PHÂN TÍCH TÁC ĐỘNG ĐẦU TƯ TRỰC TIẾP NƯỚC NGOÀI ĐẾN NĂNG SUẤT LAO ĐỘNG NGÀNH DỆT MAY Ở VIỆT NAM - Pdf 29




PHÂN TÍCH TÁC ĐỘNG ĐẦU TƯ
TRỰC TIẾP NƯỚC NGOÀI ĐẾN NĂNG SUẤT
LAO ĐỘNG NGÀNH DỆT MAY Ở VIỆT NAM
TP. HỒ CHÍ MINH – NĂM 2013

1
Mục lục
CHƯƠNG I: GIỚI THIỆU 3

4.1.1. Thống kê mô tả dữ liệu nghiên cứu 25
4.1.2. Thống kê mô tả các biến 26
4.1.3. Ma trận tương quan 29
4.2. Mô hình ước lượng và kết quả nghiên cứu 30
4.2.1. Kết quả phân tích hồi quy 30
4.2.2. Diễn giải ý nghĩa các hệ số hồi quy 37
4.2.3. Thảo luận kết quả nghiên cứu 40
CHƯƠNG V: KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 44
5.1. Kết luận 44
5.2. Kiến nghị 45
5.3. Giới hạn của nghiên cứu 46
TÀI LIỆU THAM KHẢO 47
PHỤ LỤC 50 i

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan luận văn này là công trình nghiên cứu do cá nhân tôi thực hiện.
Các số liệu, kết quả nêu trong luận văn là trung thực. Các tài liệu tham khảo được
trích dẫn nguồn rõ ràng.
Tác giả Trần Cẩm Linh


Chí Minh đã trang bị và bổ sung những kiến thức hữu ích cho tôi trong suốt quá
trình học tập tại trường và trong thời gian thực hiện nghiên cứu này.
Cuối cùng, tôi gửi lời cảm ơn đến các bạn học viên cao học Khoa Kinh tế khóa 21
và đồng nghiệp đã tận tình giúp đỡ, chia sẻ, hỗ trợ và động viên tôi trong suốt khóa
học.
Trần Cẩm Linh

iii

TÓM TẮT

Nghiên cứu này phân tích tác động của FDI đến năng suất lao động doanh nghiệp
hoạt động sản xuất trong ngành dệt may ở Việt Nam, sử dụng bộ dữ liệu điều tra
doanh nghiệp Việt Nam năm 2010 của Tổng Cục thống kê. Dữ liệu nghiên cứu bao
gồm 1.237 doanh nghiệp hoạt động trong ngành dệt may với các hình thức sở hữu
doanh nghiệp khác nhau. Trong đó, doanh nghiệp FDI chiếm 27,7% tổng số doanh
nghiệp, doanh nghiệp quốc doanh chiếm 3,7% và doanh nghiệp ngoài quốc doanh
chiếm 68,6%. Nghiên cứu áp dụng hàm Cobb – Douglas và hàm Translog để phân
tích tác động của FDI lên năng suất lao động doanh nghiệp hoạt động sản xuất trong
ngành dệt may. Trong đó, biến năng suất lao động được giải thích bởi các biến như:
vốn đầu tư cố định trên mỗi lao động, chi phí của doanh nghiệp trên mỗi lao động,
lao động bình quân trong doanh nghiệp, số năm hoạt động của doanh nghiệp, vị trí
của doanh nghiệp và hình thức sở hữu doanh nghiệp. Hàm sản xuất ước lượng được
đảm bảo đầy đủ các thuộc tính của hàm sản xuất. Kết quả nghiên cứu khẳng định
rằng có sự tác động của FDI lên năng suất lao động doanh nghiệp hoạt động trong
ngành dệt may và tác động này là tiêu cực. Bên cạnh đó, nghiên cứu cũng khẳng
định chưa có bằng chứng về sự tác động của FDI lên năng suất lao động doanh
nghiệp dệt may hoạt động ở các vùng khác nhau trong cả nước.
Từ khóa: năng suất lao động, FDI, doanh nghiệp dệt may


