TẠ XUÂN TIẾN
Bộ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠĨ HỌC sư PHẠM HÀ NỘI 2
QUẢN LÝ Cơ SỞ VẶT CHẤT KỸ THUẬT
TRƯỜNG TRUNG HỌC cơ SỞ QUẶN BẮC TỪ LIÊM,
THÀNH PHỐ HÀ NỘI THEO HƯỚNG CHUẨN HÓA
LUẬN VĂN THẠC sĩ QUẢN LÝ GIÁO DỤC
TẠ XUÂN TIẾN
QUẢN LÝ Cơ SỞ VẶT CHẤT KỸ THUẬT
TRƯỜNG TRUNG HỌC cơ SỞ QUẶN BẮC TỪ LIÊM,
THÀNH PHỐ HÀ NỘI THEO HƯỚNG CHUẨN HÓA
Chuyên ngành: Quản lỷ giáo dục
Mã số: 60.14.01.14
LUẬN VĂN THẠC sĩ QUẢN LÝ GIÁO DỤC
Ngưòi hướng dẫn khoa học: TS Trần Thị Tố Oanh
LỜI CẢM ƠN
Với tình cảm chân thành, tôi xin được bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc đến các thầy
cô giáo trong Ban Giám hiệu, Khoa Sau đại học Trường Đại học Sư phạm Hà Nội 2
và các thầy cô giáo đã trực tiếp giảng dạy, hướng dẫn tôi trong quá hình học tập và
nghiên cứu.
Tôi cũng xin trân trọng cảm ơn Ban lãnh đạo phòng Giáo dục và Đào tạo, các
MỤC
PHỤ LỤC
ST
Chữ viết tắt
T
CB
1
CBQL
2
3
Chữ viết đầy đủ
Cán bộ
Cán bộ quản lý
Cơ sở vật chất - kĩ thuật
4
csvc - KT
NV
5
ĐH
Đại học
UBND
ủy ban nhân dân
12
XHCN
Xã hội chủ nghĩa
Nhân viên
Bảng
Nội
Trang
dung
Bảng 2.1 Quy mô phát triển giáo dục trung học cơ sở quận Bắc Từ 36 Liêm, Hà Nội
Bảng 2.2 Quy mô sử dụng đất của các truờng THCS quận Bắc Từ 39 Liêm, Hà Nội
(năm học 2015-2016)
Bảng 2.3 Thống kê số phòng học bộ môn ở các truờng THCS
40
quận Bắc Từ Liêm, Hà Nội (năm học 2015-2016)
Bảng 2.4 Thống kê số phòng phục vụ học tập ở các truờng THCS 41 quận Bắc Từ
Liêm, Hà Nội (năm học 2015-2016)
học. Cơ sở hạ tầng trong ngành Giáo dục và Đào tạo chính là cơ sở vật chất trường
học; chủ yếu bao gồm các khối công trình của trường (lóp học, phòng thí nghiệm,
thực hành, khu hành chính, bán trú....) và các trang thiết bị phục vụ cho hoạt động dạy
- học từ các loại bảng, bàn ghế, dụng cụ dạy học đơn giản đến các thiết bị hiện đại như
máy vi tính, máy chiếu vật thể, projector, bảng tương tác...
-
Nghị quyết 14 ngày 11/01/1979 của Bộ Chính trị về Cải cách giáo dục đã chỉ rõ : “Cơ
sở vật chất - kỹ thuật của trường học là những điều kiện vật chất cần thiết giúp học
sinh nẳm vững kiến thức, tiến hành lao động sản xuất, thực nghiêm và nghiên cứu
khoa học hoạt động văn nghệ và rèn luyện thân thể... báo đảm thực hiện tốt phương
pháp giáo dục và đào tạo mới ”
-
Nghị quyết Ban chấp hành Trung ương Đảng CSVN lần 2 - Khóa VIII đã đề cập và
khẳng định tầm quan trọng của cơ sở vật chất - kỹ thuật các trường học như sau:
"Nâng cao chất lượng giáo dục, phẩn đẩu sớm có một sổ trường học đạt tiêu chuẩn
quốc tể trên cơ sở xây dựng đội ngũ giáo viên mạnh, tiêu chuẩn hóa và hiện đại hóa
các điều kiện dạy và học
Nghị quyết cũng đã nhấn mạnh“... tăng cường cơ sở vật chất - kỹ thuật các
trường học”, “Xba phòng học tạm, xoả ca ba; quy hoạch đất đai cho các trường; ban
hành chuẩn quốc gia về các cơ sở vật chất - kỹ thuật của các trường học, bao gồm:
lớp học, bàn ghế, tủ sách, đồ dùng dạy học, trang thiết bị thi nghiệm, thực hành tối
thiểu ...”
