất hiện trên khu vực thị trường mà doanh nghiệp đang và sẽ hoạt động. Tác động của
những doanh nghiệp này đối với hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp đến đâu hoàn
toàn phụ thuộc vào sức cạnh tranh của doanh nghiệp đó (quy mô, công nghệ chế tạ
o,
nhân lực, chất lượng sản phẩm dịch vụ…).
Sự xuất hiện của các đối thủ mới này còn làm thay đổi bức tranh về cạnh tranh
ngành, dù làm thay đổi cục diện cạnh tranh kiểu nào thì sự xuất hiện của đối thủ
tiềm ẩn cũng làm gia tăng mức cạnh tranh của ngành.
Theo M.Porter, những nhân tố sau tác động đến quá trình tham gia vào thị
trường của các đối thủ mới: các rào cản thâm nh
ập thị trường, hiệu quả kinh tế của
quy mô, bất lợi về chi phí do các nguyên nhân khác, sự khác biệt hóa sản phẩm, yêu
cầu về vốn cho sự thâm nhập, chi phí chuyển đổi, sự tiếp cận đường dây phân phối,
các chính sách thuộc quản lí vĩ mô.
Áp lực cạnh tranh từ phía nhà cung cấp.
Các nhà cung cấp hình thành các thị trường cung cấp các yếu tố đầu vào khác
nhau bao gồm cả người bán thiết bị, nguyên vật liệ
u, người cấp vốn và người cung
cấp lao động cho doanh nghiệp.
Tính chất của các thị trường cung cấp khác nhau sẽ ảnh hưởng ở mức độ khác
nhau đến hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp. Thị trường mang tính chất cạnh
tranh, cạnh tranh không hoàn hảo hay độc quyền sẽ tác động ở mức khác nhau đến
hoạt động mua sắm và dự trữ cũng như tuyển dụng lao động của từ
ng doanh nghiệp.
Thị trường có hay không có sự điều tiết của Nhà Nước cũng như mức độ tính chất
điều tiết có tác động trực tiếp đến hoạt động mua sắm và dự trữ cũng như tuyển
dụng lao động của doanh nghiệp. Mặt khác, tính chất ổn định hay không ổn định
14
ng ( thị trường bộ phận)
với ngành nghề kinh doanh của doanh nghiệp.
Khả năng cung ứng của tất cả các đối thủ cạnh tranh trong một ngành tạo ra
cung sản phẩm (dịch vụ) trên thị trường. Số lượng, quy mô, sức mạnh của từng đối
thủ cạnh tranh đều ảnh hưởng đến hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp. Tuy
15
nhiên cần chú ý rằng mức độ ảnh hưởng của các đối thủ còn gắn với thị trường bộ
phận : thông thường chỉ các đối tượng ở cùng khu vực thị trường bộ phận mới ảnh
hưởng đến hoạt động kinh doanh của nhau. Phạm trù thị trường bộ phận rộng hay
hẹp lại tùy thuộc vào đặc điểm của sản phẩm (dịch vụ
) và các điều kiện địa hình,
giao thông, cơ sở hạ tầng
Đặc biệt đối với ngành dịch vụ như khách sạn, số lượng lao động là rất lớn.
Quá trình sản xuất một phần gắn với việc người lao động trực tiếp tiếp xúc với
khách hàng.Thái dộ cử chỉ và trình độ chuyên môn của số lao động này sẽ được
khách hàng đánh giá, nhận xét trong suốt quá trình giao tiếp và tác động tr
ực tiếp tới
hình ảnh của doanh nghiệp.
Khác với doanh nghiệp sản xuất sản phẩm, sản phẩm dịch vụ vô hình nên
người tiêu dùng ngoài việc đánh giá chất lượng thuần túy của dịch vụ đem lại, họ
còn đánh giá chất lượng dịch vụ trong quá trình cung cấp dịch vụ của doanh nghiệp.
Việc đánh giá nhận xét tốt hay chưa tốt ảnh hưởng rất lớn t
ới kết quả kinh doanh
của doanh nghiệp. Chính vì vậy, yếu tố con người được đặt cao hơn rất nhiều trong
các doanh nghiệp dịch vụ so với doanh nghiệp khác và ảnh hưởng mạnh mẽ hơn tới
năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp.
1.1.3 Các công cụ sử dụng để đánh giá và đề ra giải pháp
1.2.3.1 Ma trận đánh giá các yếu tố bên ngoài (EFE)
Ma trận EFE giúp các nhà chiến lược tóm tắt và đánh giá các thông tin về
ản trị sử dụng ma trận đánh giá các yếu tố nội bộ, từ đó có những chiến lược
phát huy những năng lực của mình.
