Lần đầu chuyển đổi báo cáo tài chính tập đoàn tân tạo từ chuẩn mực kế toán việt nam (VAS) sang chuẩn mực báo cáo tài chính quốc tế (IFRS) - Pdf 29



TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ TP. HỒ CHÍ MINH
****************

ĐINH MINH TUẤN
LẦN ĐẦU CHUYỂN ĐỔI BÁO CÁO TÀI CHÍNH TẬP
ĐOÀN TÂN TẠO TỪ CHUẨN MỰC KẾ TOÁN VIỆT
NAM (VAS) SANG CHUẨN MỰC BÁO CÁO TÀI
CHÍNH QUỐC TẾ (IFRS)
LUẬN VĂN THẠC SĨ KINH TẾ
TP. HỒ CHÍ MINH, THÁNG 10 NĂM 2013 BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ TP. HỒ CHÍ MINH
****************

ĐINH MINH TUẤN
LẦN ĐẦU CHUYỂN ĐỔI BÁO CÁO TÀI CHÍNH TẬP
ĐOÀN TÂN TẠO TỪ CHUẨN MỰC KẾ TOÁN VIỆT
NAM (VAS) SANG CHUẨN MỰC BÁO CÁO TÀI
CHÍNH QUỐC TẾ (IFRS)
LUẬN VĂN THẠC SĨ KINH TẾ
TP. HỒ CHÍ MINH, THÁNG 10 NĂM 2013
Chuyên ngành : Kế toán
Mã số : 60340301

1.1 Chuẩn mực BCTC quốc tế 7
1.1.1 Quá trình hình thành và phát triển của chuẩn mực kế toán quốc tế 7
1.1.1.1 Giai đoạn hình thành 8
1.1.1.2 Giai đoạn điều chỉnh 8
1.1.1.3 Giai đoạn phát triển 9
1.1.2 Thực trạng áp dụng chuẩn mực BCTC quốc tế 10
1.1.3 Đặc điểm cơ bản của Chuẩn mực BCTC quốc tế IFRS 11
1.2 Nội dung cơ bản của IFRS 1 13
1.2.1 Mục đích, phạm vi và nguyên tắc chung 13
1.2.2 Trường hợp ngoại lệ và miễn trừ từ nguyên tắc chung 15
1.2.2.1 Trường hợp ngoại lệ bắt buộc áp dụng hồi tố 15
1.2.2.2 Trường hợp miễn trừ (tùy chọn) 15
1.2.3 Trình bày và yêu cầu công bố thông tin 17
1.2.3.1 Tuân thủ các yêu cầu trình bày và công bố khác 17
1.2.3.2 Giải thích việc chuyển đổi sang IFRS 17
1.2.4 Báo cáo tài chính giữa niên độ 18
1.2.5 Thông tin so sánh 18
1.3 Kinh nghiệm áp dụng IFRS 1 để chuyển đổi báo cáo tài chính sang IFRS ở
Việt Nam 19
1.3.1 Kinh nghiệm lần đầu áp dụng chuẩn mực trình bày BCTC quốc tế ở
một số doanh nghiệp ở Việt Nam 19
1.3.1.1 Tập đoàn Bảo Việt 19
1.3.1.2 Tập đoàn Vincom (“Vincom”) 20
1.3.2 Những bài học rút ra cho những doanh nghiệp lần đầu chuyển đổi
BCTC theo IFRS 22
1.3.2.1 Nâng cao năng lực đội ngũ kế toán viên 22
1.3.2.2 Sự trợ giúp của kiểm toán viên 22

3.2 Nội dung chuyển đổi sang BCTC theo IFRS 45
3.3 Một số kiến nghị đối với Tập đoàn Tân Tạo 61
3.3.1 Nâng cấp và cải thiện quản trị công ty 61
3.3.2 Ứng dụng công nghệ thông tin vào việc lập BCTC 62
3.3.3 Nâng cao năng lực của đội ngũ nhân viên kế toán 62
3.4 Một số kiến nghị đối với Bộ Tài chính 63
Tóm tắt chương 3 65
KẾT LUẬN 66
TÀI LIỆU THAM KHẢO
PHỤ LỤC