Bảng 4.13: Kiểm định hiện tượng đa cộng tuyến 36
vi

DANH MỤC CÁC HÌNH

Trang
Hình 2.1: Khung phân tích sự tác động của FDI lên năng suất lao động 18
Hình 4.1: Phân phối của các biến giải thích dưới dạng histogram 27
Hình 4.2. Sự thay đổi của năng suất lao động theo sự biến đổi của vốn đầu tư cố
định trên mỗi lao động 42
Hình 4.2a: Mô hình ước lượng dạng hàm Cobb – Douglas 42
Hình 4.2b: Mô hình ước lượng dạng hàm Translog 42 3
CHƯƠNG I: GIỚI THIỆU
1.1. Đặt vấn đề
Tháng 12 năm 1987, Luật đầu tư nước ngoài lần đầu tiên ra đời đã khơi
thông dòng chảy nguồn vốn FDI vào Việt Nam, đây là đòn bẩy quan trọng giúp nền
kinh tế tăng trưởng nhanh trong 2 thập kỷ tiếp theo. Vốn FDI được phát hiện là có
tác động tích cực đến tăng trưởng kinh tế Việt Nam giai đoạn 1988 – 2003 (Nguyễn
Thị Tuệ Anh và cộng sự, 2006). Trong lĩnh vực việc làm, khu vực FDI tạo ra trên 2
triệu lao động trực tiếp và khoảng 3-4 triệu lao động gián tiếp (Đào Quang Thu,
2013). Thu nhập bình quân theo tháng của người lao động ở khu vực FDI cao hơn
khu vực doanh nghiệp tư nhân trong nước nhưng thấp hơn khu vực doanh nghiệp
nhà nước (Đào Quang Thu, 2013). Bên cạnh sự tác động của khu vực FDI đến tăng
trưởng kinh tế, tạo ra việc làm và thu nhập của người lao động đã nêu ở trên thì vấn

năng suất lao động ngành dệt may ở các vùng khác nhau hay không? Có phải chăng,
sự tác động của khu vực FDI lên năng suất lao động ngành dệt may có sự khác biệt
giữa các vùng khác nhau. Nghiên cứu sẽ phân tích và làm rõ sự tác động này.
1.2. Mục tiêu nghiên cứu
Mục tiêu của nghiên cứu này nhằm phân tích sự tác động của FDI đến năng
suất lao động ngành dệt may ở Việt Nam và kiểm chứng xem có sự tác động của
FDI đến năng suất lao động ngành dệt may ở các vùng khác nhau trong cả nước hay
không.
1.3. Câu hỏi nghiên cứu
- FDI có hay không có tác động đến năng suất lao động ngành dệt may ở
Việt Nam? Nếu có thì tác động đó là tích cực hay tiêu cực?
- FDI tác động như thế nào đến năng suất lao động ngành dệt may ở các
vùng khác nhau trong cả nước?
1.4. Phương pháp nghiên cứu
Nghiên cứu này sử dụng các phương pháp sau nhằm phân tích sự tác động
của FDI lên năng suất lao động ngành dệt may:
- Phương pháp thống kê mô tả
- Phương pháp phân tích hồi quy OLS
- Thực hiện các kiểm định cần thiết nhằm giảm thiểu hiện tượng ước lượng
chệch.

5
1.5. Phạm vi nghiên cứu
- Về đối tượng nghiên cứu: nghiên cứu chọn các doanh nghiệp hoạt động
trong ngành dệt may làm đối tượng nghiên cứu.
- Về nội dung nghiên cứu: nghiên cứu này phân tích sự tác động của FDI lên
năng suất lao động doanh nghiệp hoạt động sản xuất trong ngành dệt may.

