Website: http://www.docs.vn Email : [email protected] Tel (: 0918.775.368
Lời nói đầu
Kể từ khi bắt đầu công cuộc đổi mới mà Đảng và Nhà nước ta đã đề ra tại Đại
hội Đảng toàn quốc lần thứ VI, nền kinh tế Việt Nam đã có những biến đổi to lớn.
Cột mốc đánh dấu sự thay đổi lớn mạnh của nền kinh tế Việt Nam chính là việc Việt
Nam chính thức trở thành thành viên của tổ chức thương mại thế giới WTO trong
năm 2007 sau quá trình chuẩn bị 11 năm với hơn 200 cuộc đàm phán. Gia nhập vào
WTO cũng có nghĩa là Việt Nam đã hội nhập vào nền kinh tế toàn cầu, tham gia vào
sân chơi chung của thế giới, cơ hội nhiều nhưng thách thức cũng không nhỏ. Một
trong những thách thức to lớn mà Việt Nam sẽ gặp phải đó là sức ép cạnh tranh của
các doanh nghiệp nước ngoài trên một sân chơi bình đẳng theo qui định chung khi gia
nhập vào ngôi nhà WTO. Đứng trước tình hình sẽ phải đối mặt với sức ép cạnh tranh
khi hội nhập, khối doanh nghiệp Việt Nam nói chung và hệ thống các doanh nghiệp
nhà nước nói riêng đã bộc lộ những hạn chế, yếu kém như: công nghệ lạc hậu, tài sản
manh mún, cơ chế quản lý cứng nhắc, trình độ quản lý thấp kém, tinh thần người lao
động sa sút.... Nói chung phần lớn các doanh nghiệp Nhà nước đều lâm vào tình trạng
khủng hoảng, trì trệ, làm ăn cầm chừng.
Nhận thức được điều đó, trong những năm qua Đảng và Nhà nước ta đã có
nhiều biện pháp nhằm nâng cao hiệu quả hoạt động của Khu vực kinh tế Nhà nước
như: cổ phần hoá một bộ phận doanh nghiệp Nhà nước, sắp xếp chuyển lại các doanh
nghiệp Nhà nước theo mô hình công ty mẹ-con, công ty trách nhiệm hữu hạn hay
thực hiện các hình thức bán khoán, cho thuê, hay giải thể các doanh nghiệp làm ăn
không hiệu quả... trong đó cổ phần hoá được coi là giải pháp hàng đầu, có khả năng
mang lại lợi ích hài hoà cho Nhà nước cũng như cho nhiều bộ phận xã hội khác.
Đứng trước xu thế toàn cầu hoá diễn ra ngày càng mạnh mẽ như hiện nay, đòi
hỏi Việt nam phải có những chuyển biến mạnh mẽ cả về kinh tế và chính trị , như vậy
sẽ chủ động trong vấn đề hội nhập và quan hệ quốc tế với các nước trong khu vực và
trên thế giới. Công cuộc chuyển đổi doanh nghiệp Việt Nam nói chung và doanh
nghiệp nhà nước nói riêng là điều kiện bắt buộc không chỉ để có thể cạnh tranh được
với các doanh nghiệp nước ngoài mà còn để có thể tham gia sân chơi theo đúng điều
lệ từ WTO. Việc cải cách hệ thống pháp luật theo hướng phù hợp với qui định của
chuyên đề thực tập này.
2
Website: http://www.docs.vn Email : [email protected] Tel (: 0918.775.368
Phần I: Cơ sở lý luận về cổ phần hóa và chuyển đổi doanh
nghiệp nhà nước
I. Cơ sở lý luận về cổ phần hóa và chuyển đổi doanh nghiệp nhà nước
1. Cổ phần hóa
Cho đến nay, trong nền kinh tế thị trường, vai trò của Nhà nước đối với sự
phát triển kinh tế - xã hội là không thể phủ nhận. Khi nền kinh tế thị trường phát triển
kéo theo hạn chế là sự cạnh tranh khốc liệt và bất bình về mặt xã hội tăng lên. Để
giảm bớt và kìm hãm những hạn chế trên, đồng thời thực hiện chức năng quản lý của
mình, Nhà nước sử dụng một công cụ hữu hiệu là bộ phận kinh tế Nhà nước, mà
trung tâm là các doanh nghiệp Nhà nước. Nhưng việc lạm dụng quá mức sự can thiệp
của khu vực kinh tế Nhà nước sẽ kìm hãm sự tăng trưởng và phát triển của nền kinh
tế. Từ đó vấn đề đặt ra là phải làm thế nào để vừa phát triển kinh tế, vừa phát triển xã
hội đồng thời vai trò quản lý của Nhà nước vẫn được giữ vững.