DANH MỤC VIẾT TẮT

BCTC: Báo cáo tài chính
CMKT: Chuẩn mực kế toán

EU: European Union
Liên minh Châu ÂU
GAAP: Generally accepted accounting principles
Các nguyên tắc kế toán được chấp nhận phổ biến
IAS: International Accounting Standards
Chuẩn mực kế toán quốc tế
IASB: International Accounting Standard Board
Hội đồng chuẩn mực kế toán quốc tế
IASC: International Accounting Standard Committee
Ủy ban Chuẩn mực kế toán quốc tế
IFRS: International Financial Reporting Standards DANH MỤC HÌNH

Hình 1.1: Minh họa thời điểm chuyển đổi sang IFRS 14
1

MỞ ĐẦU

1. Sự cần thiết của đề tài
Việt Nam ngày càng hội nhập sâu rộng với nền kinh tế thế giới, là thành viên
chính thức của WTO, Việt Nam sẽ thu hút ngày càng nhiều doanh nghiệp đầu tư và cơ
hội vươn ra thế giới. Do vậy, tham gia sân chơi chung, Việt Nam cũng phải tuân thủ
những quy luật, quy định chung của thế giới và việc Việt Nam tuân thủ Chuẩn mực
BCTC quốc tế (IFRS) là một tất yếu.
Thực tế hiện nay, đang có nhiều doanh nghiệp Việt Nam muốn niêm yết cổ phiếu
tại thị trường chứng khoán nước ngoài và các BCTC của các doanh nghiệp này thường
bắt buộc yêu cầu phải lập theo IFRS. Tương tự các doanh nghiệp muốn phát hành trái
phiếu ra nước ngoài cũng yêu cầu phải có BCTC được lập theo IFRS. Tuy nhiên, hệ
thống chuẩn mực kế toán chưa đầy đủ và cập nhật, cho nên việc có sự khác biệt đáng
kể giữa Chuẩn mực kế toán Việt Nam và Chuẩn mực BCTC quốc tế, đặc biệt là vấn đề
khai báo thông tin. Điều này gây ra sự lo ngại là BCTC được lập theo Chuẩn mực kế
toán Việt Nam (VAS) có thể không đáp ứng được nhu cầu thông tin ở mức độ hợp lý
để có thể ra quyết định của các đối tượng liên quan.
Hiện nay các công ty Việt Nam vẫn áp dụng VAS để trình bày BCTC, tuy nhiên

sang Chuẩn mực BCTC quốc tế (IFRS)”, hy vọng thông qua đề tài tác giả sẽ cung
cấp một cái nhìn cụ thể hơn về cách thức chuyển đổi cũng như lợi ích mang lại khi các
doanh nghiệp Việt Nam áp dụng chuẩn mực lập BCTC quốc tế IFRS.

3 2. Tổng quan về tình hình nghiên cứu liên quan đến luận văn
Vấn đề về chuyển đổi báo cáo tài chính từ chuẩn mực kế toán Việt Nam (VAS) sang
chuẩn mực báo cáo tài chính quốc tế (IFRS), sự khác biệt giữa chuẩn mực kế toán Việt
Nam và chuẩn mực kế toán quốc tế đã được nhiều tác giả ở Việt Nam nghiên cứu.
Cụ thể theo Trần Xuân Nam (2010) đã đưa ra vấn đề nghiên cứu là: một số công
ty đa quốc gia bên cạnh việc tuân thủ và lập báo cáo tài chính theo chuẩn mực kế toán
Việt Nam, thì theo yêu cầu của công ty mẹ, theo yêu của của các nhà đầu tư, của người
cho vay vốn nước ngoài, hay do yêu cầu của thị trường chứng khoán nơi công ty niêm
yết đòi hỏi phải sử dụng cả hệ thống kế toán và chuẩn mực quốc tế về kế toán
(IAS/IFRS). Làm thế nào để người làm công tác kế toán có thể tự chuyển đổi các báo
cáo tài chính theo VAS sang các báo cáo tài chính theo IAS/IFRS khi có nhu cầu. Kết
quả nghiên cứu đã thể hiện tương đối đầy đủ, rõ ràng và cập nhật các quy định và
hướng dẫn về kế toán theo VAS và IFRS. Bên cạnh các nội dung mang tính nguyên
tắc và chế độ, nghiên cứu cũng đã đưa ra ví dụ thực tế sinh động có hiệu quả cao để
giải thích về bản chất của những quy định về cách ghi chép, báo cáo như trong VAS và
IFRS. Bênh cạnh đó nghiên cứu cũng đi sâu nghiên cứu sự khác biệt giữa VAS và
IFRS cũng như cách thức chuyển một báo cáo tài chính từ VAS sang IFRS. Tuy nhiên,
qua nghiên cứu, tác giả chưa đi sâu vào việc giải thích việc lần đầu chuyển đổi sang
IFRS phải tuân thủ những quy định gì và kỹ thuật chuyển đổi đối với một doanh
nghiệp lần đầu áp dụng IFRS. Bênh cạnh đó nghiên cứu này được thực hiện từ năm
2010 do đó một số quy định mới được ban hành bởi Bộ Tài Chính đã khắc phục được
một số sự khác biệt giữa VAS và IFRS.
Theo nghiên cứu của Phạm Hoài Hương (2010), được tiến hành nhằm xác định