-
vật chất, trang thiết bị dạy học cho các trường đã đạt chuẩn quốc gia. Xuất phát từ yêu
cầu và thực tiễn quản lý cơ sở vật chất trường Trung học cơ sở ở quận Bắc Từ Liêm,
thành phố Hà Nội, chúng tôi chọn đề tài “ Quản lý cơ sở vật chất kỹ thuật trường
Trung học cơ sở quận Bắc Từ Liêm, thành phố Hà Nội theo hướng chuẩn hóa”.
2. Mục đích nghiên cứu
Trên cơ sở đánh giá thực trạng về công tác quản lý cơ sở vật chất kỹ thuật tại
các trường Trung học cơ sở quận Bắc Từ Liêm, thành phố Hà Nội, đề xuất những biện
pháp quản lí cơ sở vật chất kỹ thuật theo hướng chuẩn hóa tại các trường Trung học cơ
sở quận Bắc Từ Liêm thành phố Hà Nội.
3. Nhiệm vụ nghiên cứu
3.1.
Nghiên cứu cơ sở lý luận về công tác quản lý cơ sở vật chất kỹ thuật trường
học.
3.2.
Đánh giá thực trạng quản lý cơ sở vật chất kỹ thuật ở các truờng trung
học cơ sở quận Bắc Từ Liêm, thành phố Hà Nội theo hướng chuẩn hóa.
3.3.
Đề xuất các biện pháp quản lý cơ sở vật chất kỹ thuật ở các trường trung
học cơ sở quận Bắc Từ Liêm, thành phố Hà Nội theo hướng chuẩn hóa.
Phương pháp so sánh, tổng hợp, khái quát hóa lí luận để xây dựng hệ thống khái niệm
và căn cứ lí luận.
6.2.
Các phương pháp nghiên cứu thực tiễn
6.2.1.
Phương pháp điều tra viết
Phương pháp này dùng để nghiên cứu thực trạng quản lí cơ sở vật chất và kĩ
thuật của các trường Trung học cơ sở làm cơ sở cho việc đề xuất một số biện pháp
quản lí nhằm nâng cao chất lượng đào tạo.
6.2.2.
Phương pháp quan sát
Nhằm trực tiếp tìm hiểu thực trạng hoạt động quản lí cơ sở vật chất và thiết bị
dạy học của các trường Trung học cơ sở hiện nay.
6.2.3.
Phương pháp phỏng vấn
Trao đổi, xin ý kiến với các lãnh đạo, cán bộ, giáo viên, công nhân viên và học
sinh nhà trường để có các ý kiến trực tiếp và tranh thủ được các gợi ý, đề xuất hỗ trợ
cho người nghiên cứu trong quá trình thực hiện đề tài.
nguời quan tâm, thể hiện qua các luận văn thạc sĩ quản lí giáo dục.
Một số nghiên cứu đi sâu vào việc quản lí thiết bị dạy học nhu Võ Đăng Chín
[7] bàn về biện pháp quản lí thiết bị dạy học ở các truờng THCS huyện Trà My, tỉnh
Quảng Nam; Trần Đức Hùng [26] đề xuất biện pháp quản lí thiết bị dạy học ở các
truờng THPT tỉnh Quảng Ngãi trong giai đoạn hiện nay.