Một hiện tượng kinh tế nổi bật trên toàn thế giới trong những năm 1980 là sự
chuyển đổi sở hữu Nhà nước : Chỉ tính từ năm 1984 đễn năm 1991, trên toàn thế giới
đã có trên 250 tỷ USD tài sản Nhà nước được đem bán.Chỉ riêng năm 1991 chiếm
khoảng 50 tỷ USD. Đến nay đã có hàng trăm nước phát triển trên thể giới đều xây
dựng và thực hiện cổ phần hoá một cách tích cực. Do đó, việc cổ phần hoá được coi
như là một giải pháp hữu hiệu để khắc phục sự yếu kém trong kinh doanh của bộ
phận doanh nghiệp Nhà nước.Vậy cổ phần hoá là gì, vai trò, đặc điểm của nó ra sao,
mà nhiều nước trên thế giới sử dụng nó trong công tác quản lý kinh tế như vậy.
Theo tài liệu của hầu hết các học giả nước ngoài thì việc xem xét vấn đề cổ
phần hoá doanh nghiệp Nhà nước đều đặt nó trong một quá trình rộng lớn hơn đó là
quá trình Tư nhân hoá. Tư nhân hoá theo như định nghĩa của Liên Hợp Quốc là sự
biến đổi tương quan giữa Nhà nước và thị trường trong đời sống kinh tế của một
nước ưu tiên thị trường. Theo cách hiểu này thì toàn bộ các chính sách, thể chế, luật
lệ nhằm khuyến khích, mở rộng, phát triển khu vực kinh tế tư nhân hay các thành
tế, đảm bảo cho nền kinh tế phát triển ổn định theo đúng định hướng XHCN.
2.2. Về lựa chọn hình thức tiến hành Cổ phần hóa
Theo quy định thì có 4 hình thức Cổ phần hoá, Ban cổ phần hoá sẽ lựa chọn
một hình thức phù hợp với điều kiện cụ thể của doanh nghiệp và người lao động. Các
hình thức đó là: giữ nguyên giá trị thuộc vốn Nhà nước hiện có tại doanh nghiệp, phát
hành cổ phiếu thu hút thêm vốn để phát triển doanh nghiệp; bán một phần giá trị
thuộc vốn Nhà nước hiện có tại doanh nghiệp; tách một bộ phận của doanh nghiệp để
cổ phần hoá; bán toàn bộ giá trị hiện có thuộc vốn Nhà nước tại doanh nghiệp để
chuyển thành công ty cổ phần.
2.3. Xác định giá trị doanh nghiệp
4
Website: http://www.docs.vn Email : [email protected] Tel (: 0918.775.368
Đây là một khâu quan trọng và thường chiếm nhiều thời gian, công sức nhất
trong quá trình Cổ phần hoá. Có 2 nguyên tắc xác định giá trị doanh nghiệp được đưa
ra, đó là:
Giá trị thực tế là giá trị toàn bộ tài sản hiện có của doanh nghiệp tại thời điểm
cổ phần hoá mà người mua, người bán cổ phần đều chấp nhận được. Người mua và
người bán cổ phần sẽ thoả thuận theo nguyên tắc tự nguyện, đôi bên cùng có lợi. Tại
các nước có nền kinh tế phát triển, thoả thuận này diễn ra trên thị trường chứng
khoán, còn ở nước ta thoả thuận có thể diễn ra thông qua các công ty môi giới, kiểm
toán( đã diễn ra trên thị trường chứng khoán nhưng chưa phổ biến). Trên cơ sở xác
định được giá trị thực tế của doanh nghiệp, giá trị thực tế phần vốn Nhà nước tại
doanh nghiệp sẽ là phần còn lại của giá trị thực tế sau khi đã trừ đi các khoản nợ phải
trả.
Cơ sở xác định giá trị thực tế của doanh nghiệp đó là số liệu trong sổ sách kế
toán của doanh nghiệp tại thời điểm Cổ phần hoá và giá trị thực tế của tài sản tại
doanh nghiệp được xác định trên cơ sở hiện trạng về phẩm chất, tính năng kỹ thuật,
nhu cầu sử dụng của người mua tài sản và giá thị trường tại thời điểm Cổ phần hoá.
Nguyên tắc này được đặt ra để đảm bảo tính khách quan trong việc xác định giá trị
doanh nghiệp.