- Tìm hiểu chung về Tập đoàn Tân Tạo và công tác tổ chức lập và trình bày
BCTC riêng và hợp nhất
- Tìm hiểu về kế hoạch tổ chức định hướng chuyển đổi sang BCTC theo
IFRS
c) Minh họa quy trình chuyển đổi sang BCTC từ VAS sang IFRS bằng số liệu
cụ thể của Tập Đoàn Tân Tạo và đề xuất các kiến nghị điều chỉnh các chuẩn mực kế
5 toán Việt Nam để có thể chuyển đổi một cách dễ dàng hơn các báo cáo được lập theo
VAS sang IFRS.

4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
Luận văn được nghiên cứu ở mức độ lý thuyết kế toán, không đề cập đến các lĩnh
vực kế toán cụ thể như kế toán tài chính, kế toán quản trị…cũng không đi sâu vào
khảo sát thực trạng của các doanh nghiệp cụ thể. Đề tài chỉ tập trung nghiên cứu
phương pháp chuyển đổi BCTC sang BCTC quốc tế IFRS, các kinh nghiệm chuyển
đổi BCTC sang IFRS trên thế giới và Việt Nam để minh họa cho Tập đoàn Tân Tạo. 5. Phương pháp nghiên cứu
Phương pháp nghiên cứu chủ yếu sử dụng phương pháp nghiên cứu định tính,
tổng hợp, so sánh đối chiếu và phương pháp chuyên gia.
Dữ liệu sử dụng:
 Nguồn tài liệu cho việc nghiên cứu của đề tài chủ yếu là tạp chí, báo cáo
khoa học, các văn bản pháp quy có liên quan, các trang web của chính phủ và
các trang web học thuật www.sciencedirect.com, www.oecd-ilibrary.org và
www.emeraldinsight.com.
 Các dữ liệu thứ cấp đã được thu thập thông qua tìm hiểu và nghiên cứu kinh
nghiệm chuyển đổi BCTC ở một số quốc gia trên thế giới.
CHƯƠNG 1
TỔNG QUAN VỀ CHUẨN MỰC BCTC QUỐC TẾ VÀ NỘI DUNG CƠ
BẢN CỦA IFRS 1 “LẦN ĐẦU ÁP DỤNG CHUẨN MỰC TRÌNH BÀY
BCTC QUỐC TẾ”

Trong chương này, tác giả sẽ tập trung hệ thống hóa quá trình hình thành phát triển hệ
thống kế toán quốc tế từ giai đoạn hình thành đến giai đoạn phát triển, các đặc điểm cơ
bản của chuẩn mực BCTC quốc tế. Bên cạnh đó một nội dung quan trọng cũng được
đề cập đến trong chương này đó là các lý thuyết nền tảng liên quan đến chuẩn mực báo
cáo tài chính quốc tế số 1 và các lưu ý khi lần đầu chuyển đổi sang BCTC quốc tế
IFRS.
Nghiên cứu này được thực hiện dựa trên nội dung chuẩn mực kế toán quốc tế số 1
“Lần đầu áp dụng chuẩn mực chuẩn mực trình bày BCTC quốc tế” và từ các nghiên
cứu đã được thực hiện trước đây để định hướng cho việc nghiên cứu tổng quan về
chuyển đổi BCTC theo IFRS.
1.1 Chuẩn mực kế toán quốc tế
1.1.1 Quá trình hình hình thành và phát triển của chuẩn mực kế toán quốc tế
Hệ thống chuẩn mực kế toán quốc tế là hệ thống chuẩn mực đề cập đến những vấn đề
mang tính nền tảng, khuôn mẫu, những nguyên tắc, phương pháp có tính chất cơ bản
được chấp nhận rộng rãi trên toàn thế giới.
Theo nghiên cứu trước đây được thực hiện bởi nhóm tác giả (Vũ Hữu Đức, Trần Thị
Giang Tân & Nguyễn Thế Lộc, 2010), chuẩn mực kế toán quốc tế hình thành và phát
triển qua 3 giai đoạn khác nhau bao gồm:
1.1.1.1 Giai đoạn hình thành
Chuẩn mực kế toán quốc tế của các quốc gia không chỉ đa dạng về hình thức hoặc tổ
chức ban hành mà còn có những khác biệt đáng kể trong các thức xử lý các nghiệp vụ,
giao dịch cũng như trình bày BCTC.
Năm 1972, dự án về việc thành lập một tổ chức soạn thảo và hành các chuẩn mực kế

