H NI - 2012
B GIO DC V O TO
HC VIN QUN Lí GIO DC
_____________
______________
TRN VIT PHNG
BIệN PHáP QUảN Lý CƠ Sở VậT CHấT THIếT Bị
ở TRƯờNG TRUNG HọC PHổ THÔNG TỉNH SƠN LA
CHUYấN NGNH: QUN Lí GIO DC
M S: 60 14 05
LUN VN THC S KHOA HC GIO DC
Ngi hng dn khoa hc: PGS.TS Trn Th Minh Hng
LỜI CẢM ƠN
uận văn này là Kết quả quá trình học tập tại Học viện Quản lý Giáo
dục và quá trình công tác tại Phòng Quản lý ODA, Vụ Kế hoạch -
Tài chính, Bộ Giáo dục và Đào tạo trong những năm qua.L
Với tình cảm chân thành, tác giả xin bày tỏ lòng biết ơn đến Quý thầy cô
giáo đã tham gia giảng dạy lớp Cao học Khóa 3B, chuyên ngành Quản lý
Giáo dục, Học viện Quản lý Giáo dục, Lãnh đạo Sở Giáo dục và Đào tạo tỉnh
Sơn La, cán bộ giảng dạy, cán bộ quản lý và các em học sinh tại 12 trường
THPT của tỉnh Sơn La đã tận tình giúp đỡ, tạo điều kiện cho tác giả trong quá
trình học tập và hoàn thành nội dung Luận văn này.
Đặc biệt, tác giả xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc đến PGS. TS Trần Thị
Minh Hằng đã tận tình hướng dẫn, giúp đỡ tác giả nghiên cứu đề tài và hoàn
chỉnh nội dung Luận văn.
Mặc dù bản thân đã cố gắng nhưng chắc chắn Luận văn không tránh
khỏi những thiếu sót, rất mong nhận được những ý kiến đóng góp quý báu của
Quý thầy cô trong Hội đồng bảo vệ.
Hà Nội, ngày tháng 6 năm 2012
Học viên
.63467)6;
.<=>34(
.? $%@=>34(
"<=>,ABCDEC:FG*H/
"? $%,ABCDEC/
"6:FG*H;
".I 8JA $@=AK6LM7(
(<=>$3'FG5F=@=5AK:FG*HB 343-NO
P
(<=>:FG*HP
(#9@=>6LM7P
(#$%@=>6LM733467)6
(.I,ABCDEC34 -%8&' *
+#9@=>IQRI6LSM
?:>C(
Chương 2 THỰC TRẠNG QUẢN LÍ CƠ SỞ VẬT CHẤT THIẾT BỊ
TRƯỜNG THPT TỈNH SƠN LA 37
? @ G3G'>5TU:53G5VW95@%OS *&'
JQ,'+
? @ G3G'>5TU:53G5VW9+
? @ AX- 3! )NOJQ,'.;
6X3*@=>,ABCDYCB3467)6JQ,'."
?:*3'=A X:."
6X3*,ABCDZ:FG*H[B3467)6JQ,'.(
6X3*F=@=:FG*H"
.6X3*AK:FG*H"
?:@=3'=A (.
.R9\ ]$%(+
.R$' AK6LM7(+
.R@=>AK6LM7&'7$3B 3467)6(/
chiến lược phát triển kinh tế xã hội. Hồ Chí Minh, Người anh hùng giải phóng
dân tộc, danh nhân văn hoá thế giới vì trước hết Người đã là nhà giáo dục,
nhà sư phạm. Người đã đưa ra thông điệp:
“ Vì lợi ích mười năm thì phải trồng cây
Vì lợi ích trăm năm thì phải trồng người.”
Trong lý luận dạy học cũng đã khẳng định cơ sở vật chất thiết bị kĩ thuật
và hầu hết các sản phẩm khoa học kĩ thuật có chức năng xác định và mang
mục đích sư phạm rất cao, chúng chứa đựng trình độ khoa học kĩ thuật, văn
hóa nghệ thuật, chứa đựng một tiềm năng khoa học to lớn đồng thời đóng vai
trò là đối tượng chứa nội dung cần nhận thức.
