Mở cửa thương mại tác động đến tăng trưởng kinh tế Việt Nam - Pdf 29

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ TP. HCM

TRẦN HUỲNH KIM THOA
MỞ CỬA THƯƠNG MẠI TÁC ĐỘNG ĐẾN
TĂNG TRƯỞNG KINH TẾ VIỆT NAM
LUẬN VĂN THẠC SĨ KINH TẾ
TP. Hồ Chí Minh – Năm 2013
BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ TP. HCM

TRẦN HUỲNH KIM THOA
MỞ CỬA THƯƠNG MẠI TÁC ĐỘNG ĐẾN
TĂNG TRƯỞNG KINH TẾ VIỆT NAM
Chuyên ngành: Tài chính - Ngân hàng
Mã số: 60340201
LUẬN VĂN THẠC SĨ KINH TẾ
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC:
PGS.TS NGUYỄN NGỌC ĐỊNH
TP. Hồ Chí Minh – Năm 2013
LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan rằng luận văn “Mở cửa thương mại tác động đến tăng
trưởng kinh tế Việt Nam” là công trình nghiên cứu của riêng tôi.
Các thông tin dữ liệu được sử dụng trong luận văn là trung thực, các nội dung
trích dẫn đều có ghi nguồn gốc và các kết quả trình bày trong luận văn chưa được
công bố tại bất kỳ công trình nghiên cứu nào khác.
TP.HCM, tháng 09 năm 2013
Học viên
Trần Huỳnh Kim Thoa
DANH MỤC TỪ NGỮ VIẾT TẮT
FDI Vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài

MỞ CỬA THƯƠNG MẠI TÁC ĐỘNG ĐẾN TĂNG TRƯỞNG
KINH TẾ VIỆT NAM
Tóm tắt:
Bài nghiên cứu kiểm định mối quan hệ giữa mở cửa thương mại và
tăng trưởng kinh tế ở Việt Nam trong giai đoạn 1986 đến 2012. Bằng cách
sử dụng mô hình vecto tự hồi quy (VAR) kết hợp với kỹ thuật phân rã
phương sai và hàm phản ứng xung, kết quả cho thấy mở cửa thương mại
có tác động ngược chiều đến tăng trưởng kinh tế. Kết quả này phù hợp với
một số nghiên cứu thực nghiệm cho rằng mối quan hệ ngược chiều này là
do ảnh hưởng của việc gia tăng mở cửa thương mại khiến nền kinh tế dễ
tổn thương và nếu chưa sẵn sàng cho quá trình hội nhập thì mở cửa thương
mại sẽ làm giảm tính cạnh tranh của sản xuất trong nước. Bài nghiên cứu
còn tìm thấy mối quan hệ nhân quả giữa vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài
(FDI) với tăng trưởng kinh tế.
Từ khóa: mở cửa thương mại, tăng trường, vecto tự hồi quy, phân rã
phương sai, hàm phản ứng xung.
2
1. Giới thiệu
Thương mại quốc tế đóng một vai trò quan trọng trong sự phát triển
của bất kỳ nền kinh tế nào với giả định là một động cơ của tăng trưởng.
Thương mại đang diễn ra không chỉ về hàng hóa mà còn về mặt công
nghệ, dòng chảy các ý tưởng và kiến thức.
Từ khi mối quan hệ giữa mở cửa thương mại và tăng trưởng kinh tế
được phân tích rộng rãi trên thế giới, nó vẫn gây tranh cãi giữa các nhà
hoạch định chính sách và các nhà kinh tế dựa trên kết quả thực nghiệm
(Chaudhry, IS. and Imran, A., 2009). Nhiều câu hỏi đã được đặt ra về mối
quan hệ giữa thương mại và tăng trưởng ở các nước đang phát triển
(Kruger, 1997). Một số nhà kinh tế và các nhà hoạch định cho rằng tự do
hóa thương mại sẽ dẫn đến hiệu suất kinh tế vĩ mô tốt và nền kinh tế tăng
trưởng nhanh hơn (Henriques và Sadorsky, 1996). Tổ chức quốc tế như