Những nghiên cứu quản lí cơ sở vật chất ở các loại hình truờng học khác nhau:
ở truờng trung học phổ thông công lập huyện Quỳnh Luu, tỉnh Nghệ An nhu Hồ Sỹ
Nam Thắng [42], truờng trung học phổ thông chuẩn quốc gia thành phố Hải Phòng
nhu Nguyễn Thị Thu Hằng [14], truờng trung học phổ thông chuẩn quốc gia huyện
Lạc Thủy - tỉnh Hòa Bình nhu Tạ Huy Lai [31], theo địa phuơng nhu Bùi Hữu Thành
Cát [5] ở tỉnh Đắc Lắc, Trần Trọng Khoát [29] ở tỉnh Sơn La, Đỗ Hoàng Điệp [12] ở
huyện Sóc Sơn, Hà Nội, truờng trung học cơ sở huyện miền núi Sơn Duơng tỉnh
Tuyên Quang nhu Nguyễn Thị Huề [15], truờng THCS huyện Vĩnh Thạnh, thành phố
cần Thơ nhu Vuơng Ngọc Lê [32], truờng THCS thị xã Phú Thọ, tỉnh Phú Thọ nhu
Ngô Thị Phong [37], truờng mầm non thành phố Buôn Ma Thuột tỉnh Đắk Lắk nhu
Nguyễn Hải Thanh [43].
Một huớng đã nghiên cứu về quản lí cơ sở vật chất - kĩ thuật ở các truờng cao
đẳng, đại học nhu Bùi Đình Hung [16] nhằm đáp ứng yêu cầu đào tạo đa ngành của
truờng Đại học Hải Phòng, Nguyễn Đức Long [34] ở Đại học Hồng Đức, Nguyễn
Xuân Tuyển [49] ở truờng Đại học Su phạm Hà Nội, Lê Cao
Sơn [40] ở trường đại học Hùng Vương,Nguyễn Ngọc Phúc [38] ở trường Cao đẳng
Cộng đồng Lai Châu, Hà Văn Ánh [1] ở trường Cao đẳng Sư phạm Đắc Lắc, Nguyễn
Thị Thư [46] ở trường cao đẳng sư phạm Bắc Ninh, Nguyễn Văn Hữu [27] ở trường
Trung cấp Cảnh sát Nhân dân 1, Lưu Thanh Tâm [41] ở trường Cao đẳng nghề Giao
thông Vận tải Trung ương II, Lương Đình Khả [28] ở Trung tâm Giáo dục thường
xuyên thành phố Buôn Ma Thuật tỉnh Đắk Lắk theo hướng xã hội hóa, Lê Văn Trường
[48] ở trường Cao đẳng Tài chính - Quản trị Kinh doanh Hưng Yên.
-
Chuẩn phưong tiện và dụng cụ thực hành, thực nghiệm
-
Chuẩn đồ dùng học tập, đồ chơi, tài liệu trực quan khác [21].
Tuy nhiên, việc quản lí cơ sở vật chất - kĩ thuật theo hướng chuẩn hóa chưa
được các nhà khoa học quan tâm nghiên cứu.
1.2.
Các khái niệm công cụ
1.2.1.
Quản lí
Khoa học quản lí đã có một quá trình ra đời và phát triển, đến nay khoa học
quản lí đã trở thành một ngành khoa học độc lập, có vai trò tác dụng to lớn đối với sự
phát triển của xã hội loài người.
Thuật ngữ “quản lí” đã trở nên phổ biến nhưng chưa có một định nghĩa thống
nhất. Nó được định nghĩa theo nhiều cách khác nhau trên cơ sở những cách tiếp cận
khác nhau.
Theo Đại bách khoa toàn thư Liên Xô: “Quản lí là chức năng của những hệ
thống có tổ chức với bản chất khác nhau (xã hội, sinh vật, kĩ thuật), nó bảo toàn cấu
trúc xác định của chúng, duy trì chế độ hoạt động, thực hiện những chương trình, mục
- xã hội qua các thế hệ, đồng thời là động lực thúc đẩy sự phát triển xã hội. Để hoạt
động này có hiệu quả, giáo dục phải được tổ chức thành các cơ sở, tạo nên một hệ
thống thống nhất. Điều này dẫn đến một tất yếu là phải có một lĩnh vực hoạt động có
tính độc lập tương đối trong giáo dục, đó là hoạt động quản lí giáo dục. Quản lí giáo
dục được xem như một hoạt động chuyên biệt để quản lí thống nhất các cơ sở giáo
dục.