kinh tế. Có giả thuyết cho rằng Philip (1894) là nhà kinh tế học đầu tiên xây dựng
phép toán đại số thể hiện mối quan hệ giữa đầu ra và đầu vào dưới dạng P = f (x
1
,
x
2
, , x
m
), tuy nhiên cũng có giả thuyết cho rằng Johann Von Thünen là người đầu
tiên xây dựng nó trong những năm 1840 (Humphrey, 1997).
Từ những năm đầu của thập niên 1950 đến những năm cuối của thập niên
1970, hàm sản xuất đã thu hút sự chú ý của nhiều nhà kinh tế. Trong một khoảng
thời gian ngắn, các hình thức toán học của hàm sản xuất thể hiện mối quan hệ giữa
đầu vào và đầu ra được đề xuất. Đặc biệt sau khi nghiên cứu và phân tích kỹ về hàm
sản xuất đã phát sinh nhiều kết luận khác nhau (Sudhanshu, 2007).
Hàm sản xuất là một dạng hàm thể hiện mối quan hệ giữa một lượng đầu vào
và lượng sản phẩm đầu ra. Hàm sản xuất nói chung có dạng:
Y = f(x) (2.1)
Trong đó:
Y: là lượng sản phẩm đầu ra
x: là các yếu tố đầu vào
Các đặc điểm của hàm sản xuất:
- f(0) = 0: khi các đầu vào bằng 0 thì sản lượng cũng bằng 0.
- y và x đồng biến với nhau: khi gia tăng các lượng đầu vào thì sản lượng đầu
ra cũng tăng.
- Nếu x không âm và hữu hạn, thì f(x): i) hữu hạn; ii) liên tục; iii) không âm;
iv) chỉ có một giá trị ứng với một giá trị của x.
7
mặt, để sản xuất ra cùng một mức sản lượng Y, có thể lựa chọn một sự đánh đổi nào
đó giữa K và L. Có thể tăng K và giảm L hoặc ngược lại, theo nhiều phương án
khác nhau mà vẫn tạo ra cùng một mức sản lượng Y. Mặt khác, khi cả K và L đều
tăng, đương nhiên, sản lượng đầu ra Y được sản xuất ra cũng tăng. Có ba khả năng
xảy ra:
8
- Thứ nhất, khi quy mô tất cả các yếu tố đầu vào của sản xuất đều tăng lên n
lần, song sản lượng đầu ra lại tăng nhiều hơn n lần, tức f (nK,nL) > n.f (K,L), ta nói,
doanh nghiệp đang hoạt động ở miền hiệu suất tăng dần theo quy mô. Ở đây, quy
mô sản xuất của doanh nghiệp lớn hơn cho phép nó có thể khai thác được những lợi
thế của việc chuyên môn hóa sản xuất hoặc sử dụng được các máy móc, thiết bị tinh
vi hơn, có hiệu suất cao hơn. Nếu việc mở rộng quy mô không làm thay đổi nhiều
giá cả các yếu tố sản xuất, điều đó cũng làm cho chi phí bình quân dài hạn của
doanh nghiệp giảm xuống.
- Thứ hai, khi số lượng tất cả các yếu tố đầu vào được sử dụng đều tăng lên
một cách cân đối n lần kéo theo sản lượng đầu ra Y cũng tăng lên đúng n lần, tức
f(nK,nL) = n.f(K,L), ta nói, doanh nghiệp đang hoạt động trên miền hiệu suất không
đổi theo quy mô. Trong trường hợp này, nếu giá cả các yếu tố sản xuất vẫn giữ
nguyên, việc mở rộng quy mô không làm thay đổi chi phí bình quân dài hạn của
doanh nghiệp.
- Thứ ba, khi lượng tất cả các yếu tố đầu vào được sử dụng đều tăng lên n lần
song sản lượng đầu ra Q lại tăng thấp hơn n lần, tức f(nK,nL) < n.f(K,L), ta nói,
doanh nghiệp đang hoạt động ở miền hiệu suất giảm dần theo quy mô. Nếu giá cả
các yếu tố sản xuất vẫn không thay đổi, trong trường hợp này, càng tăng quy mô sản
xuất, chi phí bình quân dài hạn của doanh nghiệp cũng càng tăng. Quá một ngưỡng
nào đó, quy mô lớn lại trở thành một bất lợi đối với doanh nghiệp.
2.1.2. Một số dạng hàm sản xuất tiêu biểu

α, β là độ co giãn của sản lượng theo lao động và vốn (0 < α < 1; 0 < β < 1)
Lịch sử phát triển của hàm sản xuất Cobb – Douglas khá thú vị, nó được phát
triển không phải dựa trên cơ sở về kỹ thuật, công nghệ và trình độ quản lý trong quá
trình sản xuất mà dựa trên cơ sở toán học, phù hợp với quy luật sản lượng biên có
xu hướng giảm dần, đó là sản lượng biên của một yếu tố sản xuất giảm dần khi tiếp
tục sử dụng thêm một trong hai yếu tố sản xuất trong điều kiện yếu tố sản xuất còn
lại được giữ nguyên.
Trong hàm sản xuất Cobb – Douglas, nếu lao động L cố định, sản lượng biên
của vốn tại một điểm nào đó (ở một mức K nào đó) là lượng đầu ra tăng thêm khi
tăng thêm một đơn vị vốn. Sản lượng biên của vốn là:
10