dòng vốn thông qua đầu tư trực tiếp nước ngoài cũng tăng cường tăng
trưởng kinh tế Việt Nam trong suốt giai đoạn cuối những năm 1980 đến
1996. Tuy nhiên, trải qua các cuộc khủng hoảng 1997 và 2008 thì nền kinh
tế Việt Nam cũng chịu ảnh hưởng không nhỏ với tốc độ tăng trưởng chậm
và gia tăng đói nghèo và thất nghiệp.
4
Chính vì vậy, tác giả chọn đề tài: “ Mở cửa thương mại tác động
đến tăng trưởng kinh tế Việt Nam” . Bài nghiên cứu được thực hiện với
mục tiêu nhằm kiểm định xem độ mở thương mại có tác động đến tăng
trưởng kinh tế Việt Nam hay không.
Để đạt được mục tiêu trên, bài nghiên cứu lần lượt trả lời các câu
hỏi cụ thể:
- Mở cửa thương mại có tác động đến tăng trưởng kinh tế Việt
Nam hay không?
- Mở cửa thương mại tác động đến tăng trường kinh tế Việt Nam
như thế nào?
Tác giả sử dụng phương pháp Vecto tự hồi quy (VAR) kết hợp với
hàm phản ứng xung và kỹ thuật phân rã phương sai cho dữ liệu chuỗi thời
gian hằng năm với giai đoạn từ năm 1986 – 2012 .
Bài nghiên cứu được trình bày theo bố cục: sau phần giới thiệu,
phần 2 tóm tắt các bài nghiên cứu liên quan. Mô hình nghiên cứu và số
liệu sẽ được trình bày trong phần 3. Phần 4 trình bày về các kết quả nghiên
cứu và cuối cùng là phần kết luận.
5
2. Tổng quan các nghiên cứu trước đây:
Nguồn gốc của thương mại có thể phát sinh từ lý thuyết về lợi thế
tuyệt đối và lợi thế so sánh cũng như mô hình của Hecksher Ohlin (2001). Lý
thuyết về lợi thế tuyệt đối được thiết lập bởi Adam Smith trong cuốn sách nổi
tiếng của ông : “ Inquiry into the nature and the wealth of nation” năm 1776.
Smith cho rằng thương mại giữa hai quốc gia được dựa trên lợi thế so sánh

Mô hình tăng trưởng nội sinh cho thấy một liên kết trực tiếp và liên
tục giữa mở cửa và tốc độ tăng trưởng, điều còn thiếu trong mô hình tăng
trưởng tân cổ điển ( Solow 1956). Mặc dù phù hợp với quan điểm lý
thuyết nhưng nhược điểm chính của mô hình tăng trưởng nội sinh là rất
khó dung hòa với các bằng chứng thực nghiệm ngày càng phát triển.
Nhiều nghiên cứu kinh tế đã được thực hiện nhằm phân tích tác
động của mở cửa thương mại đến tăng trưởng kinh tế. Các bài nghiên cứu
thực nghiệm cho thấy các kết quả khác nhau về tác động của mở cửa
thương mại đến tăng trưởng kinh tế. Một số tác giả cho rằng mở cửa
thương mại có tác động tích cực đến tăng trưởng kinh tế của một quốc gia
(Barro,1991; Dollar, 1992; Edwards, 1993,1998; ).
7
Mặt khác, các bài nghiên cứu của Harrison (1996), Yanikaya
(2003), Siddiqui và Iqbal (2005), Simorangkir (2006), Adhikary
(2011) cho rằng khó tìm thấy mối quan hệ cùng chiều rõ ràng hoặc thậm
chí là có mối quan hệ ngược chiều giữa mở cửa thương mại và tăng trưởng
kinh tế.
Santos-Paulino (2002) phân tích tác động của tự do hóa thương mại
lên tăng trưởng xuất khẩu cho một mẫu 22 quốc gia đang phát triển giai
đoạn 1972 – 1998. Công thức tăng trưởng xuất khẩu của ông đưa ra ý
tưởng các yếu tố tác động đến khối lượng xuất khẩu là tỷ giá hối đoái thực
và thu nhập thế giới. Độ mở thương mại được đo bằng hai cách. Trước
tiên là bằng tỷ số giữa thuế xuất khẩu với tổng xuất khẩu, như là chỉ số về
định kiến chống xuất khẩu và thứ hai là sử dụng biến giả về thời gian đưa
ra các biện pháp tự do hóa thương mại. Kết quả của ước lượng OLS chỉ ra
rằng thuế xuất khẩu có tác động tiêu cực và có ý nghĩa đối với tăng trưởng
xuất khẩu và trong thươc đo độ mở thứ hai có tác động tích cực và có ý
nghĩa đến tăng trưởng sản lượng. Vì vậy, bài nghiên cứu kết luận rằng
xuất khẩu tăng trưởng nhanh hơn trong các nền kinh tế mở.
Nghiên cứu về vai trò của mở cửa thương mại và đầu tư trực tiếp