Mục đích hệ thống giáo dục quốc dân Việt Nam là nâng cao dân trí, đào
tạo nhân lực, bồi dưỡng nhân tài, luôn phát triển phù hợp với nhu cầu phát
triển của xã hội, phù hợp với những đòi hỏi của sự phát triển thể chế chính
trị, kinh tế, văn hóa, xã hội, khoa học, công nghệ của đất nước. Mục tiêu của
giáo dục là đào tạo con người Việt Nam phát triển toàn diện, có đạo đức, có
tri thức, sức khoẻ, thẩm mỹ và nghề nghiệp, trung thành với lý tưởng độc lập
1
và chủ nghĩa xã hội, hình thành bồi dưỡng nhân cách, phẩm chất năng lực của
công dân, đáp ứng yêu cầu xây dựng và bảo vệ Tổ quốc.
Trường trung học phổ thông là cấp học cuối cùng trong hệ thống giáo
dục phổ thông. Vị trí của giáo dục THPT trong hệ thống giáo dục quốc dân
được thể hiện ở sơ đồ khung của hệ thống GDQD theo Nghị định 90/CP của
Chính phủ. Trường THPT có nhiệm vụ tổ chức giảng dạy, học tập và các hoạt
động giáo dục khác theo mục tiêu, chương trình giáo dục do Nhà nước ban
hành. Trường THPT phải đảm bảo đủ giáo dục đạt chuẩn trở lên và quy hoạch
xây dựng CSVC trường học, trang thiết bị dạy học, cung cấp nguồn tài
chính… theo quy mô phát triển của nhà trường.
Trong những năm qua, Giáo dục và Đào tạo Sơn La đã có bước phát
triển tích cực về quy mô và chất lượng các ngành học, cấp học, bậc học. Tỉnh
và các địa phương rất chú trọng và có kế hoạch đầu tư cơ sở vật chất – kỹ
5. Nhiệm vụ nghiên cứu của đề tài
- Tìm hiểu cơ sở lý luận của việc quản lý cơ sở vật chất thiết bị trường
THPT.
- Tìm hiểu và phân tích thực trạng quản lý cơ sở vật chất thiết bị của các
trường Trung học phổ thông giai đoạn hiện nay ở Tỉnh Sơn La.
- Nghiên cứu đề xuất một số biện pháp quản lý cơ sở vật chất thiết bị về
việc trang bị, bảo quản và sử dụngTBDH ở trường Trung học phổ thông ở
Tỉnh Sơn La.
- Khảo sát tính cần thiết và tính khả thi của các biện pháp đã đề xuất.
6. Phạm vi nghiên cứu của đề tài
Do thời gian có hạn đề tài chỉ nghiên cứu và khảo nghiệm một số biện
pháp quản lí cơ sở vật chất kĩ thuật (Thiết bị dạy học) ở 12 trường Trung học
phổ thông ở tỉnh Sơn La.
Các số liệu phục vụ nghiên cứu được giới hạn từ năm 2010 đến 2012.
3
7. Phương pháp nghiên cứu
Phương pháp nghiên cứu cụ thể gồm một số loại phương pháp được phối
hợp với nhau:
7.1. Phương pháp nghiên cứu lý thuyết:
Sử dụng các phương pháp nghiên cứu như tổng hợp, phân tích, hệ thống
khái quát hoá tài liệu được sử dụng để xác định các khái niệm công cụ và
khung lý thuyết cho vấn đề nghiên cứu.
- Tìm hiểu các khái niệm thuật ngữ có liên quan đến đề tài.
- Nghiên cứu các văn bản, nghị quyết của Đảng, các văn bản của Nhà
nước, các Chỉ thị của ngành Giáo dục về công tác quản lí CSVCTB.
- Nghiên cứu cơ sở lí luận về trang bị, bảo quản và sử dụng TBDH.
- Các tài liệu khác liên quan đến đề tài.
7.2. Phương pháp nghiên cứu thực tiễn:
- Phương pháp quan sát: quan sát các chủ thể quản lý trong tiến trình
quản lý cơ sở vật chất kĩ thuật .
độ phát triển TBDH và mức độ ảnh hưởng của nó tới công nghệ dạy học ở
trong nước, khu vực và trên thế giới. Đánh giá được thực trạng của TBDH,
quá trình đầu tư, mua sắm, bảo quản và chất lượng sử dụng, khai thác TBDH
ở nhà trường, từ đó hoạch định chiến lược phát triển TBDH một cách lâu dài.
