XÂY DỰNG HỆ THỐNG BÁO CÁO KẾ TOÁN QUẢN TRỊ CHO CÁC DOANH NGHIỆP THUỘC NGÀNH IN TẠI TP.HCM - Pdf 29

B GIÁO DC VÀ ÀO TO
TRNG I HC KINH T TP.HCM

NGUYN TH NGC IP

LUN VN THC S KINH T


1.2.1 Đối tượng sử dụng báo cáo kế toán quản trò và nhu cầu thông tin của
họ:
- 13 -
1.2.2. Mục đích của báo cáo kế toán quản trò:
- 15 -
1.2.3. Yêu cầu đối với các báo cáo kế toán quản trò:
- 16 -
1.3 VÀI NÉT VỀ NGÀNH IN
- 17 -
1.3.1 Lòch sử hình thành và phát triển ngành in trên thế giới
- 17 -
1.3.1.1 Giai đoạn trước 1440
- 18 -
- 2 -

1.3.1.2 Giai đoạn 1440-1850 19 -
1.3.1.3 Giai đoạn 1850-1900
- 19 -
1.3.2 Lòch sử phát triển ngành in Việt Nam
- 20 -
1.3.3 Qui trình công nghệ ngành in
- 26 -
1.3.3.1 Công đoạn 1: Sắp chữ và chế bản
- 26 -
1.3.3.2 Công đoạn 2: in
- 26 -
1.3.3.3 Công đoạn 3: bế, xén và đóng thành phẩm
- 27 -
CHƯƠNG 2 THỰC TRẠNG HỆ THỐNG BÁO CÁO KẾ TOÁN QUẢN TRỊ
CỦA CÁC DOANH NGHIỆP THUỘC NGÀNH IN TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ

nghiệp ngành in tại Thành phố Hồ Chí Minh
- 60 -
2.2.3 Đánh giá chung về thực trạng hệ thống báo cáo kế toán quản trò trong
các doanh nghiệp thuộc ngành in tại TPHCM
- 67 -
CHƯƠNG 3: PHƯƠNG HƯỚNG XÂY DỰNG HỆ THỐNG BÁO CÁO KẾ
TOÁN QUẢN TRỊ CHO CÁC DOANH NGHIỆP THUỘC NGÀNH IN TẠI
THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH.
- 73 -
3.1 PHƯƠNG HƯỚNG
- 73 -
3.1.1 Các báo cáo phục vụ cho chức năng lập kế hoạch in
- 74 -
3.1.1.1 Dự toán số lượng trang in (13 x 19 cm) tiêu thụ
- 74 -
3.1.1.2 Dự toán chi phí trực tiếp
- 74 -
3.1.1.3 Dự toán chi phí gián tiếp
- 74 -
3.1.2 Các báo cáo phục vụ cho việc kiểm soát, đánh giá kết quả của nhà
quản trò ngành in
- 75 -
3.1.2.1 Báo cáo chi phí sản xuất theo yếu tố
- 75 -
3.1.2.2 Báo cáo tình hình thực hiện đònh mức chi phí nguyên vật liệu trực
tiếp và chi phí nhân công trực tiếp
- 75 -
3.1.2.3 Báo cáo tình hình thực hiện đònh mức biến phí sản xuất chung:
- 76 -
3.1.2.4 Báo cáo tình hình thực hiện đònh mức đònh phí sản xuất chung:

3.2.3.2 Các bảng tính toán, phân tích và xếp hạng dự án đầu tư
- 90 -
Kết luận
Danh mục tài liệu tham khảo
Phụ lục - 5 -

LỜI MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài:
Ngành in thuộc hệ thống các ngành sản xuất vật chất trong nền kinh tế
quốc dân, đóng vai trò quan trọng trong quá trình đào tạo ra các ấn phẩm phục
vụ cho nhu cầu thông tin kinh tế, văn hoá, xã hội trong đời sống kinh tế hiện
nay. Sản phẩm của ngành in rất đa dạng và phong phú, bao gồm các loại ấn
phẩm báo chí, tranh ảnh, bao bì, nhãn mác hàng hóa, thiệp mừng,… được in trên
giấy hoặc các chất liệu khác nhau. Cùng với sự gia tăng của nhu cầu xã hội đối
với chất lượng in ấn, công tác in ấn đòi hỏi phải có quy trình công nghệ hiện đại,
trang thiết bò nhiều máy móc kỹ thuật và phương tiện phục vụ sản xuất.
Đóng vai trò đầu tàu của toàn ngành, ngành in của Thành phố Hồ Chí
Minh đã có những bước phát triển đáng kể, luôn dẫn đầu trong việc trang bò máy
móc thiết bò hiện đại, công nghệ mới, chiếm gần ½ sản lượng của toàn ngành
Theo số liệu đăng ký chính thức tại Sở Văn hóa Thông tin TPHCM, chỉ riêng
máy in offset được cấp giấy chứng nhận và biển số kiểm soát cho đến nay đã là
957 máy. Năng lực thiết kế của ngành in thành phố ước khoảng 271 tỉ trang in 13
x 19 cm và năng lực thực tế khoảng 135 tỉ trang in. Hoạt động của ngành in
TPHCM góp phần không nhỏ cho sự nghiệp đổi mới, phát triển văn hoá xã hội