Trong khi đó các chuẩn mực kế toán quốc tế do IASC ban hành lại chấp nhận nhiều
cách lưa chọn khác nhau nên khó được chấp nhận bởi các thị trường chứng khoán. Để
có thể giải quyết vấn đề này, IASC đã phải có những điều chỉnh trong các chuẩn mực
9 kế toán quốc tế theo hướng thu hẹp các lựa chọn để đi đến một hệ thống chuẩn mực
giúp bảo đảm khả năng so sánh được. Quá trình điều chỉnh được bắt đầu tiến hành từ
năm 1987 với Dự Án cải cách và khả năng so sánh (Comparability and Improvements
Project) với kết quả là đã điều chỉnh được 10 IAS trong tổng số 31 IAS theo hướng
tăng cường khả năng so sánh của BCTC vào năm 1993.
Với tất cả những nỗ lực trên, đến cuối thế kỷ 20, IASC đã ban hành được 40 IAS được
đánh giá cao và chấp nhận bởi nhiều quốc gia và thị trường chứng khoán trên thế giới.
Tuy nhiên, do vẫn còn những khoảng cách nhất định nên các chuẩn mực kế toán quốc
tế vẫn chưa được thừa nhận ở một số thị trường chứng khoán quan trọng tại Hoa Kỳ,
châu Âu, Nhật…
1.1.1.3 Giai đoạn phát triển
Với vị trí và vai trò ngày càng tăng lên, việc tái cấu trúc IASC trở thành một yêu cầu
bức thiết nhằm phát triển các chuẩn mực kế toán quốc tế, Mặt khác, IASC cần phải
tiếp tục nỗ lực của mình để được công nhận ở những thị trường chứng khoán lớn trên
thế giới. Nên vào năm 2001, IASC đã được tái cấu trúc để nâng cao tính độc lập cũng
như hiệu quả hoạt động cho phù hợp với tình hình phát triển của bản than tổ chức và
yêu cầu của nền kinh tế thế giới.
Tổ chức quốc tế được thành lập để thay thế cho IASC (minh họa trong phụ lục 7) là
Hội đồng chuẩn mực Kế toán Quốc tế (International Accounting Standard Board). Một
trong những vấn đề thách thức lớn nhất của IASB là đưa các báo cáo tài chính lập theo
IFRS vào thị trường tài chính Mỹ. Ủy ban chứng khoán Mỹ (SEC) và Hội đồng chuẩn
mực kế toán Mỹ (FASB) là hai đối tác chủ yếu với IASB trên con đường đi tìm một bộ
chuẩn mực kế toán chất lượng cao toàn cầu. Theo đó vào năm 2002, IASB và FASB
đã cùng ký thỏa thuận Norwalk và kết quả quan trọng là trong khoảng thời gian từ