Hiện nay, ở nước ta TBDH còn thiếu nhiều so với yêu cầu, vì vậy vấn đề đặt
ra cho các nhà quản lí Giáo dục nói chung là cần thiết phải nghiên cứu trực
trạng đơn vị mình, kế hoạch đầu tư, mua sắm TBDH và quản lí sử dụng hiệu
quả TBDH phù hợp với điều kiện vùng miền và địa phương của mình. Để
nâng cao chất lượng giáo dục thì trước tiên phải nâng cao chất lượng giảng
dạy trong nhà trường. Để sử dụng có hiệu quả TBDH, vai trò của các biện
5
pháp quản lý là hết sức quan trọng. Các nhà nghiên cứu trong và ngoài nước
đã nghiên cứu thực tiễn quản lý nhà trường để tìm ra các biện pháp quản lý
hiệu quả nhất.
Trong những công trình nghiên cứu của mình, các nhà quản lý giáo dục
Xô Viết đã cho rằng: “Kết quả toàn bộ hoạt động của nhà trường phụ thuộc
rất nhiều vào việc tổ chức đúng đắn và hợp lý công tác hoạt động của đội ngũ
giáo viên”.
- Đối với Việt Nam, từ những năm 60 Bộ Giáo dục và Đào tạo chính thức
ban hành các tiêu chí TBDH từ mẫu giáo đến phổ thông. Tiếp theo là những
tiêu chuẩn đã được xây dựng và ban hành vào các năm 1975, 1985. Từ năm
1986 trở lại đây, dưới dạng các đề tài nghiên cứu cấp Bộ và đề tài tiêu chuẩn đo
lường cấp Ngành, Viện Khoa học Giáo dục Việt Nam đã triển khai xây dựng
hệ thống tiêu chuẩn danh mục TBDH trường tiểu học, THCS, THPT phục vụ
chương trình cải cách giáo dục và chương trình thí điểm chuyên ban. Những
năm gần đây đã có một số công trình nghiên cứu về vấn đề TBDH nói chung,
đó là các bài báo, các luận văn thạc sĩ nghiên cứu. Về vấn đề này, có thể điểm
đến một số công trình như:
- Luận văn thạc sĩ của Bùi Thị Thanh - phòng GD-ĐT quận Hoàng Mai,
2004:“Một số biện pháp quản lý nhằm đổi mới phương pháp sử dụng phương
Trường THPT trong hệ thống GDQD được thành lập theo quy hoạch, kế
hoạch của Nhà nước nhằm phát triển sự nghiệp giáo dục và được tổ chức theo
các loại hình: công lập. Trường THPT có nhiệm vụ tổ chức giảng dạy, học tập
và hoạt động giáo dục khác theo mục tiêu, chương trình giáo dục do Nhà
nước ban hành. Trường THPT phải đảm bảo đủ giáo dục đạt chuẩn trở lên và
được quy hoạch xây dựng CSVC trường học, trang thiết bị dạy học, cung cấp
nguồn tài chính… theo quy mô phát riển của trường.
7
1.2.3. Mục tiêu, nội dung, phương pháp kế hoạch giáo dục THPT
a. Mục tiêu giáo dục THPT
Theo Luật Giáo dục: “Mục tiêu của giáo dục phổ thông là giúp học sinh
phát triển toàn diện về đạo đức, trí tuệ, thể chất, thẩm mỹ và kỹ năng cơ bản
nhằm hình thành nhân cách con người Việt Nam xã hội chủ gnhĩa, xây dựng
tư cách và trách nhiệm công dân, chuẩn bị cho học sinh tiếp tục học lên hoặc
đi vào cuộc sống lao động, tham gia xây dựng và bảo vệ Tổ quốc”. (Quốc hội
nước CHXHCN Việt Nam. Luật giáo dục, NXB Chính trị quốc gia Hà Nội)
“Giáo dục THPT nhằm giúp học sinh củng cố và phát triển những kết
quả của giáo dục THCS, hoàn thiện học vấn phổ thông và những hiểu biết
thông thường về kĩ thuật và hướng nghiệp để tiếp tục học đại học, cao đẳng,
trung học chuyên nghiệp, học nghề hoặc đi vào cuộc sống lao động”. (Giáo
trình quản lý hành chính Nhà nước năm (1992), Học viện Hành Chính Quốc
Gia Hà Nội)
Như vậy, mục tiêu giáo dục là thể hiện tập trung nhất các yêu cầu xây
dựng những con người mới và thế hệ phù hợp với cơ chế mới, năng động,
thích ứng với sự phát triển và tiến bộ xã hội, biết tiếp thu giá trị và sáng tạo ra
giá trị mới cho xã hội.