Ma trận IFE có thể được phát triển theo 5 bước:
Bước1: Liệt kê các yếu tố đã xác định trong quá trình phân tích nội bộ, sử
dụng các yếu tố bên trong chủ yếu bao gồm cả những điểm mạnh và điểm yếu.
Bước 2:
Ấn định tầm quan trọng bằng cách phân loại từ 0,0 (không quan trọng),
tới 1,0 (quan trọng nhất) cho mỗi yếu tố. Tầm quan trọng được ấn định cho mỗi yếu
tố nhất định cho thấy tầm quan trọng tương đối của yếu tố đó đối với sự thành công
của công ty trong ngành.
Không kể yếu tố chủ yếu đó là điểm mạnh hay điểm yế
u bên trong, các yếu tố
được xem là có ảnh hưởng lớn nhất đối với thành quả hoạt động của tổ chức phải
được cho là quan trọng nhất. Tổng cộng của tất cả các mức độ quan trọng này phải
bằng 1,0.
17
Bước 3: Phân loại từ 1-4 cho mỗi yếu tố đại diện cho điểm yếu lớn nhất (phân
loại bằng 1), điểm yếu nhỏ nhất (phân loại bằng 2), điểm mạnh nhỏ nhất (phân loại
bằng 3), điểm mạnh lớn nhất (phân loại bằng 4). Như vậy, sự phân loại này dựa trên
cơ sở công ty trong khi mức độ quan trọng ở bước 2 dự
a trên cơ sở ngành.
Bước 4: Nhân mỗi mức độ quan trọng của mỗi yếu tố với loại của nó để xác
định số điểm quan trọng cho mỗi biến số.
Bước cộng tất cả số điểm quan trọng cho mỗi biến số để xác định số điểm quan
trọng tổng cộng của tổ chức.
Không kể ma trận các yếu t
ố nội bộ (IFE) có bao nhiêu yếu tố, số điểm quan
trọng tổng cộng có được phân loại từ thấp nhất là 1,0 cho đến cao nhất là 4,0 và số
điểm trung bình là 2,5. Số điểm quan trọng tổng cộng thấp hơn 2,5 cho thấy công ty
và bên ngoài đã xác
định. Cũng như các công cụ phân tích việc hình thành chiến
lược khác, ma trận QSPM đòi hỏi sự phán đoán tốt bằng trực giác.
Các bước cần thiết để phát triển ma trận QSPM:
Bước 1 : Liệt kê các cơ hội/mối đe dọa bên ngoài và các điểm mạnh bên trong ở
cột bên trái ma trận QSPM
Bước 2: Phân loại cho mỗi yếu tố thành công quan trọng bên trong và bên ngoài
Bước 3: nghiên cứu các ma trận ở giai đoạn 2 (kết hợ
p ) và xác định các chiến
lược có thể thay thế mà tổ chức nên xem xét để thực hiện
Bước 4: Xác định số điểm hấp dẫn.Tính tổng số điểm hấp dẫn và cộng các số
điểm hấp dẫn.
1.2. Tổng quan về du lịch và ngành kinh doanh khách sạn
1.2.1. Khái niệm du lịch
Du lịch là đi để vui chơi, giải trí hoặc nhằm mục đích kinh doanh; là việc
th
ực hiện chuyến đi khỏi nơi cư trú, có tiêu tiền, có thể lưu trú qua đêm và có sự trở
về. Mục đích của chuyến đi là giải trí, nghỉ dưỡng, thăm thân nhân, công tác, hội
nghị khách hàng hay du lịch khen thưởng, hoặc nhằm mục đích kinh doanh. Các Tổ
chức Du lịch Thế giới định nghĩa khách du lịch như những người "đi du lịch đến và
ở lại ở những n
ơi bên ngoài nơi cư trú thường xuyên của họ trong hơn 24 giờ và
không quá một năm liên tiếp cho giải trí, kinh doanh và các mục đích khác không
liên quan đến những nhân viên hướng dẫn viên du lịch của tổ chức thực hiện việc
du lịch đó."
19
Theo Tổ chức Du lịch Thế giới (World Tourist Organization), một tổ chức
thuộc Liên Hiệp Quốc, Du lịch bao gồm tất cả mọi hoạt động của những người du
hành, tạm trú, trong mục đích tham quan, khám phá và tìm hiểu, trải nghiệm hoặc
ức là đã thoả mãn được
20
mục đích chuyến đi du lịch của du khách. Ví dụ tham quan, giải trí…
- Nhu cầu thiết yếu: là những nhu cầu cơ bản hàng ngày của con người như
ăn, ngủ… Trong du lịch đòi hỏi những nhu cầu này phải có sự khác biệt so với khi
khách ở nhà. Có như vậy thì khách du lịch mới cảm thấy thoả mãn và hài lòng với
chuyến đi.