nhưng có tham khảo IFRS có liên quan.
- Đối với các công ty niêm yết, rất nhiều quốc gia đã bắt buộc sử dụng chuẩn
mực kế toán quốc tế để lập và công bố BCTC. Theo điều tra được thực hiện bởi công
ty kiểm toán Deloitte (2010) với 173 quốc gia, kết quả cho thấy 123 quốc gia bắt buộc
và yêu cầu áp dụng IFRS. Trong đó, tất cả các quốc gia thuộc Liên minh châu Âu đều
đã bắt đầu áp dụng quy định này từ năm 2006.
11 - Gần đây, vào tháng 7/2007 Ủy ban Chứng Khoán Hoa Kỳ (SEC) đã cho phép
BCTC của các công ty nước ngoài niêm yết tại thị trường chứng khoán của Hoa Kỳ
lập theo chuẩn mực kế toán quốc tế sẽ được chấp nhận mà không cần điều chỉnh hay
thuyết minh bổ sung.
1.1.3 Đặc điểm cơ bản của Chuẩn mực BCTC quốc tế IFRS
Chuẩn mực lập BCTC quốc tế là điều kiện để đảm bảo các doanh nghiệp và tổ
chức trên toàn thế giới áp dụng các nguyên tắc kế toán một cách thống nhất trong công
tác lập BCTC. Việc áp dụng IFRS nhằm cải thiện chất lượng thông tin kế toán và do
Hội đồng chuẩn mực kế toán quốc tế thuận tiện cho các nghiệp vụ tài chính trên thế
giới.
Hầu hết các nguyên tắc kế toán được chấp nhận phổ biến (GAAP) của các quốc
gia đã bị giảm tầm quan trọng hoặc đang dần dần được thay thế bởi IFRS. Cụ thể,
Canada thông báo GAAP (mà tương tự như GAAP của Mỹ) sẽ thay thế bằng IFRS vào
năm 2011. Ngoại trừ GAAP của Mỹ được coi như là sức ép cạnh tranh trong chuẩn
mực kế toán và trong tương lai cần thiết có sự hợp nhất giữa GAAP của Mỹ và IFRS.
IFRS do Hội đồng chuẩn mực kế toán quốc tế (IASB) và Hội đồng giải thích
lập BCTC quốc tế (IFRIC) biên soạn theo định hướng thị trường vốn và hệ thống lập
BCTC. Phương thức lập BCTC được mô tả là tập trung vào mối quan hệ giữa doanh
nghiệp với nhà đầu tư và tập trung vào luồng thông tin đến thị trường vốn. Cơ quan
nhà nước vẫn sử dụng BCTC như là hoạt động kinh tế, tuy nhiên BCTC này được lập
cho mục đích của nhà đầu tư.

Chuẩn mực lập BCTC quốc tế là điều kiện để đảm bảo các doanh nghiệp và tổ
chức trên toàn thế giới áp dụng các nguyên tắc kế toán một cách thống nhất trong công
tác lập BCTC. Việc áp dụng IFRS nhằm cải thiện chất lượng thông tin kế toán cũng
như những thông tin hữu ích về các doanh nghiệp khác trong cùng nghành.
Giữa những năm 1973 và năm 2000, chuẩn mực quốc tế phát hành. Trong thời
kỳ này các nguyên tắc kế toán được biểu hiện là chuẩn mực kế toán quốc tế. Từ năm
2001, Hội đồng chuẩn mực kế toán quốc tế mô tả các nguyên tắc kế toán với tên gọi
mới là Chuẩn mực lập BCTC quốc tế, mặc dù các chuẩn mực kế toán quốc tế vẫn tiếp
tục được thừa nhận.
13 Năm 2003, Hội đồng Chuẩn mực Kế toán Quốc tế đã ban hành IFRS1 “Lần đầu
áp dụng chuẩn mực lập BCTC quốc tế”. Mục đích của IFRS 1 là thiết lập các quy tắc
để áp dụng cho việc lập BCTC lần đầu ở một công ty sao cho phù hợp với các chuẩn
mực kế toán quốc tế, đặc biệt liên quan đến việc chuyển đổi từ các nguyên tắc kế toán
trước đây được áp dụng bởi các công ty (ví dụ trước đây công ty áp dụng US GAAP).
Trước khi IFRS 1 được ban hành, các công ty áp dụng lần đầu trong hầu hết các
trường hợp đều áp dụng điều chỉnh hồi tố tất cả các yêu cầu của IFRS liên quan đến
việc trình bày BCTC. Nhận thức được rằng điều này thường dẫn đến chi phí vượt quá
những lợi ích của thông tin tài chính được tạo ra, IASB đã sửa đổi phương pháp tiếp
cận bao gồm hạn chế miễn trừ từ nguyên tắc áp dụng hồi tố. Kết quả là, IFRS 1 giúp
giảm bớt gánh nặng cho các công ty chuyển đổi từ GAAP sang IFRS.
Nguyên tắc chung cơ bản theo IFRS 1 là các Công ty lần đầu tiên áp dụng
chuẩn mực lập BCTC quốc tế nên áp dụng các tiêu chuẩn có hiệu lực của IFRS vào
ngày lập báo cáo đầu tiên theo IFRS cho số dư đầu kỳ của bảng cân đối kế toán, số
liệu so sánh và kỳ báo cáo đầu tiên.
Ngày chuyển đổi sang IFRS được định nghĩa là "thời điểm bắt đầu của giai
đoạn tài chính mà một công ty trình bày đầy đủ các thông tin so sánh theo IFRS". Các
công ty được yêu cầu áp dụng các chính sách kế toán nhất quán từ khi bắt đầu áp dụng