K
Y
MPK α.A.K
α-1
.L
β
> 0 (2.4)
Sản lượng biên của vốn thay đổi theo K được tính theo công thức:
MPK’




MPL
β.(β -1).A.K
α
.L
β-2
< 0 (với 0 < β < 1) (2.7)
Do đó, sự thay đổi sản lượng biên của lao động theo L luôn luôn âm vì (β -1)
< 0. Điều này cho thấy MPL luôn giảm dần theo L.
Có thể giải thích lý do sản phẩm biên của một yếu tố sản xuất có xu hướng
giảm dần như sau: Vì các yếu tố sản xuất khác được giữ nguyên, nên khi tăng dần
số lượng của riêng một loại yếu tố sản xuất, mỗi đơn vị của nó ngày càng có ít hơn
các yếu tố sản xuất khác để phối hợp. Vì thế, chắc chắn từ một điểm nào đó, sản
phẩm tăng thêm từ mỗi đơn vị yếu tố sản xuất bổ sung thêm sẽ ngày càng giảm dần.
Trường hợp cố định K, việc tăng thêm L thoạt tiên có thể khiến cho tổng sản lượng
tăng lên, song mức độ gia tăng có xu hướng chậm dần; nếu cứ tiếp tục tăng L, tổng
sản lượng sẽ giảm, vì số lượng lao động quá nhiều có thể dẫn đến sự ngáng trở lẫn
nhau trong quá trình sản xuất. Giải thích tương tự đối với sản phẩm biên của vốn
(cố định L).

11
b) Hàm Translog
Hình thức đầu tiên của hàm sản xuất Translog được đề nghị vào năm 1967
bởi J. Kmenta. Đây là một dạng hàm linh hoạt nhất, nó có ưu điểm hơn so với hàm
sản xuất Cobb-Douglas là không dựa trên giả thiết cứng nhắc như có sự thay thế
hoàn hảo hay dễ dàng giữa các yếu tố sản xuất. Bên cạnh đó, hàm sản xuất dạng
Translog cho phép chuyển đổi từ mối quan hệ tuyến tính giữa đầu ra và các yếu tố
sản xuất sang mối quan hệ phi tuyến.

L: đầu vào lao động được tính bằng tổng số lao động làm việc trong một
năm.
K: vốn đầu vào được tính bằng giá trị bằng tiền của tất cả máy móc, thiết bị.
A: một yếu tố trong năng suất các yếu tố tổng hợp (TFP), có thể là khoa học
công nghệ.
α, β, γ là các hệ số của phương trình.
2.2. Lý thuyết về tác động của FDI đến năng suất lao động
2.2.1. Các kênh tác động
FDI tác động đến năng suất lao động thông qua nhiều kênh khác nhau. Theo
Blomstrom và Kokko (1998) cho rằng tác động của FDI đến năng suất lao động
thông qua ba kênh: thay đổi kiến thức với lao động có tay nghề, chuyển giao công
nghệ và phân bổ nguồn lực hiệu quả do sự cạnh tranh.
12
Vahter (2004) sự tác động của FDI thông qua các kênh như chuyển giao
công nghệ và hiệu ứng lan truyền.
Nguyễn Thị Tuệ Anh và cộng sự (2006) cho rằng bên cạnh tác động trực tiếp
vào tăng trưởng kinh tế FDI còn có tác động gián tiếp vào năng suất lao động tại các
địa phương. FDI gây áp lực cạnh tranh lên các doanh nghiệp trong nước để họ cải
thiện hiệu quả kinh doanh.
2.2.2. Khung lý thuyết về sự tác động của FDI lên năng suất lao động
Blomstrom and Sjoholm (1999) đề xuất hàm năng suất lao động như sau: Trong đó: Y là giá trị tăng thêm; L là số lao động; K là quy mô vốn của
doanh nghiệp; Skill là tỷ lệ lao động có kỹ năng; FDI là vốn đầu tư trực tiếp nước
ngoài; Scale là quy mô của doanh nghiệp, Dindustry là ngành sản xuất của doanh
nghiệp.