Muốn vậy, ngoài việc tuân thủ các nguyên tắc cơ bản trong việc thiết lập
các báo cáo tài chính cho các đối tượng sử dụng bên ngoài, người quản trò cần
phải hiểu biết, nắm bắt được công tác tổ chức, phối hợp, tiên liệu, ra quyết đònh
và kiểm soát mọi thứ trong doanh nghiệp hầu chỉ đạo và hướng dẫn doanh
nghiệp hoạt động có hiệu quả cao nhất. Để thực hiện được điều này, cần phải
nắm vững tình hình tài chính của mình, thông qua số liệu kế toán tài chính, phân
tích, đánh giá và đề ra những dự án cho tương lai. Tóm lại, ở mọi lónh vực trong
hệ thống kinh tế, các thông tin có liên quan đến quyết đònh cần phải được lựa
chọn, phân tích, ghi chép và sử dụng trước khi sự xét đoán được hình thành và
quyết đoán được đưa ra. Kế toán quản trò là nguồn cung cấp tốt nhất những
thông tin cần thiết này.
Trong xu thế toàn cầu hóa về kinh tế đang diễn ra mạnh mẽ trong khu vực
và trên toàn thế giới hiện nay, yếu tố quyết đònh sự thành công hay thất bại của
một quốc gia là hiệu quả và khả năng cạnh tranh của nền kinh tế, khả năng tạo
dựng và củng cố vò trí kinh tế của mình trên trường quốc tế. Nhận thức được tầm
quan trọng trên, Đảng và Nhà nước ta đã và đang dốc hết mọi nỗ lực để vực dậy
nền kinh tế nước nhà. Chúng ta đã tham gia vào tổ chức khối mậu dòch tự do
ASEAN (AFTA), đã trở thành thành viên chính thức của tổ chức Diễn đàn hợp
tác kinh tế Châu Á- Thái Bình Dương (APEC). Mặc dù Chính phủ cũng đang
từng bước cố gắng thực hiện các chính sách cải cách về kinh tế, tháo gỡ những
khó khăn vướng mắc có liên quan đến sự phát triển của doanh nghiệp nhưng vấn
đề quan trọng là các doanh nghiệp phải tự nhận thức được mình trên thương
trường. Sự cạnh tranh tất yếu của sản phẩm bán ra, việc kiểm tra trên quy mô
riêng: giờ công lao động, chi phí một sản phẩm, mức lợi nhuận thu được trên một
sản phẩm tiêu thụ, chất lượng sản phẩm bán ra,…đã là một yếu tố cần thiết ngày
càng lớn đối với kế toán quản trò doanh nghiệp. Như vậy, với chức năng cung
cấp thông tin và kiểm tra kiểm soát các hoạt động kinh tế tài chính xí nghiệp, kế
- 7 -

toán quản trò đã và đang là công cụ thực sự quan trọng, một cần thiết khách quan

ngành in nói chung và tại Thành phố Hồ Chí Minh nói riêng.
6. Kết cấu của luận văn:
Luân văn bao gồm

- 8 -

Lời mở đầu

Chương 1: Tổng quan về kế toán quản trò, báo cáo kế toán quản trò và ngành in

chương 2: Thực trạng hệ thống báo cáo kế toán quản trò cho các doanh nghiệp
ngành in tại Thành phố Hồ Chí Minh

chương 3: Phương hướng xây dựng hệ thống báo cáo kế toán quản trò cho các
doanh nghiệp thuộc ngành in tại Thành phố Hồ Chí Minh
Kết luận