Cũng giống như khái niệm quản lí, khái niệm quản lí giáo dục cũng có nhiều
cách định nghĩa khác nhau.
Theo các nhà lý luận Xô Viết: “Quản lí giáo dục là tập hợp các biện pháp (tổ
chức, phương pháp, cán bộ, giáo dục, kế hoạch hoá, tài chính ... nhằm đảm bảo sự vận
hành bình thường của các cơ quan trong hệ thống giáo dục, bảo đảm sự tiếp tục phát
triển và mở rộng hệ thống cả về mặt số lượng cũng như chất lượng.”
Theo Trần Kiểm ở cấp vĩ mô có thể hiểu: “Quản lí giáo dục là hoạt động tự
giác của chủ thể nhằm huy động, tổ chức, điều phối, điều chỉnh, giám sát ... một cách
có hiệu quả các nguồn lực giáo dục (nhân lực, vật lực, tài lực) phục vụ cho mục tiêu
phát triển giáo dục, đáp ứng yêu cầu phát triển kinh tế - xã hội” . Đối với cấp vi mô:
“Quản lí giáo dục được hiểu là hệ thống những tác động tự giác (có ý thức, có mục
đích, có kế hoạch, có hệ thống, họp quy luật) của chủ thể quản lí đến tập thể giáo viên,
công nhân viên, cha mẹ học sinh và các lực lượng trong và ngoài nhà trường nhằm
thực hiện có chất lượng và hiệu quả mục tiêu giáo dục của nhà trường” [30].
Theo Nguyễn Ngọc Quang, “Quản lí giáo dục là hệ thống những tác động có
mục đích, có kế hoạch và họp quy luật của chủ thể quản lí (Hệ giáo dục) nhằm làm
cho hệ vận hành theo đường lối và nguyên lý giáo dục của Đảng, thực hiện các tính
chất của nhà trường XHCN Việt Nam, mà tiêu điểm hội tụ là quá trình dạy học, giáo
dục thế hệ trẻ, đưa hệ giáo dục tới mục tiêu dự kiến, tiến lên trạng thái mới về chất”
[39].
Chúng tôi tán thành quan niệm của Đặng Thành Hưng cho rằng: “Quản lý giáo
dục là dạng lao động xã hội đặc biệt trong lĩnh vực giáo dục nhằm gây ảnh hưởng,
Thứ hai là, hoạt động quản lí của chủ thể quản lí ở ngay trong nhà trường đối với các
hoạt động của nhà trường như: Quản lí giáo viên, quản lí học sinh, quản lí quá trình
dạy học của giáo viên, quản lí hoạt động học tập của học sinh, quản lí cơ sở vật chất kĩ thuật, quản lí tài chính ...
Chúng tôi đồng ý với quan niệm của Đặng Thành Hưng: "Quản lý trường học
là quản lý giáo dục tại cấp cơ sở, trong đó chủ thể quản lý là các cấp chính quyền và
chuyên môn trên trường, các nhà quản lý trong trường do Hiệu trưởng đứng đầu, đối
tượng quản lý chính là nhà trường như một tổ chức chuyên môn-nghiệp vụ, nguồn lực
quản lý là con người, cơ sở vật chất- kĩ thuật, tài chính, đầu tư khoa học-công nghệ và
thông tin bên trong trường và được huy động từ bên ngoài trường dựa vào luật, chính
sách, cơ chế và chuẩn hiện có." [25],
Để hoạt động quản lí nhà trường đạt được mục tiêu và mang lại hiệu quả cao,
nhân tố quan trọng hàng đầu chính là đội ngũ cán bộ quản lí nhà trường. Quá trình
quản lí nhà trường thực chất là quản lí đội ngũ giáo viên, quản lí quá trình lao động sư
phạm của thầy, quản lí hoạt động học tập - tự học của học sinh, quản lí tài chính và
quản lí csvc - kĩ thuật phục vụ dạy và học.