2.3. Các nghiên cứu thực nghiệm
Hiện nay, trên thế giới cũng như ở Việt Nam có nhiều nghiên cứu thực
nghiệm về sự tác động của FDI lên năng suất lao động doanh nghiệp. Tuy nhiên,
các nghiên cứu thực nghiệm đã chưa đạt đến một sự đồng thuận, các nghiên cứu
(Liu và cộng sự, 2001; Nguyễn Thị Tuệ Anh và cộng sự, 2006; Phạm Xuân Kiên,
2008; Ludo và cộng sự, 2008; Mebratie, 2010) khẳng định rằng tác động này thực
sự là tích cực, một số nghiên cứu khác (De Mello,1999; Konings, 2000; Vahter,
2004; Javorcik, 2004; Thiam, 2006) cho rằng nó là mơ hồ hoặc thậm chí tiêu cực.
2.3.1. Tác động tích cực của FDI lên năng suất lao động
Trong nghiên cứu về “Tác động của FDI lên năng suất lao động trong ngành
công nghiệp điện tử ở Trung Quốc”, Liu và cộng sự (2001) đã sử dụng mô hình LP
= F(CI, FS, LQ, FP) để phân tích, trong đó LP là yếu tố đầu ra thể hiện bằng năng
suất lao động, các yếu tố đầu vào gồm CI là cường độ vốn đầu tư trên một lao động,
FS là quy mô doanh nghiệp, LQ là chất lượng lao động doanh nghiệp và FP là sự
hiện diện của yếu tố nước ngoài trong ngành công nghiệp. Để phân tích thực
nghiệm, Liu và cộng sự (2001) đã sử dụng các số liệu của Niên giám thống kê
ngành công nghiệp điện tử của Trung Quốc năm 1997 và 1998, mô hình được ước
lượng bằng các phương pháp OLS, WLS, 2SLS, W2SLS, SURE và 3SLS phân tích
9 nhóm ngành công nghiệp điện tử (radar, thiết bị thông tin liên lạc, phát thanh
truyền hình, công nghệ máy tính, các bộ phận cấu thành, thiết bị đo lường, thiết bị
điện tử chuyên dụng, thiết bị điện tử gia đình và các thiết bị điện tử khác) tác giả và
cộng sự đã chỉ ra rằng FDI có tác động tích cực đến năng suất lao động và sự hiện
diện của FDI trong ngành công nghiệp điện tử có liên quan đến năng suất lao động
và làm tăng năng suất lao động.
Trong một nghiên cứu khác, Nguyễn Thị Tuệ Anh và cộng sự (2006) nghiên
cứu về “Tác động của FDI tới tăng trưởng kinh tế Việt Nam”. Trong nghiên cứu
này, tác giả và cộng sự đã phân tích tác động của FDI đến năng suất lao động doanh
nghiệp nói chung ở Việt Nam hoạt động trong các ngành chế biến thực phẩm, dệt
14