Phụ lục - 9 -

tổ chức’. [53,3]
Theo các Giáo sư Tiến só SACK L.SMITH, ROBET M.KEITS, WILLIAM
L.STEPHENS trường Đại học SOUTH FLORIDA HOA KỲ: Kế toán quản trò là
một hệ thống kế toán cung cấp cho các nhà quản trò những thông tin đònh lượng
mà họ cần để hoạch đònh và kiểm soát”. [18,11]
Hiện nay giữa các nước, hai lónh vực Kế toán tài chính và Kế toán quản
trò có những cách gọi khác nhau, phổ biến theo cách gọi của tiếng Anh. Kế toán
tài chính “Financial Accounting” và Kế toán quản trò “Management
Accounting”. Trong khi đó nhiều nước Châu âu như Pháp, Bồ Đào Nha thì kế
toán tài chính gọi là Kế toán tổng quát “Compatabilité General” và Kế toán
quản trò là Kế toán phân tích “Comptabilité Analitique”, hoặc kế toán quản lý
“Comptabilité des Gestion”. Qua đây để khẳng đònh kế toán tài chính không
phải là kế toán tổng hợp và Kế toán quản trò không phải là kế toán chi tiết như
nhiều người đã quan niệm.
Như vậy, có nhiều quan điểm và khái niệm khác nhau về kế toán quản trò,
nhưng đứng trên góc độ tiếp cận về sử dụng thông tin của kế toán cho hoạt động
quản trò, thì đònh nghóa về kế toán quản trò có thể được thể hiện như sau:
“Kế toán quản trò là hệ thống ghi chép, đo lường, thu thập, tổng hợp, xử lý
và cung cấp thông tin kinh tế phục vụ cho các cấp độ quản trò trong một doanh
nghiệp để đánh giá và ra quyết đònh kinh doanh”.
- 11 -

Kế toán quản trò cũng như kế toán tài chính trước hết phải nhận diện được
các loại tài sản tham gia hoạt động kinh doanh và xác đònh nguồn tài trợ để
trang bò các loại tài sản đó, đồng thời nhận diện được các loại chi phí tham gia
vào quá trình hoạt động sản xuất kinh doanh để thu thập, phân loại, xử lý và lập
các báo cáo cho những đối tượng sử dụng khác nhau. Khác với kế toán tài chính,
kế toán quản trò cung cấp thông tin nhằm thỏa mãn nhu cầu của nhà quản trò các
cấp ở doanh nghiệp, họ là những người mà quyết đònh hành động của họ sẽ chi
phối trực tiếp đến sự thành công hay thất bại của doanh nghiệp đó. Như vậy, nếu

đó thì họ phải dựa trên các thông tin kế toán để đảm bảo giá bán đó là phù hợp,
hoặc bộ phận quản lý phải dựa trên các thông tin kế toán để đánh giá giá trò của
hàng tồn kho, hàng đang kinh doanh…Như vậy, công việc của kế toán và quản lý
gắn với nhau chặt chẽ trong việc điều hành các hoạt động hàng ngày.
- Cung cấp thông tin cho quá trình kiểm soát: Việc lập kế hoạch như trên là
chưa đủ, một khi kế hoạch ngân sách đã được lập, người quản lý cần những
thông tin có liên quan đến việc thực hiện. Kế toán quản trò giúp cho việc tập hợp
các thông tin cần thiết bằng cách cung cấp các báo cáo thực hiện. Báo cáo thực
hiện bao gồm các chi tiết để quản lý, so sánh các số liệu dự toán với các số liệu
thực tế trong một thời điểm nhất đònh. Khi báo cáo thực hiện chỉ ra một vấn đề
tồn tại ở một khâu nào đó của doanh nghiệp, người quản lý sẽ phải tìm nguyên
nhân của vấn đề và biện pháp giải quyết. Nếu báo cáo thực hiện chỉ rõ mọi việc
đều thực hiện tốt thì người quản lý sẽ để tâm vào công việc khác. Tóm lại, kiểm
- 13 -