b. Nội dung Giáo dục THPT
Khoản 1 điều 24 Luật Giáo dục quy định: “Nội dung Giáo dục trung học
phổ thông phải đảm bảo tính phổ thông, cơ bản, toàn diện, hướng nghiệp và
hệ thống; gắn với thực tiễn cuộc sống, phù hợp với tâm sinh lý lứa tuổi của
Kế hoạch Giáo dục phải phản ánh mục tiêu giáo dục toàn diện bao gồm
những yêu cầu về giáo dục đạo đức, trí tuệ, thể chất, thẩm mỹ, lao động kỹ
thuật. Kế hoạch giáo dục phản ảnh tính hài hoà, cân đối giữa các mặt giáo dục
đảm bảo tính hệ thống, kế tiếp. Xác định hệ thống môn học với thời lượng
phù hợp, đảm bảo coi trọng nội dung giáo dục: Khoa học tự nhiên, xã hội và
nhân văn, kỹ thuật và công nghệ.
9
1.2.4. Trường THPT
Theo Thông tư 12/2011/TT-BGDĐT về việc ban hành Điều lệ trường
trung học cơ sở, trường trung học phổ thông và trường phổ thông có nhiều
cấp học của Bộ Giáo dục và Đào tạo, trường THPT phải đạt được các tiêu
chuẩn như sau:
Tiêu chuẩn 1: Tổ chức nhà trường
1. Lớp học: Mỗi lớp không quá 45 học sinh.
2. Tổ chuyên môn: Tổ chuyên môn sinh hoạt hai tuần một lần và có thể
họp đột xuất theo yêu cầu công việc hay khi Hiệu trưởng yêu cầu.
3. Khối hành chính, quản trị: Gồm phòng làm việc của Hiệu trưởng, Phó
Hiệu trưởng, văn phòng, phòng họp toàn thể cán bộ, giáo viên và nhân viên
nhà trường, phòng các tổ chuyên môn, phòng y tế trường học, nhà kho, phòng
thường trực, phòng của các tổ chức Đảng, đoàn thể
4. Ban đại diện cha mẹ học sinh:
- Mỗi lớp có một Ban đại diện cha mẹ học sinh tổ chức trong mỗi năm
học gồm các thành viên do cha mẹ, người giám hộ học sinh cử ra để phối hợp
với giáo viên chủ nhiệm lớp, giáo viên bộ môn trong việc giáo dục học sinh.
- Mỗi trường có một Ban đại diện cha mẹ học sinh được tổ chức trong
mỗi năm học gồm một số thành viên do các Ban đại diện cha mẹ học sinh
từng lớp cử ra để phối hợp với nhà trường thực hiện các hoạt động giáo dục.
- Nhiệm vụ, quyền hạn, tổ chức và hoạt động của Ban đại diện cha mẹ
học sinh từng lớp, từng trường trung học thực hiện theo Điều lệ Ban đại diện
cha mẹ học sinh.
1.3.1. Khái niệm quản lí:
Theo quan điểm của lí thuyết hệ thống, quản lí là “Phương thức tác động
có chủ đích, có kế hoạch của chủ thể quản lí lên hệ thống, bao gồm hệ thống
11
các quy tắc, các ràng buộc về hành vi đối với mọi đối tượng ở các cấp trong
hệ thống nhằm duy trì tính trội hợp lí của cơ cấu và đưa hệ thống sớm đạt
được những mục tiêu dự kiến”.
Ở Việt Nam, các nhà nghiên cứu về khoa học quản lí cũng bàn nhiều về
khái niệm quản lí.
Theo tác giả Đặng Vũ Hoạt và tác giả Hà Thế Ngữ viết: “Quản lí là một
quá trình định hướng, quá trình có mục tiêu, quản lí một hệ thống nhằm đạt
được những mục tiêu nhất định”.