- Nhu cầu bổ sung: là tất cả các nhu cầu phát sinh trong chuyến đi du lịch
như: dịch vụ giặt là, thông tin…
1.2.3 Những đặc trưng cơ bản của sản phẩm du lịch
Du lịch là ngành không khói, ít gây ô nhiễm môi trường, giúp khách du lịch
vừa được nghỉ ngơi, giảm strees vừa biết thêm nhiều điều hay mới lạ mà khách
chưa biết. Du lịch còn góp phần phát triển kinh tế của đất nước, tạo việc làm và tăng
thu nhập cho người lao động (hướng dẫn viên, các dịch vụ liên quan ).
Hiện nay ngành du lịch đang phát triển mạnh ở các nước thuộc thế giới thứ
ba. Nhu cầu về
du lịch càng tăng thì vấn đề bảo vệ môi trường cần phải được coi
trọng. Một dạng du lịch mới nổi hiện nay đó là du lịch xúc tiến thương mại, vừa đi
du lịch vừa kết hợp làm ăn. Hiện nay cũng rất phổ biến tại Việt Nam.
1.2.4 Khái niệm về kinh doanh khách sạn
Khách sạn là công trình kiến trúc được xây dựng độc lập, có quy mô từ 10
buồng ngủ
trở lên, bảo đảm chất lượng về cơ sở vật chất, trang thiết bị, dịch vụ cần
thiết phục vụ khách du lịch. Các tiện nghi cơ bản trong một phòng ở khách sạn là
một giường, một nhà vệ sinh, một bàn nhỏ. Còn trong các khách sạn sang trọng hơn
thì có thể có vài phòng với phòng ngủ và phòng khách riêng và thêm các tiện nghi
khác như máy điều hòa nhiệt độ, điện thoại, ti vi, mini bar với các loạ
i đồ uống, cà
phê, trà và các dụng cụ nấu nước nóng.
t động này chiếm tỷ trọng lớn nhất trong tổng doanh
thu của khách sạn (khoảng 60-70%).
Kinh doanh ăn uống:
Kinh doanh ăn uống là một mảng hoạt động không thể thiếu của các cơ sở
kinh doanh khách sạn hiện đại. Nhà hàng, khách sạn chính là nơi nhiều người muốn
tìm đến để thỏa mãn nhu cầu đó. Ăn uống trong du lịch đòi hỏi phải có cơ sở vật
chất, k
ỹ thuật chế biến đặc biệt với mức độ trang thiết bị cao, tuyệt đối đảm bảo vệ
sinh, an toàn thực phẩm và đội ngũ nhân viên phục vụ cũng đòi hỏi có trình độ tay
nghề cao, thái độ phục vụ tốt để đảm bảo sự hài lòng, thỏa mãn đối với sự đa dạng,
nhu cầu của các loại khách đến ăn, nghỉ tại khách sạn.
22
Hoạt động kinh doanh ăn uống trong khách sạn là nhằm thỏa mãn nhu cầu ăn
uống tại thời điểm du lịch của khách du lịch và của số đông là khách địa phương. Vì
thế việc tổ chức hoạt động này trong các khách sạn đòi hỏi tính chuyên nghiệp cao
cả về công tác quản lý lẫn công tác tổ chức thực hiện trong tất cả các khâu của quá
trình hoạt động. Đặc điểm kinh doanh
ăn uống trong du lịch ngoài thức ăn, đồ uống,
cần có các điều kiện để giúp khách thưởng thức, giải trí tại nhà hàng ngày càng
được quan tâm, mở rộng mà thực chất đây là dịch vụ phục vụ nhu cầu bổ sung và
giải trí cho khách tại các nhà hàng. Và ở khách sạn nào tổ chức tốt việc kinh doanh
ăn uống thì không những làm tăng doanh thu, lợi nhuận cho doanh nghiệp, mà còn
tăng thu nhập, cải thiện đời sống ng
ười lao động.
Kinh doanh dịch vụ bổ sung
Kinh doanh dịch vụ bổ sung là các dịch vụ khác, ngoài 2 loại dịch vụ trên
nhằm thỏa mãn các nhu cầu đa dạng phong phú trong thời gian khách lưu tại khách
sạn. Ngày nay, các dịch vụ bổ sung ngày càng nhiều về số lượng, đa dạng về hình
thức và thường phù hợp với vị trí, thứ hạng, loại kiểu, qui mô và thị trường khách
và kinh doanh khách sạn Có thể nói, hệ thống khách sạn nhà hàng ở nước ta đang
phát triển mạnh cả về số lượng và chất lượng, quy mô cũng như hình thức sở hữu.