tra việc thực hiện kế hoạch là bước phản hồi của người quản lý và nó có tác
dụng giúp người quản lý thực hiện tốt vai trò quản lý của mình.
- Cung cấp thông tin cho quá trình ra quyết đònh: Chức năng ra quyết đònh
đòi hỏi nhà quản trò phải có sư lựa chọn hợp lý trong nhiều phương án khác nhau
được đưa ra. Kế toán có nhiệm vụ thu thập các số liệu về chi phí và lợi nhuận để
thông tin cho người quản lý. Ví dụ, để tung sản phẩm ra nhằm cạnh tranh với các
doanh nghiệp khác trên thò trường cần quyết đònh phương án hạ giá, mở rộng
việc quảng cáo hoặc kết hợp cả hai việc này để chiếm lónh thò trường, doanh
nghiệp phải gắn chặt với các số liệu về giá thành và lợi nhuận do kế toán cung
cấp. Tuy nhiên, không phải lúc nào các số liệu cần thiết cũng có ngay theo yêu
cầu thực tế, do vậy kế toán sẽ thực hiện phân tích chung kể cả việc dự toán để
có được những số liệu đó.
Như vậy để có những quyết đònh đúng đắn cần phải có đầy đủ các thông
tin cần và chính xác. Nếu các thông tin không đầy đủ, không chính xác thì dẫn
đến quyết đònh sẽ bò sai lệch. Mặt khác, nhu cầu chính của quản trò không phải

(1) Các công ty sản xuất và dòch vụ cần thông tin về giá thành sản phẩm
(dòch vụ);
(2) Tất cả các tổ chức đều cần dữ liệu để hoạch đònh và kiểm soát hoạt
động; và
(3) Các nhà quản lý cần các báo cáo và những phân tích đặc biệt để
chứng minh các quyết đònh của họ.” [47,p.919]
- 15 -

Tóm lại, để phục vụ cho nhu cầu ra quyết đònh quản lý có hiệu quả, các
nhà quản lý cần những thông tin sau từ kế toán quản trò:
- Đối với tất cả các doanh nghiệp, các nhà quản lý cần ba loại thông tin từ
kế toán quản trò:
1) Thông tin phục vụ cho việc xây dựng kế hoạch để đạt được mục tiêu
hoạt động của doanh nghiệp.
2) Thông tin phục vụ cho việc điều hành và kiểm soát các hoạt động
thường xuyên của doanh nghiệp để chỉ đạo hoạt động nhằm thực hiện
kế hoạch đã đề ra để đạt được các mục tiêu hoạt động của doanh
nghiệp.
3) Thông tin phục vụ cho việc chứng minh các quyết đònh đặc biệt trong
quá trình hoạt động.
- Đối với các doanh nghiệp sản xuất và dòch vụ, các nhà quản lý còn cần
loại thông tin thứ tư từ kế toán quản trò: Thông tin về giá thành sản phẩm, dòch
vụ.
1.2.2. Mục đích của báo cáo kế toán quản trò:
Mục đích của báo cáo kế toán quản trò chi phối việc soạn thảo và trình
bày báo cáo kế toán quản trò. Mục đích của báo cáo kế toán quản trò đến lượt nó
lại chòu sự chi phối bởi các đối tượng sử dụng và nhu cầu thông tin của họ.
Ở Việt Nam, mục đích báo cáo tài chính được xác đònh tại Quyết đònh số
1141TC/QĐ/CĐKT ngày 01-11-1995 của Bộ trưởng Bộ tài chính về việc ban
hành Chế độ kế toán doanh nghiệp như sau:

cầu thông tin trong nội bộ doanh nghiệp, cho rằng:
“Thông tin nội bộ có tính chất tùy ý, và những người thiết lập hệ thống
thông tin kế toán nên cân nhắc:
a. Thông tin nào nên được tạo ra để sử dụng.
b. Thông tin được tạo ra cho ai sử dụng.
c. Thông tin được báo cáo thường xuyên ra sao.
d. Giá trò của thông tin có lớn hơn chi phí của việc cung cấp thông tin
không.” [49]
Các tác giả Keith Ward, Sri Srikanthan và Richard Neal cũng cho rằng:
“Mặc dầu hơi cũ, khái niệm “đúng thông tin cho đúng người quản lý vào đúng
thời điểm” là khái niệm quyết đònh khi thiết kế hệ thống kế toán quản trò”
[52,p.12]
Tóm lại, yêu cầu đối với báo cáo quản trò là: phải cung cấp thông tin thích
hợp cho những người sử dụng thích hợp vào những thời điểm thích hợp với chi
phí xử lý thông tin thích hợp.
Hệ thống báo cáo kế toán quản trò là kết quả xử lý thông tin của hệ thống
kế toán nhằm cung cấp những thông tin tài chính có ích cho những người sử dụng
để đề ra các quyết đònh kinh tế.
1.3 VÀI NÉT VỀ NGÀNH IN
1.3.1 Lòch sử hình thành và phát triển ngành in trên thế giới
Ngành in là một ngành công nghiệp trong hệ thống của nền kinh tế thứ
VIII trước công nguyên ở Trung Quốc, sau đó du nhập vào châu âu vào thế kỷ
thứ V, ông tổ của ngành in là J.G.Guttenberg (1397 - 1468) người Đức và phát
- 18 -