Tác giả Nguyễn Văn Lê viết “Quản lí là một hệ thống xã hội, là khoa
học và nghệ thuật tác động vào từng thành tố của hệ thống bằng những
phương pháp thích hợp, nhằm đạt các mục tiêu đề ra cho hệ và từng thành tố
của hệ”. (Nguyễn Văn Lê (1985), Khoa học Quản lý nhà trường, NXB Tỉnh
Hồ Chí Minh)
Tác giả Trần Quốc Thành cho rằng: có nhiều cách khác nhau tiếp cận
khái niệm quản lí.
Dưới góc độ kinh tế học: “Quản lí là tính toán sử dụng các nguồn lực
một cách hợp lí nhất để đạt tới hiệu quả kinh tế cao nhất”.
Dưới góc độ điều khiển học: “Quản lí là sự sắp xếp tối ưu nhất các phần
tử trong tổ chức sao cho hệ thống ấy có trật tự tối ưu”.
Dưới góc độ chính trị xã hội: “Quản lí là tổ hợp những cách thức, những
phương pháp tác động vào đối tượng quản lí để phát huy hết tiềm năng của
đối tượng nhằm đạt tới mục tiêu mong muốn”.
Dưới góc độ hành động: “Quản lí thực chất là quá trình điều khiển
những đối tượng quản lí để đạt được mục tiêu mong muốn”.
Như vậy, cần hiểu khái niệm quản lí bao hàm những khía cạnh sau:
- Đối tượng tác động của quản lí là một hệ thống hoàn chỉnh giống như
hoạt động và quyết định phương thức đạt được các mục tiêu đó, trên cơ sở
những điều kiện, nguồn lực hiện có.
Sản phẩm của lập kế hoạch là các bản kế hoạch. Có 3 loại kế hoạch: kế
hoạch chiến lược nhằm giải quyết mục tiêu chiến lược, kế hoạch chiến thuật
để giải quyết mục tiêu chiến thuật và kế hoạch tác nghiệp để giải quyết mục
tiêu tác nghiệp. Khi lập kế hoạch, người quản lí phải xác định mình đang cần
loại kế hoạch nào, phải biết mình đang ở đâu, có gì, đi tới đâu, bằng cách
nào? Nghĩa là phải cân đối giữa hệ thống mục tiêu với nguồn lực và điều kiện
thực hiện chúng; cân đối giữa yêu cầu và khả năng, để chọn ra những phương
án tối ưu cho từng mục tiêu một.
Tổ chức: là quá trình sắp xếp và phân bổ công việc, quyền hành và các
nguồn lực cho các thành viên của tổ chức để họ có thể đạt được các mục tiêu
của tổ chức một cách có hiệu quả, ứng với những mục tiêu khác nhau đòi hỏi
cấu trúc tổ chức cho phù hợp với những mục tiêu và nguồn lực hiện có. Thành
công của một tổ chức phụ thuộc rất nhiều vào năng lực và phong cách của chủ
thể quản lí, vào việc huy động và sử dụng các nguồn lực, cũng như tạo ra
động lực, đặc biệt là năng lực nội sinh của tổ chức. Lập kế hoạch tốt mà tổ
chức không tốt, không phân công, phân nhiệm và tạo điều kiện cụ thể thích
hợp thì khó đạt đến mục tiêu chung.
Chỉ đạo: là điều khiển, điều hành, tác động, huy động và giúp đỡ, tạo
điều kiện cho những cán bộ dưới quyền thực hiện những nhiệm vụ được phân
công. Mỗi người đều có mục tiêu riêng, người quản lí phải biết điều khiển
tác động để hướng mục tiêu cá nhân sao cho hoà hợp với mục tiêu chung
của tập thể.
Kiểm tra: là quá trình thiết lập và thực hiện các cơ chế thích hợp, theo
dõi, giám sát các thành quả hoạt động và tiến hành sửa chữa, uốn nắn khi cần
thiết để đảm bảo được mục tiêu của tổ chức. Để việc kiểm tra có hiêụ quả,
14
trước tiên phải xây dựng tiêu chuẩn phù hợp với từng mục tiêu, sau đó xác
định, so sánh việc thực hiện nhiệm vụ, mục tiêu đó và điều chỉnh kịp thời
sự tác động có ý thức nhằm điều khiển, hướng dẫn các quá trình giáo dục,
những hoạt động của cán bộ, giáo viên và học sinh, sinh viên, huy động tối
đa các nguồn lực khác nhau để đạt tới mục đích của nhà quản lí giáo dục và
phù hợp với quy luật khách quan.