Người cán bộ quản lí phải trực tiếp và ưu tiên dành nhiều thời gian để quản lí
hoạt động lực lượng trực tiếp đào tạo. Mọi hoạt động quản lí khác đều nhằm mục đích
nâng cao chất lượng dạy và học.
1.2.4. Chuẩn và chuẩn hóa
1.2.4.1.
Chuẩn
Đại từ điển bách khoa toàn thư thế giới Britannica- 2002 định nghĩa về chuẩn và
những phạm trù gần với chuẩn như sau:
+ Standard (chuẩn) - Cái được xác lập bởi quyền lực, tập quán hoặc sự thỏa
thuận chung để làm mẫu hoặc vật so sánh.
+ Cái được đặt ra và xác lập bởi quyền lực để làm luật lệ (qui tắc) đo lường số
thức cho giáo dục để tạo thuận lợi hơn cho tiến bộ và phát triển giáo dục.
1.2.5. Quản lí theo hướng chuẩn hóa
Chuẩn hóa trong giáo dục có những chức năng cơ bản là định hướng quản lí
giáo dục, qui cách hóa các sản phẩm, nguồn lực, phương tiện, hoạt động giáo dục, tạo
môi trường chính thức cho sự phát triển giáo dục [21].
Quản lí theo hướng chuẩn hóa là khi thực hiện các chức năng quản lí (lập kế
hoạch, tổ chức thực hiện, chỉ đạo, giám sát, kiểm tra và đánh giá) được thực hiện đáp
ứng chuẩn (chuẩn nội dung bao gồm cả yêu cần cần đạt và chuẩn thực hiện chỉ rõ quá
trình thực hiện để đạt yêu cầu đã đề ra).
Quản lí theo hướng chuẩn hóa bảo đảm tính minh bạch, công khai và công bằng
cho các nhà quản lí cũng như các cán bộ công nhân viên, tạo cơ hội cho việc tự quản
lí, tự kiểm tra đánh giá trong quá trình hoạt động cho các thành viên của tổ chức.
1.2.6. Quản lí cơ sở vật chất - kĩ thuật trường học
Quản lí csvc - KT trường học là một dạng quản lí nhằm gây ảnh hưởng, điều
khiển, phối họp lao động của nhiều người trong trường học nhằm thay đổi hành vi và
ý thức của họ, định hướng và tăng hiệu quả khai thác và sử dụng csvc - KT nhằm
nâng cao chất lượng giáo dục trong trường học.
1.3.
Cơ sở vât chất - kĩ thuât trường hoc
csvc - kĩ thuật trường học là tất cả các phương tiện vật chất, thiết bị,sản phẩm
khoa học - công nghệ được huy động vào các hoạt động giáo dục trong Nhà trường.
Khái niệm csvc - kĩ thuật liên tục được mở rộng nội hàm nhằm thích ứng thực tiễn
phát triển giáo dục và phát triển khoa học công nghệ.
csvc - kĩ thuật như một dạng tài sản công do Nhà nước giao cho nhà trường
quản lý sử dụng, do đầu tư xây dựng, mua sắm từ nguồn vốn ngân sách nhà nước và
các nguồn kinh phí khác hoặc do các tổ chức, cá nhân trong và ngoài nước biếu, tặng,
Các thiết bị thuộc hệ thống kỹ thuật hạ tầng của nhà truờng: Máy phát điện, thiết bị
chiếu sáng, thiết bị âm thanh, điện thoại, Website, mạng internet, vệ sinh, báo cháy,
chữa cháy...
-
Các trang thiết bị khác: Máy thu hình, chảo ăng ten...các dụng cụ, vật tư hậu cần khác.
-
Các phương tiện kĩ thuật và thiết bị dạy học (các máy móc thiết bị, vật liệu thực hành,
thí nghiệm được giáo viên và học sinh sử dụng trong hoạt động dạy và học).
-
Sách, báo, tài liệu, thiết bị... trong thư viện (gọi chung là trang thiết bị trong thư viện).
-
Các vật trưng bày truyền thống, các vật liệu phục vụ lễ tân và khánh tiết.