triển ngày càng tinh vi: từ chỗ in bằng bản khắc trên gỗ, trên kim loại, đến in
bằng bản kim loại có phủ màng hóa chất (bản kẽm), và ngày nay in trực tiếp
bằng tia mực theo sự điều khiển của máy tính điện tử.
Công nghiệp in ở nước Đức, Nhật, Mỹ, phát triển rất mạnh. các máy in
được sử dụng trên khắp thế giới đều chủ yếu được sản xuất từ ba nước này. các

mặt in sau và in từng tờ một. Khi in dùng sức người để ấn cần trục, năng suất chỉ
đạt khoảng 300 tờ/ngày với khổ giấy nhỏ 57x47cm, 56x76cm. Kỹ thuật in ấn này
kéo dài khoảng 400 năm. Tất cả các máy in trong thời gian này đều được vận
chuyển bằng sức người. Những máy in này còn có những khuyết điểm như dễ
mòn, hỏng khi sử dụng nhiều.
Vào năm 1780, máy in được cải tiến, bản chữ xê dòch được nên năng suất
tăng lên 600 tờ/ ngày. Năm 1795, máy in bằng gỗ được thay thế bằng kim loại
và năng suất tăng lên 3000 tờ/ngày.
Năm 1814, F.Kô-ê-vich chế tạo ra loại máy in chạy bằng hơi nước cho tờ
Thời báo (Times) tốc độ đạ được 4.000 tờ/ngày.
1.3.1.3 Giai đoạn 1850-1900
Trong suốt thời gian dài gần 50 năm sau cuộc cách mạng khoa học kỹ
thuật lần thứ nhất, người ta đã dùng hơi nước để làm năng lượng vận chuyển
máy in. Trước khi in hình phải cần một thợ chuyên môn khắc vào bản và kỹ
thuật sắp chữ đạt 225 chữ/giờ. Tình trạng này gây trở ngại rất nhiều cho ngành
in. Do đó, các phát minh về ngành in luôn được cải thiện theo thời gian.
- 20 -

Năm 1890, một người Đức di cư sang Mỹ là Ri-Sớt-Mác-Sơ-Hâu sáng chế
máy sắp chữ Linotype tốc độ 5000-7000 chữ/giờ.
Năm 1900, máy in vận chuyển bằng điện tốc độ lên đến 85.000 giờ/ngày,
so với máy in bằng tay 300tờ/ngày, máy in kim khí 3000tờ/ngày, máy in vận
chuyển bằng hơi nước 4.000 tờ/ngày.
Năm 1940, máy in hình màu ra đời.
Năm 1973, kỹ thuật in ấn đã rất phát triển . Cùng với sự ra đời của máy vi
tính đầu tiên trên thế giới (1973), tiếp theo là sự xuất hiện của máy sắp chữ
lazer năm 1978, công nghệ in điện tử đã thật sự là một cuộc cách mạng to lớn,
bước ngoặc vó đại của ngành in.
1.3.2 Lòch sử phát triển ngành in Việt Nam
Có thể nói ngành in tại Việt Nam bắt nguồn từ khi ông Trương Vónh Ký

loại đa dạng và hầu như không thiếu bất kỳ một kỹ thuật in ấn nào ở thành phố
này. Phức tạp do có rất nhiều nhà in hoạt động trên thò trường, thuộc các ban
ngành Trung ương, đòa phương với nhiều "dạng" kinh doanh biến tướng như: thuê
máy, đặt máy, khoán máy, nhiều vụ vi phạm luật xuất bản xảy ra và công
việc quản lý nhà nước đối với ngành in rất vất vả.
Ngành in có những bước phát triển khá cao, song bên cạnh đó đã bộc lộ
những thiếu xót, hạn chế mà một trong những ngành in cần phải kể đến là chưa
- 22 -