9
Bài nghiên cứu này sử dụng phương pháp GMM phân tích một mẫu 36
quốc gia đang phát triển giai đoạn 1990-2008. Bài nghiên cứu đo lường độ
mở thương mại bằng 8 chỉ số khác nhau. Kết quả của bài nghiên cứu cho
thấy trong dài hạn mở cửa thương mại góp phần tích cực vào dòng vốn
đầu tư trực tiếp nước ngoài.
Manni và Afzal (2012) đã nghiên cứu tác động của tự do hóa
thương mại đến nền kinh tế Bangladesh giai đoạn từ 1980 đến 2010. Bài
nghiên cứu này phân tích những thành tựu của nền kinh tế với các biến
quan trọng như tăng trưởng, lạm phát, xuất khẩu và nhập khẩu sau khi tự
do hóa thương mại. Bài nghiên cứu sử dụng kỹ thuật bình phương nhỏ
nhất (OLS) là phương pháp cho kết quả thực nghiêm. Các phân tích cho
thấy rõ ràng rẳng tăng trưởng GDP gia tăng là kết quả của tự do hóa. Tự
do hóa thương mại dường như không ảnh hưởng lạm phát trong nền kinh
tế. Phân tích định lượng cũng cho thấy rằng độ mở lớn hơn sẽ có tác động
tích cực đến sự phát triển kinh tế. Cả xuất khẩu và nhập khẩu thực đều
tăng khi mở cửa. Chính sách tự do hóa chắc chắn cải thiện xuất khẩu điều
đó dẫn đến tăng trưởng kinh tế cao hơn sau những năm 1990. Những phát
hiện của nghiên cứu này có thể là một ví dụ thú vị để nghiên cứu chính
sách tự do hóa thương mại ở các nước đang phát triển.
Trong “ Tự do hóa thương mại và tăng trưởng kinh tế: vai trò của
chính sách điều tiết”, Biwot, Moyi và Khainga (2013) đã nghiên cứu về
mối quan hệ giữa tự do hóa thương mại quốc tế và tăng trưởng kinh tế tập
trung vào chính sách điều tiết trong một mẫu được chọn của 16 nước châu
Phi vùng cận Saharan (SSA). Trong khi tự do hóa thương mại quốc tế đề
10
cập đến việc gỡ bỏ các rào cản đối với thương mại quốc tế thì các chính
sách điều tiết đề cập đến việc cải thiện tín dụng, lao động và thị trường sản
xuất trong một nước. Bằng việc sử dụng dữ liệu bảng, bài nghiên cứu
dùng biến công cụ (IV) và phương pháp GMM ( the Generalize Method of

rõ ràng hoặc tác động ngược chiều của mở cửa thương mại đến tăng
trưởng kinh tế.
Harrison (1996) sử dụng một hàm sản xuất tổng quát để phân tích
mối quan hệ giữa mở cửa thương mại và tăng trưởng kinh tế. Ông xác
định GDP là một hàm của vốn cổ phần, số năm giáo dục tiểu học và trung
học, dân số, lao động, đất canh tác và thay đổi công nghệ. Ông đã sử dụng
7 thước đo độ mở để kiểm tra các mối quan hệ thống kê giữa độ mở và
tăng trưởng GDP. Kết quả ước lượng chéo cho thấy chỉ có lãi suất thị
trường chợ đen là có ý nghĩa tiêu cực. Kết quả chuỗi thời gian cho từng
quốc gia chỉ ra rằng 3 biến số được tìm thấy có ý nghĩa. Hàng rào thuế
quan và phi thuế quan có dấu hiệu tích cực trong khi lãi suất thị trường
chợ đen và chỉ số sai lệch giá có dấu hiệu tiêu cực. Ước lượng với số liệu
hàng năm cho kết quả hai biến có ý nghĩa là hàng rào thuế quan và phi
thuế quan và lãi suất thị trường chợ đen, cả hai đều có quan hệ ngược
chiều với tăng trưởng GDP. Vì vậy, ông kết luận rằng việc lựa chọn thời
12
gian để phân tích về mới quan hệ giữa thước đo mở cửa thương mại và
tăng trưởng GDP là rất quan trọng.
Vamvakidis (2002) đã kiểm định mối quan hệ giữa mở cửa thương
mại và tăng trưởng kinh tế ở các quốc gia phát triển và đang phát triển sử
dụng dữ liệu chéo trong giai đoạn từ 1920-1990. Việc ước lượng tăng
trưởng kinh tế trong một giai đoạn dài đưa ra kết luận mạnh mẽ về mở cửa
thương mại và các biến giải thích khác trong mô hình thực nghiệm. Kết
quả chỉ ra rằng không có mối quan hệ cùng chiều giữa mở cửa thương mại
và tăng trưởng kinh tế trước năm 1970. Tác giả tìm thấy mối quan hệ
ngược chiều. Quan hệ cùng chiều giữa chúng chỉ là một hiện tượng gần
đây. Tuy nhiên, nó nhạy cảm với thước đo độ mở. Phát hiện này cho thấy
mở cửa thương mại trong nền kinh tế được bảo hộ cao thì không đem lại
lợi ích kinh tế.
Yanikkaya (2003) phân tích tác động của tự do hóa thương mại đến