cường độ vốn, chi phí vật liệu đầu vào và lao động, quy mô doanh nghiệp, chất
lượng lao động, chi phí cho bản quyền và bằng sáng chế và các biến đại diện cho sự
15
xuất hiện của yếu tố nước ngoài: hình thức sở hữu doanh nghiệp, tỷ lệ việc làm của
các công ty nước ngoài trên tổng số việc làm và tỷ lệ sản phẩm đầu ra của các công
ty nước ngoài trên tổng giá trị sản xuất trong mỗi phân ngành cấp 4. Qua quá trình
phân tích hồi quy OLS, tác giả và cộng sự đã phát hiện ra rằng các biến số đại diện
cho yếu tố FDI là tích cực và có ý nghĩa, điều đó có nghĩa rằng FDI có tác động tích
cực đến năng suất lao động trong lĩnh vực sản xuất của Campuchia.
Mebratie (2010) với chủ đề nghiên cứu “FDI và năng suất lao động ở Nam
Phi”, trên cơ sở hàm sản xuất Cobb – Douglas, từ nguồn dữ liệu được thu thập từ
World Bank Enterprise Survey (WBES) trong năm 2003 và năm 2007, tác giả đã
tiến hành phân tích hồi quy OLS 1.660 doanh nghiệp (gồm 603 doanh nghiệp trong
năm 2003 và 1.057 doanh nghiệp trong năm 2007) hoạt động trong tất cả các ngành
sản xuất (chế biến thực phẩm, dệt may – da giày, cơ khí điện tử, hóa chất, luyện
kim, bán buôn, bán lẻ, khách sạn, nhà hàng, giao thông vận tải, công nghệ thông
tin,…) ở Nam Phi. Tác giả đã xây dựng mô hình phân tích trên cơ sở các biến sau:
biến được giải thích là biến năng suất lao động, các biến giải thích: cường độ vốn
đầu tư trên mỗi lao động, chất lượng lao động, số năm doanh nghiệp hoạt động, quy
mô doanh nghiệp, biến giả thời gian cho năm 2007, mức độ tập trung công nghiệp,
chi phí đầu tư cho R&D, và 2 biến đại diện cho sự hiện diện của yếu tố nước ngoài
là tỷ lệ phần trăm vốn chủ sở hữu cổ phiếu doanh nghiệp là người nước ngoài, tỷ lệ
phần trăm của vốn đăng ký thuộc sở hữu của nhà đầu tư nước ngoài trong ngành
công nghiệp. Qua kết quả phân tích tác giả đã phát hiện FDI có tác động tích cực
làm tăng năng suất lao động doanh nghiệp ở Nam Phi, tuy nhiên năng suất lao động
của các doanh nghiệp trong nước không chịu sự tác động lan tỏa nào từ FDI và sự
hiện diện của yếu tố nước ngoài có thể không có ảnh hưởng đáng kể đến năng suất

cấp doanh nghiệp hoạt động trong các ngành công nghiệp sản xuất của Văn phòng
Thống kê Slovenia và Estonia, bằng việc xây dựng mô hình phân tích với các biến
đại diện cho sự xuất hiện của yếu tố FDI như hình thức sở hữu doanh nghiệp, tỷ lệ
tổng tài sản của các doanh nghiệp đầu tư nước ngoài so với tổng tài sản của tất cả
các doanh nghiệp trong cùng một ngành, tác giả đã sử dụng phương pháp ước lượng
các yếu tố ngẫu nhiên (mô hình Random Effect model) và ước lượng các yếu tố
không ngẫu nhiên (mô hình Fixed Effect model) để phân tích hồi quy cho 326
17
doanh nghiệp hoạt động ở Estonia giai đoạn 1996 - 2001 và 982 doanh nghiệp hoạt
động ở Slovennia giai đoạn 1994-2000 và đã phát hiện ra FDI có tác động tiêu cực
lên năng suất lao động ở Estonia và tác động tích cực ở Slovennia.
Javorcik (2004) trong nghiên cứu về “Sự gia tăng đầu tư FDI có làm tăng
năng suất các doanh nghiệp trong nước hay không? Nghiên cứu về ngoại tác lan
truyền thông qua mối quan hệ nghịch” ở Lithuania. Trên cơ sở hàm sản xuất Cobb –
Douglas và từ dữ liệu Khảo sát doanh nghiệp hàng năm của Văn phòng Thống kê
Lithuania năm 2001, bằng việc xây dựng mô hình phân tích với các biến đại diện
cho sự xuất hiện của yếu tố FDI như hình thức sở hữu doanh nghiệp, vốn FDI trung
bình tham gia trong các doanh nghiệp, biến thể hiện mối quan hệ tiềm năng giữa các
nhà cung cấp trong nước với công ty đa quốc gia, tỷ lệ cổ phiếu của các công ty FDI
trong doanh nghiệp, tác giả đã tiến hành phân tích hồi quy OLS cho 12.000 doanh
nghiệp năm 1996 và 21.000 doanh nghiệp năm 1999 và đã không tìm thấy bằng
chứng về sự tác động lan tỏa của FDI trong nội bộ ngành của các doanh nghiệp ở
Lithuania và trong lĩnh vực cung cấp các trung gian đầu vào.
Thiam (2006) trong nghiên cứu về “Đầu tư trực tiếp nước ngoài và năng
suất. Bằng chứng từ các nền kinh tế Đông Á”. Trong nghiên cứu này, tác giả đã tập
trung kiểm định mối quan hệ giữa FDI và năng suất của 8 nền kinh tế ở Đông Á:
Trung Quốc, Hồng Kông, Indonesia, Malaysia, Hàn Quốc, Singapore, Đài Loan và


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status