10 năm không phải trả lãi.
3. Chuyển đổi doanh nghiệp nhà nước
3.1. Khái niệm về chuyển đổi doanh nghiệp nhà nước
Đổi mới doanh nghiệp nhà nước là một trong những trọng tâm và là lĩnh vực
cải cách nhạy cảm, khó khăn nhất của quá trình chuyển đổi từ nền kinh tế kế hoạch
hóa tập trung sang kinh tế thị trường. Đó là vì đây không phải là vấn đề kinh tế mà
còn là vấn đề mang tính tư tư tưởng, chính trị, xã hội và tâm lý. Đổi mới doanh
nghiệp nhà nước thường có 2 nội dung chủ yếu là giảm qui mô khu vực doanh nghiệp
nhà nước và cải cách thể chế nhằm nâng cao hiệu quả hoạt sử dụng vốn nhà nước đầu
tư vào doanh nghiệp và nâng cao hiệu quả hoạt động của các doanh nghiệp nhà nước
còn lại.
Có hai cách tiếp cận trong công tác tiến hành đổi mới doanh nghiệp nhà nước.
Cách thứ nhất đó là tư nhân hóa nhanh chóng hầu hết các doanh nghiệp nhà nước và
cách thứ hai đó là vừa tiến hành từng bước quá trình cổ phần hóa, đa dạng hóa sở
hữu, vừa chuyển các doanh nghiệp nhà nước sang hoạt động theo chế độ công ty hiện
đại. Đây cũng chính là cách thức mà Việt Nam đang tiến hành áp dụng. Việc chuyển
đổi doanh nghiệp sang hoạt động theo chế độ công ty hiện đại đã được chính phủ
thông qua trong nghị định số 95/2006 và theo qui định của luật doanh nghiệp năm
2005 các doanh nghiệp nhà nước sẽ phải chuyển đổi thành công ty TNHH 1 thành
viên hoạt động theo luật doanh nghiệp.
6
Website: http://www.docs.vn Email : [email protected] Tel (: 0918.775.368
Có thể hiểu khái niệm chuyển đổi doanh nghiệp nhà nước là việc chuyển
doanh nghiệp nhà nước kinh doanh sang hoạt động theo mô hình công ty trong đó
không thay đổi bản chất sở hữu mà chỉ thay đổi hình thức pháp lý của doanh nghiệp
nhà nước. Vốn của các doanh nghiệp này vẫn do nhà nước nắm giữ 100% nhưng
doanh nghiệp được chủ động hơn, quyền hạn, nghĩa vụ, tổ chức, quản lý sau chuyển
đổi sẽ tương tự như các doanh nghiệp hoạt động theo luật doanh nghiệp. Việc chuyển
đổi doanh nghiệp nhà nước sang mô hình công ty không chỉ là giải pháp để giải tỏa
sức ép chuyển đổi doanh nghiệp mà còn là phương tiện nhằm nâng cao hiệu quả hoạt
công ty con. Trong đó, có 52 DNNN chuyển đổi theo đề án của Thủ tướng chính phủ
phê duyệt và 18 doanh nghiệp do các Bộ, UBND cấp tỉnh phê duyệt, mà thực chất
trong số đó nhiều doanh nghiệp trên thực tế đã hình thành cơ cấu công ty mẹ - công
ty con.
Mô hình công ty mẹ-công ty con không còn giới hạn trong khu vực DNNN mà
đã mở rộng ra khu vực kinh tế tư nhân, khu vực đầu tư trực tiếp nước ngoài. Mô hình
này đã tạo ra hướng liên kết hoàn toàn mới, bền chặt hơn bằng đầu tư, góp vốn giữa
các doanh nghiệp, kể cả doanh nghiệp của các thành phần kinh tế khác, phù hợp với
việc mở rộng quyền tự chủ, tự chịu trách nhiệm của các doanh nghiệp. Liên kết bằng
vốn đầu tư này là hoàn toàn tự nguyện, phụ thuộc vào năng lực tài chính của các công
ty tự đầu tư vào nhau này. Những nhược điểm cố hữu của mô hình tổng công ty nhà
nước đang được khắc phục, nhất là nhược điểm về liên kết và tính đơn điệu trong cơ
cấu đơn vị thành viên.