nền kinh tế Indonesia dễ bị tổn thương hơn với các dòng vốn đảo chiều,
gây nguy hiểm cho hoạt động kinh tế.
Adhikary (2011) đã làm đa dạng thêm các lý thuyết về thương mại
bằng cách nghiên cứu mối quan hệ giữa thương mại và tăng trưởng kinh tế
kết hợp với FDI, vốn đầu tư và các yếu tố thúc đẩy tăng trưởng kinh tế
14
khác trong trường hợp của Bangladesh. Bằng chứng thực nghiệm khẳng
định mối quan hệ lâu dài và cho rằng mở cửa thương mại cản trở tăng
trưởng kinh tế trong khi FDI và vốn đầu tư có tác động cùng chiều đến
tăng trưởng kinh tế. Kết quả nghiên cứu cho rằng chính phủ Bangladesh
nên khuyến khích để tăng cường đầu tư trực tiếp nước ngoài và đầu tư vốn
cao.
15
Bảng 2.1: Tóm tắt các nghiên cứu trước đây:
Tác giả
Mẫu
Phương
pháp
Kết quả
Nghiên cứu cho rằng mở cửa thương mại tác động cùng chiều đến tăng
trưởng kinh tế
Santos-
Paulino
(2002)
mẫu 22 quốc gia
đang phát triển
giai đoạn 1972 –
1998
OLS
Xuất khẩu tăng trưởng

tính theo GDP bình
quân đầu người) cùng
chiều và có ý nghĩa
thống kê
Liargovas và
Konstantinos
(2012)
36 quốc gia đang
phát triển giai
đoạn 1990-2008
GMM
Trong dài hạn mở cửa
thương mại góp phần
tích cực vào dòng vốn
đầu tư trực tiếp nước
ngoài
Manni và
Afzal (2012)
Nền kinh tế
Bangladesh giai
đoạn từ 1980 đến
2010
OLS
Chính sách tự do hóa
chắc chắn cải thiện
xuất khẩu điều đó dẫn
đến tăng trưởng kinh tế
cao hơn sau những
năm 1990
17

và dài hạn, FDI có tác
động ngược chiều đến
tăng trưởng GDP thực,
Lạm phát có mối quan
hệ cùng chiều nhưng
không có ý nghĩa
18
Nghiên cứu tìm thấy mối quan hệ không rõ ràng hoặc ngược chiều của mở
cửa thương mại và tăng trưởng kinh tế
Harrison
(1996)
Các nước đang
phát triển
Panel data –
fixed effect
Kết quả không rõ ràng,
độ mở thương mại có
tác động vừa cùng
chiều vừa ngược chiều
tùy thuộc vào việc lựa
chọn thời gian để phân
tích
Vamvakidis
(2002)
các quốc gia
phát triển và
đang phát triển
giai đoạn từ
1920-1990
Trước 1970, mở cửa

cửa thương mại và
tăng trưởng GDP
Simorangkir
(2006)
Indonesia
SVAR
Chỉ ra tác động ngược
chiều của mở cửa
thương mại và mở cửa
tài chính lên sản lượng
trong nước và vì vậy
tác động ngược chiều
lên tăng trưởng kinh tế
Adhikary
(2011)
Bangladesh
Cho rằng mở cửa
thương mại cản trở
tăng trưởng kinh tế
trong khi FDI và vốn
đầu tư có tác động
cùng chiều đến tăng
trưởng kinh tế

Trích đoạn Kiểm định quan hệ nhân quả Granger: Kết quả phân rã phương sai: Kết luận:
Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status