1.4. Quản lí nhà trường
1.4.1. Khái niệm quản lí nhà trường
Theo tác giả Trần Kiểm “Quản lí nhà trường là thực hiện đường lối giáo
dục của Đảng trong phạm vi trách nhiệm của mình, tức là đưa nhà trường vận
hành theo nguyên lí giáo dục, để tiến tới mục tiêu giáo dục, mục tiêu đào tạo
đối với ngành giáo dục, với thế hệ trẻ và với từng học sinh”.
Theo tác giả Nguyễn Ngọc Quang “Quản lí nhà trường là quản lí hoạt
động dạy và học tức là làm sao đưa hoạt động đó từ trạng thái này sang trạng
thái khác để dần dần tiến tới mục tiêu giáo dục”. (Nguyễn Ngọc Quang
(1989), Một số khái niệm về quản lý giáo dục, tập bài giảng sau Đại học,
Trường CBQL Giáo dục - Đào tạo, Hà Nội)
Trong cuốn “Cơ sở lí luận của khoa học quản lí giáo dục” tác giả
M.I.Kôn-Đa-Cốp đã viết “Chúng ta hiểu quản lí nhà trường (công việc nhà
trường) là một hệ thống xã hội sư phạm chuyên biệt, hệ thống này đòi hỏi
những tác động có ý thức, có kế hoạch và hướng đích của chủ thể quản lí đến
tất cả các mặt của đời sống nhà trường, nhằm đảm bảo sự vận hành tối ưu về
các mặt kinh tế – xã hội, tổ chức sư phạm của quá trình dạy – học và giáo dục
thế hệ đang lớn lên”.
Ta có thể phân tích quá trình giáo dục của nhà trường như một hệ thống
gồm các thành tố và được biểu diễn bằng sơ đồ sau:
16
M. Mục tiêu dạy học
N. Nội dung dạy học
P. Phương pháp dạy học
Th. Thầy
Tr. Trò
chính trị – xã hội, sáng tạo trong công việc, có như vậy mới đạt được kết quả
mong muốn.
1.5. Quản lí cơ sở vật chất kĩ thuật và thiết bị dạy học
1.5.1. Khái niệm về cơ sở vật chất kĩ thuật
CSVCKT là tất cả các phương tiện vật chất được huy động vào việc
giảng dạy, học tập và các hoạt động mang tính giáo dục khác để đạt được mục
đích giáo dục. Hệ thống CSVC sư phạm bao gồm: các công trình xây dựng,
sân chơi, bãi tập, vườn thực nghiệm, trang thiết bị chuyên dùng, thiết bị giáo
dục các bộ môn, các phương tiện phục vụ việc giảng dạy và học tập. Đó là
một hệ thống đa dạng về chủng loại và có một bộ phận tương đối phức tạp về
mặt kĩ thuật. Tính đa dạng và phong phú của hệ thống tạo ra không ít trở ngại
trong quản lí và sử dụng. Hệ thống CSVC sư phạm được phân chia ra làm ba
bộ phận:
a, Trường học: nhà cửa, sân chơi, bãi tập, khuôn viên…
Trường học là nơi tổ chức việc giảng dạy và giáo dục học sinh. Do đòi
hỏi của quá trình phát triển giáo dục, đặc biệt do yêu cầu của việc thực hiện
đổi mới chương trình giáo dục phổ thông, đổi mới các phương pháp dạy học
(PPDH), trường học cũng có những thay đổi nhất định để phù hợp với các yêu
cầu đổi mới như việc xây dựng các phòng thí nghiệm, thực hành, phòng bộ
môn…
Môi trường sư phạm của trường học đảm bảo mỹ quan sư phạm và
không tác động xấu tới việc giảng dạy, học tập và sự an toàn của thầy và trò.
18
b, Thư viện:
+ Sách là loại CSVC trọng yếu, là phương tiện cần thiết phục vụ cho
việc học tập và giảng dạy của nhà trường đồng thời là nguồn tri thức quan
trọng của học sinh và giáo viên.
+ Thư viện trường học: Tổ chức có nhiệm vụ sưu tập, tàng trữ, bảo quản,
giới thiệu, phổ biến, cho mượn tất cả các loại ấn phẩm, tạo điều kiện thuận lợi
cho mọi người đến đọc sách báo, tìm kiếm thông tin cần thiết cho học tập,