3.2.2. Chuyển đổi DNNN thành công ty TNHH 1 thành viên
Các doanh nghiệp thuộc đối tượng chưa chuyển đổi sở hữu, nhà nước còn nắm
giữ 100% vốn sẽ được chuyển đổi thành công ty TNHH một thành viên hoạt động
theo luật doanh nghiệp. Cho đến nay có khoảng 200 doanh nghiệp chuyển đổi theo
hình thức này và nhiều công ty TNHH một thành viên được thành lập mới từ vốn nhà
nước. Luật doanh nghiệp 2005 có hiệu lực thi hành từ ngày 1 tháng 7 năm 2006 qui
định các doanh nghiệp nhà nước còn nắm giữ 100% vốn sẽ phải chuyển sang công ty
TNHH một thành viên trong thời hạn tối đa là 4 năm. Như vậy, số 1800 doanh nghiệp
mà Nhà nước còn nắm giữ 100% vốn theo kế hoạch đến cuối năm 2006, kể cả tổng
công ty, các công ty mẹ, sẽ phải chuyển dần sang công ty TNHH một thành viên và
hoàn thành chuyển đổi vào thời điểm ngày 1 tháng 7 năm 2010.
Việc chuyển công ty nhà nước sang công ty TNHH một thành viên không chỉ
là sự chuyển đổi về hình thức pháp lý mà quan trọng hơn là thông qua sự chuyển đổi
tạo điều kiện thuận lợi để doanh nghiệp 100% vốn thuộc sở hữu nhà nước phát huy
đầy đủ quyền chủ động, sáng tạo trong hoạt động kinh doanh, nâng cao hiệu quả hoạt
động của doanh nghiệp, tạo điều kiện cho doanh nghiệp bình đẳng với các doanh
nghiệp khác về quyền hạn, trách nhiệm, tổ chức quản lý và môi trường hoạt động
khuyến khích nhân dân và doanh nghiệp thuộc các thành phần kinh tế sản xuất những
sản phẩm, dịch vụ công ích mà xã hội cần mà pháp luật không cấm và chuyển sang
đặt hàng và đấu thầu sản phẩm công ích.
Cơ chế hoạt động của các doanh nghiệp 100% vốn nhà nước hoạt động theo
luật DNNN được đổi mới cơ bản, theo hướng tiến tới sự ngang bằng về quyền tự chủ
so với doanh nghiệp của các thành phần kinh tế khác. Doanh nghiệp phải sản xuất
kinh doanh với các nguyên tắc thị trường, giảm thiểu tình trạng lãng phí nguồn lực
nhà nước đầu tư, phải đấu thầu thực hiện sản phẩm, dịch vụ công ích cùng với các
9
Website: http://www.docs.vn Email : [email protected] Tel (: 0918.775.368
thành phần kinh tế khác, chuyển dần sang cơ chế thuê giám đốc, có thể thuê cả người
nước ngoài… Công ty nhà nước có các quyền chiếm hữu và sử dụng đối với vốn và
tài sản như các loại hình doanh nghiệp khác.
3.2.4. Chuyển đổi quyền chủ sở hữu
Đây là vấn đề đề khó khăn nhất của chuyển đổi DNNN, mặc dù là nội dung
quan trọng và được đề cập nhiều trong các chủ trương, nghị quyết của Đảng. Từ Đại
hội Đảng VII và các Đại hội Đảng tiếp theo, cũng như trong nhiều nghị quyết Trung
ương của các kỳ Đại hội Đảng đã đưa ra các chủ trương như: xóa bỏ chế độ chủ
quản, cấp hành chính chủ quản, phân biệt quyền chủ sở hữu và quyền kinh doanh của
doanh nghiệp, đổi mới, nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản lý của nhà nước, chuyển
sang thực hiện chế độ quản lý công ty đối với DNNN, đầu tư vốn qua các công ty đầu
tư tài chính nhà nước, thành lập các công ty đầu tư tài chính nhà nước; Hội đồng
quản trị là đại diện trực tiếp sở hữu Nhà nước tại doanh nghiệp; Chính phủ thống
nhất quản lý và tổ chức thực hiện các quyền của chủ sở hữu đối với DNNN, chính
phủ ủy quyền cho các bộ, phân cấp cụ thể cho UBND tỉnh, thành phố trực thuộc
trung ương, Hội đồng quản trị tổng công ty nhà nước thực hiện quyền chủ sở hữu của
nhà nước phù hợp với các loại hình doanh nghiệp có vốn nhà nước, bảo đảm ở đâu có
vốn của nhà nước thì phải có tổ chức hoặc cá nhân được giao quyền đại diện nhà
nước làm chủ sở hữu trực tiếp với nhiệm vụ, quyền hạn, quyền lợi và trách nhiệm rõ
rang, không phân biệt DNNN do Trung ương hay địa phương quản lý…
viên chuyển đổi từ công ty nhà nước vẫn còn một số vấn đề phát sinh, tạo tâm lý
không tốt cho doanh nghiệp về môi trường hoạt động sau chuyển đổi.