Ngày càng nhi
ều các khách sạn cao cấp của nước ngoài thành lập và đi vào hoạt
động tại Việt Nam, tạo môi trường cạnh tranh năng động . Các khách sạn được xếp
hạng sao luôn đạt hệ số sử dụng phòng rất cao gần 90%, thậm chí trong những
tháng cao điểm, du khách gặp nhiều khó khăn trong vấn đề đặt phòng tại các khách
sạn có sao.
Nhu cầu về khách sạn nhà hàng chất lượng cao ngày một tăng nhanh khi mà
mức sống và m
ức thu nhập của người dân đang dần cải thiện tốt hơn, cũng như
ngày càng nhiều du khách nước ngoài tìm đến với Việt Nam.
Từ thực trạng nêu trên, Nhà Nước ta đã có những chính sách khuyến khích
đầu tư xây dựng, cải tạo nâng cấp các khách sạn nhà hàng của doanh nghiệp trong
nước cũng như chính sách thu hút vốn đầu tư các doanh nghiệp nước ngoài.
Bên cạnh đó, chỉ đạo Tổng cục Du lịch xây dự
ng hoàn chỉnh hệ thống cung
cấp thông tin hỗ trợ doanh nghiệp kinh doanh khách sạn nhà hàng về thị trường
cung cầu, các tiêu chuẩn quốc gia và quốc tế về quản lí chất lượng các khách sạn
nhà hàng, cung cấp kiến thức về các vấn đề liên quan phát triển doanh nghiệp của
ngành.
Trước yêu cầu về hội nhập cao, các doanh nghiệp phải nỗ lực tập trung vào
24
các lĩnh vực như thu hút đầu tư, nâng cao chất lượng sản phẩm dịch vụ, mở rộng thị
trường, phát triển và ứng dụng công nghệ mới, xây dựng đội ngũ con người, quản lí
chất lượng cao và chuyên nghiệp… Tóm lại, doanh nghiệp khách sạn đang đứng
trước yêu cầu vận động và đổi mới toàn diện trên cơ sở phát huy lợi thế cạnh tranh
của mình.
Theo dự đ
Vào thời điểm chính vụ khách rất đông nhưng trước và sau vụ thì khách giảm nhanh
chóng. Đó cũng chính là nguyên nhân mà các khách sạn cạnh tranh nhau để kéo dài
thời vụ kinh doanh.
Kinh doanh khách sạn cần những nhà quản lý nhạy bén để bố trí hợp lý số
lượng nhân viên lúc cao điểm cũng như thấp điểm để giảm chi phí về lao động, đây
là thách thức
đối với các nhà quản lý cũng chính là lý do mà cần nhiều nguồn nhân
lực tại các khách sạn
Kinh doanh khách sạn mang tính quy luật:
Các quy luật tự nhiên , kinh tế, tâm lý luôn chi phối dịch vụ của khách sạn.
Chính vì thế mà kinh doanh khách sạn luôn khác các loại hình khác như tùy theo
mùa, thời tiết khí hậu , tại địa phương có các lễ hội hay sự kiện quan trọng mà
lượng khách biến động tăng hay giảm đột ngột. Dù chịu sự chi phối của quy luậ
t
nào đi nữa thì điều đó cũng gây ra những tác động tiêu cực và tích cực đối với kinh
doanh khách sạn.
Kinh doanh khách sạn mang đặc điểm về sản phẩm dịch vụ
Khác với các sản phẩm hàng hoá thông thường, sản phẩm dịch vụ trong
khách sạn rất khó xác định chất lượng, không tồn kho, không tách rời, nó mang tính
chất vô hình nhiều hơn hữu hình nên không thể thử nó trước khi tiến hành tiêu dùng
được. Nên h
ọ có xu hướng dựa vào kinh nghiệm của những người đã sử dụng
những dịch vụ đó để thoả mãn sự hoài nghi về sản phẩm mà họ mua để tiêu dùng.
Vì sản phẩm khách sạn là vô hình nên khách hàng không thể biết được nó tốt hay
không tốt, họ chỉ có thể dựa vào thông tin truyền miệng.
Kinh doanh khách sạn mang tính đồng nhất giữa sản xuất và tiêu dùng
Sản phẩm mà ngành kinh doanh sản xuất ra phải
được tiêu dùng ngay tại
chỗ, vì nó không thể lưu kho được, không thể đem đến nơi khác quảng cáo hay tiêu
thụ. Khách hàng muốn tiêu dùng sản phẩm của khách sạn thì phải đến với khách