3. Các tài sản vật chất vô hình mà việc sử dụng phải chi trả bằng tiền như điện, cước
điện thoại, internet, phần mềm tin học..
Cơ sở vật chất và thiết bị trường học có thể phân thành mười loại như sau:
-
Công trình xây dựng cơ bản: Nhà, sân, vườn, đường đi, cây xanh, cây cảnh, trạm điện,
trạm nước, nhà xe ...
giải trí: Loa đài, ánh sáng, nhạc cụ, dụng cụ thể thao, phông màn, quần áo ...
-
Phương tiện giao thông: xe ôtô, xe máy ...
-
Hệ thống cung cấp điện, nước: Hệ thống đường dây, cột điện, điện chiếu sáng công
cộng, hệ thống cấp nước sạch, nước uống ...
-
Các thiết bị cứu hoả, chống bão lụt.
-
Các vật rẻ tiền mau hỏng
Có thể phân loại theo tính năng và tác dụng của từng CSVC- kĩ thuật như:
-
Các công trình xây dựng ngoại thất: Nhà cửa, sân vườn, đường đi...
-
Các trang thiết bị nội thất như: Đồ gỗ, đồ điện, đồ gia dụng ..., các dụng cụ sinh hoạt
và máy móc phục vụ sinh hoạt.
-
chuyên môn và nghiệp vụ cho đội ngũ) và điều hành có hiệu quả đội ngũ nhân lực
tham gia quản lí, xây dựng quản lí, mua sắm, trang bị, sửa chữa và bảo quản csvc - KT
theo hướng phát triển chuẩn hoá, hiện đại hoá nhà trường.
-
Thu nhận và xử lý chính xác các thông tin giáo dục - dạy học (cập nhật được mục đích
nội dung, chương trình, kế hoạch, phương pháp dạy học, của từng môn học trong từng
cấp học, bậc học và cập nhật từng thông tin về tiến bộ khoa học - công nghệ được vận
dụng vào công nghệ thiết kế, xây dựng và sản xuất csvc - KT). Đồng thời tạo được
môi trường giáo dục thuận lợi nhất nhằm huy động cộng đồng và xã hội vào việc tăng
cường csvc - KT cho nhà trường.
1.4.2.
Các nguyên tắc quản lí cơ sở vật chất - kĩ thuật trường học
Nguyên tắc quản lí là những quy tắc chỉ đạo, những hành vi mà công tác quản lí
bất kỳ cấp nào đều phải tuân theo khi thực hiện chỉ đạo và điều hành công tác quản lí
của mình. Các nguyên tắc quản lí chung như sau:
-
Nguyên tắc lãnh đạo toàn diện và tuyệt đối của Đảng đối với toàn bộ các hoạt động về
csvc - KT trong nhà trường.
-
Nguyên tắc tính khoa học cao trong hoạt động quản lí csvc - KT: Mọi hoạt động trong
nhà trường đều có đặc điểm riêng, cho nên quản lí csvc - KT phải đảm bảo tính lý
duy tu, sửa chữa, tiết kiệm được các nguồn lực, dành kinh phí đầu tư cho việc chuẩn
hoá, hiện đại hoá các máy móc, thiết bị.
+ Quản lí csvc - KT tốt nhằm nâng cao nhận thức cho cán bộ, giáo viên, CNV,
học sinhvề tầm quan trọng csvc - KT, từ đó sẽ giúp cho việc ứng dụng thiết bị dạy học
vào quá trình giáo dục được thường xuyên liên tục, góp phần tạo ra kết quả đào tạo
cao hơn.
+ Quản lí csvc - KT tốt giúp cho việc xây dựng, đầu tư và phát triển csvc - KT
được tốt hơn. Để chuẩn hoá, hiện đại hoá không chỉ dựa vào nguồn ngân sách nhà
nước cấp mà còn phải biết vận dụng linh hoạt, huy động các nguồn vốn của nhà
trường, các nguồn vốn xã hội hoá.
Ngược lại, chất lượng cơ sở vật chất- kĩ thuật trường học cũng có ý nghĩa quan