Thực tế này có nhiều nguyên nhân, nhưng chủ yếu do chưa quy định rõ ràng
và cụ thể, thiếu nhất quán trong nhận thức giữa cơ quan đăng ký kinh doanh và doanh
nghiệp chuyển đổi,... Cụ thể là:
- Chưa quy định, nhận thức rõ về sở hữu vốn điều lệ của công ty trách nhiệm hữu hạn
một thành viên nên đã dẫn đến tình trạng cán bộ đăng ký kinh doanh tại một số địa
phương yêu cầu doanh nghiệp phải có quyết định chia vốn điều lệ cho các thành viên
Hội đồng thành viên nắm giữ, sở hữu như công ty trách nhiệm hữu hạn hai thành viên
trở lên; yêu cầu doanh nghiệp phải ghi thêm lời giải thích vào ngành nghề đăng ký
trong khi ngành, nghề này đã được ghi rõ trong quyết định chuyển đổi.
- Tuy luật doanh nghiệp qui định doanh nghiệp có quyền chủ động lựa chọn ngành
nghề, địa bàn kinh doanh đầu tư, nhưng vẫn còn có ý kiến cho rằng ngành nghề kinh
doanh của công ty con phải đúng như ngành nghề kinh doanh của công ty mẹ. Vì vậy
dẫn đến tình trạng cấp giấy đăng kí kinh doanh cho công ty con hoạt động trong mô
hình công ty mẹ - công ty con ở một số sở kế hoạch và đầu tư còn lúng túng làm
chậm hoặc cấp phép cho doanh nghiệp chưa đúng theo qui định hiện hành.
1.3.Về mặt tài chính và tư tưởng
Nhiều doanh nghiệp (gồm cả lãnh đạo và người lao động) cũng như nhiều cấp
quản lý vẫn ngại chuyển đổi do sợ mất đi nhiều quyền lợi. Có người lại nhận thức sai
11
Website: http://www.docs.vn Email : [email protected] Tel (: 0918.775.368
về chuyển đổi cho rằng việc việc chuyển đổi hình thức sở hữu sẽ dẫn đến mất chế độ,
chệch hướng XHCN…Có tình trạng phân biệt đối xử giữa các doanh nghiệp Nhà
nước và các doanh nghiệp đã Cổ phần hoá nhất là tại các tổ chức tín dụng ngân hàng.
Việc tìm đối tác liên doanh, liên kết ở các công ty cổ phần cũng gặp khó khăn. Doanh
nghiệp Nhà nước vẫn được ưu đãi nhiều hơn. làm ăn thua lỗ vẫn được vay không
phải trả lãi, bù lỗ từ ngân sách Nhà nước và một số ưu đãi khác. Tất cả đều tác động
lớn tới tâm lý của các doanh nghiệp chuẩn bị bước vào chuyển đổi, cổ phần hóa.
Mặt khác, nhiều giám đốc của các doanh nghiệp Nhà nước sợ rằng chuyển đổi
nghiệp hay thành phần kinh tế nào. Trên thực tế, Chính phủ dường như đi theo con
đường Cổ phần hoá các doanh nghiệp nhỏ trước, các doanh nghiệp lớn sau. Do đó, tỷ
lệ các doanh nghiệp lớn chỉ chiếm một phần nhỏ trong số các doanh nghiệp đã được
Cổ phần hoá .
Bên cạnh đó, nhiều địa phương không thực sự quan tâm đến vấn đề Cổ phần
hoá và coi đó là nhiệm vụ của các cấp ban nghành cao hơn. Sự phân quyền, hướng
dẫn và phối hợp giữa địa phương và TW chưa thực sự thông suốt cũng là những nhân
tố góp phần kéo dài quá trình CPH.