không được áp dụng tương tự với các chỉ tiêu khác.
Trường hợp ngoại lệ áp dụng hồi tố đầy đủ (bắt buộc) bao gồm ước tính kế
toán, giảm trừ tài sản tài chính hoặc nợ phải trả tài chính, kế toán phòng ngừa rủi ro
(hedge accounting) và lợi ích cổ đông thiểu số.
Trường hợp ngoại lệ áp dụng hồi tố đầy đủ (tùy chọn) bao gồm: hợp nhất kinh
doanh, thanh toán bằng cổ phiếu, hợp đồng bảo hiểm, lợi ích nhân viên, thuê tài sản,
chênh lệch tỷ giá chuyển đổi, chi phí ấn định (deem cost), đầu tư vào công ty con, các
công ty đồng kiểm soát và liên kết, tài sản và nợ của các công ty con, liên kết và liên
Ngày chuyển
đổi sang IFRS
Báo cáo lập
theo USGAAP
Ngày lập báo
cáo theo IFRS
Áp dụng hồi tố
tại ngày lập báo
cáo đầu tiên
01.01.2008
31.12.2008
31.12.2009
15 doanh, công cụ tài chính, chỉ định các công cụ tài chính được ghi nhận trước đây, ghi
nhận ban đầu của các tài sản tài chính hoặc nợ phải trả tài chính, trách nhiệm khôi
phục bao gồm trong chi phí, tài sản của nhà máy và thiết bị, các tài sản tài chính hoặc
tài sản vô hình được hạch toán theo đúng IFRIC 12, chi phí đi vay và chuyển giao tài
sản từ khách hàng.
1.2.2 Trường hợp ngoại lệ và miễn trừ từ nguyên tắc chung
1.2.2.1 Trường hợp ngoại lệ bắt buộc áp dụng hồi tố

 Giá trị hợp lý của các tài sản tài chính hoặc nợ phải trả tài chính tại thời
điểm ghi nhận ban đầu
 Chi phí nợ bù đắp bao gồm trong chi phí tài sản của nhà cửa, máy móc và
thiết bị
 Các tài sản tài chính hoặc tài sản vô hình theo IFRIC 12
 Chi phí đi vay
 Chuyển tài sản của khách hàng
Bởi vì những miễn trừ này là tùy chọn, cho nên các công ty có thể chọn không
tận dụng lợi thế của họ và thay vào đó là áp dụng các chính sách kế toán theo IFRS
trong các khoản mục được hồi tố, với điều kiện là những ảnh hưởng của áp dụng hồi tố
có thể xác định được một cách chắc chắn. Khi nhiều hơn một miễn trừ tùy chọn ảnh
hưởng đến một số dư tài khoản, thì các miễn trừ nhiều hơn một có thể được áp dụng.
Miễn là mỗi tùy chọn là áp dụng độc lập. Trong việc xác định miễn trừ tùy chọn để áp
dụng, ta cần phải xem xét những lợi thế và nhược điểm của mỗi điều khoản. Không có
yêu cầu sử dụng miễn trừ cụ thể tùy chọn như là một kết quả của việc lựa chọn.Ví dụ,
một công ty có thể không xác định lại hợp nhất kinh doanh trước ngày chuyển đổi, để
các chi phí được coi là tài sản của nhà máy, và thiết bị là số tiền ghi nhận theo GAAP
sau khi hợp nhất kinh doanh.
1.2.3 Trình bày và yêu cầu công bố thông tin
1.2.3.1 Tuân thủ các yêu cầu trình bày và công bố khác
Đầu tiên khi một công ty lập BCTC theo IFRS điều đầu tiên là phải thực hiện
theo các yêu cầu của IAS 1 trình bày và công bố thông tin, và các tiêu chuẩn khác theo
IFRS. IFRS 1 không cung cấp bất kỳ sự trợ giúp từ các phần trình bày và yêu cầu công
bố thông tin của các tiêu chuẩn. BCTC năm đầu tiên theo IFRS của một công ty được
yêu cầu phải bao gồm ba báo cáo tình hình tài chính, hai báo cáo kết quả lãi lỗ, hai báo
cáo lưu chuyển tiền tệ, hai báo cáo thay đổi vốn chủ sở hữu, và các thuyết minh liên
17 quan, bao gồm thông tin so sánh. Công ty được yêu cầu phải ghi rõ giá trị các khoản


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status