có được những ngành cần phải kể đến là chưa có được những chiến lược phát
triển một cách căn cơ và phù hợp với tình hình đổi mới và mở cửa nền kinh tế,
cũng như tình hình hội nhập với các nước trong khu vực và trên thế giới.
Ngành in được xếp vào ngành đặc doanh, nằm trong các thiết chế văn hóa
– thông tin do sản phẩm của ngành in có một số ấn phẩm quan trọng như sách,
báo,… trực tiếp phục vụ cho việc phổ biến, tuyên truyền đường lối chính sách,
pháp luật của Đảng và Nhà nước, ngoài ra chúng còn có nhiệm vụ nâng cao văn
hóa, dân trí cho nhân dân. Tuy vậy, ngành in có những đặc điểm riêng, khác biệt
so với một số bộ phận trong hệ thống các thiết chế văn hóa thông tin.
- Thứ nhất, ngành in là một ngành công nghiệp có quy trình sản xuất
riêng biệt, hình thức tổ chức như những ngành sản xuất khác. Ngoại trừ các
doanh nghiệp ngành in hành chính sự nghiệp, còn lại các doanh nghiệp in đều
hoạt động theo phương thức hạch toán kinh tế, đảm bảo có lãi.
- Thứ hai, ngành in hoạt động theo luật xuất bản, sản phẩm của
ngành in đa phần được sản xuất theo đơn đặt hàng của các ngành khác như xuất
bản, báo chí, ngành may mặc, ngành bánh kẹo, ngành thực phẩm khác…điều này
nói lên sự phát triển của các ngành khác sẽ thúc đẩy ngành in phát triển và
ngược lại, sự phát triển về dân số, về giáo dục, dân trí….cũng thúc đẩy ngành in
phát triển.
Quan điểm của Đảng và Nhà nùc về ngành xuất bản, in và phát hành
thể hiện ở 4 điểm cốt lõi sau:

phải đổi mới tổ chức ngành xuất bản, in và phát hành đào tạo đội ngũ cán bộ,
- 24 -

công nhân kỹ thuât, hiện đại hóa công nghiêp cho ngang tầm yêu cầu của đất
nước và theo kòp trình độ phát triển của thế giới.
Luật xuất bản (Ban hành ngày 19 – 07 - 1993 ) và các văn bản dưới luật
(Nghò đònh số 79/CP ngày 06/11/1993 của chính phủ quy đònh chi tiết thi hành
Luật xuất bản; Thông tư số 38/TT – XB ngày 07/05/1994 của Bộ VHTT hướng
dẫn thực hiện Nghò đònh 79/CP ) là cơ sở pháp lý hiện hành cho hoạt động xuất
bản Việt Nam. Riêng ngành in còn có thêm “ Quy chế về tổ chức và hoạt động
in “ của Bộ VHTT ban hành ngày 26/08/1977.
Chủ trương xã hội hóa hoạt động văn hóa theo tinh thần Nghò quyết 90/CP
ngày 21/8/1997 và Nghò đònh 73/CP của chính phủ đã mở rộng phạm vi hoạt
động của các cơ sở in tư nhân, tập thể: họ được phép đầu tư vào hoạt động chế
bản điện tử, in bao bì, nhãn hàng, các công đọan sau in và phục vụ in (đóng xén,
dạy nghề in….). Mục đích của chủ trương xã hội hóa họat động văn hóa là để
khai thác nguồn vốn đầu tư của toàn xã hội vào các loại hoạt động văn hóa và
dòch vụ văn hóa, huy động tiềm năng về nhân tài, vật lực trong xã hội để nâng
cao mức hưởng thụ văn hóa của các tầng lớp nhân dân.
Sự tiến bộ của khoa học kỹ thuật và công nghệ trong hơn hai thập kỹ qua
đã tác động mạnh mẽ đến các ngành trong nền kinh tế. Trong ngành in người ta
đã chứng kiến những bước tiến không ngờ. Hiện nay việc sử dụng các thiết bò
chế bản điện tử, máy in 4 màu tờ rời và in cuộn, dây chuyền đóng sách liên hợp
đã trở nên phổ biến. Các nhà in ở Đức, Mỹ, Nhật, bắt đầu vi tính hóa thiết bò in
và gọi là công nghệ CTP (computer to plate, Computer to print), nghó a là gắn
liền máy vi tính với thiết bò phơi bản kẽm và máy vi tính với máy in. Công nghệ
hiện đại này cho phép bỏ qua một số bước công nghệ truyền thống, nhờ vậy rút

Trích đoạn Báo cáo tình hình thực hiện định mức biến phí sản xuất chung: 76- Báo cáo bộ phận: 7 7- Báo cáo trung tâm trách nhiệm 7 8- Các báo cáo về chi phí và phân tích tình hình thực hiện dự tốn ch
Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status