2.2. Chính quyền TW và chính quyền các cấp
Trong một thời gian dài, việc chỉ đạo,tổ chức điều hành chuyển đổi doanh
nghiệp nhà nước được tiến hành một cách rời rạc bị động. Ban đổi mới doanh nghiệp
Nhà nước không chủ động giao chỉ tiêu và chỉ đạo sát sao việc thực hiện mà ngồi đợi
các doanh nghiệp tự động đăng ký. Bản thân Ban đổi mới doanh nghiệp Nhà nước
chưa hoạt động chuyên trách, đội ngũ quá mỏng, chưa đủ trình độ và kinh nghiệm để
giải quyết các vấn đề phức tạp, lại chưa có đủ thẩm quyền chức năng để tổ chức hoạt
động phối hợp làm cho các bước thủ tục thường dây dưa kéo dài…
2.3. Xác định tiêu chí, đối tượng chuyển đổi
Tiêu chí, danh mục phân loại doanh nghiệp do Nhà nước nắm giữ 100% vốn
điều lệ chưa có tính ổn định, dài hạn dẫn tới đối tượng chuyển đổi sang công ty trách
nhiệm hữu hạn một thành viên hay thay đổi, gây khó khăn cho việc tổ chức thực hiện
chuyển đổi.
Theo quy định, việc phân loại để sắp xếp doanh nghiệp nhà nước phải căn cứ
vào tiêu chí phân loại doanh nghiệp nhà nước ban hành theo Quyết định của Thủ
tướng Chính phủ; chỉ các doanh nghiệp thuộc danh mục chuyển đổi sang công ty
trách nhiệm hữu hạn một thành viên trong Đề án tổng thể sắp xếp, đổi mới doanh
nghiệp nhà nước của các bộ ngành, địa phương, tổng công ty đã được Thủ tướng
Chính phủ phê duyệt mới được chuyển đổi thành công ty trách nhiệm hữu hạn một
thành viên. Tuy nhiên, trong giai đoạn 8 năm vừa qua (từ khi ban hành văn bản pháp
quy hướng dẫn việc chuyển đổi từ năm 2001 đến nay), đã 3 lần thay đổi tiêu chí phân
loại: Quyết định 58/2002/QĐ-TTg (ban hành năm 2002); Quyết định 155/2004/QĐ-
phòng hộ, rừng đặc dụng thuộc diện Nhà nước giữ 100% vốn, nhưng chỉ có dưới 30
tỷ đồng vốn nhà nước ở doanh nghiệp nên không đáp ứng tiêu chí về quy mô vốn quy
định tại Nghị định 95/2006/NĐ-CP dẫn đến tình trạng các Ban Đổi mới và phát triển
doanh nghiệp ở các tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương rất lúng túng trong việc sắp
xếp đối với các doanh nghiệp này; (ii) Hiện có một số lượng khá lớn các doanh
nghiệp cung ứng các sản phẩm và dịch vụ công ích, doanh nghiệp thuỷ nông, nông
lâm trường thuộc diện cổ phần hoá nhưng do đặc điểm ngành nghề không hấp dẫn
14
Website: http://www.docs.vn Email : [email protected] Tel (: 0918.775.368
các nhà đầu tư nên không thể cổ phần hoá được (ví dụ các công ty thuỷ nông nhỏ lẻ
không thể tạo thành hệ thống thuỷ nông hoặc doanh nghiệp vệ sinh môi trường hoặc
kết hợp giữa vệ sinh môi trường và cấp thoát nước ở các tỉnh miền núi hoặc các tỉnh
nghèo miền Trung, Tây nguyên không được xếp vào nhóm Nhà nước giữ 100% vốn).
Vì vậy, không thể chuyển những doanh nghiệp này sang thực hiện các hình thức cổ
phần hóa, giao hoặc bán trong khi các doanh nghiệp ngoài quốc doanh chưa đáp ứng
được yêu cầu cung ứng các sản phẩm và dịch vụ công ích đó.
Đối với 2 loại doanh nghiệp trên, các địa phương đã gặp khó khăn, lúng túng
trong việc sắp xếp, chuyển đổi công ty nhà nước, phải trình Thủ tướng Chính phủ xin
phép như những trường hợp đặc biệt.
- Tiêu chí phân loại doanh nghiệp chưa đủ cụ thể, nên gặp trở ngại trong việc đẩy
nhanh chuyển đổi doanh nghiệp sang hoạt động theo Luật Doanh nghiệp để thực hiện
chủ trương “khẩn trương chuyển các doanh nghiệp mà Nhà nước giữ 100% vốn sang
hoạt động theo chế độ công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên” của Đảng và quy
định của Luật Doanh nghiệp. Cụ thể là: các quyết định về tiêu chí phân loại doanh
nghiệp (Quyết định 155/2004/QĐ-TTg; Quyết định 38/2007/QĐ-TTg) chỉ xác định
định hướng doanh nghiệp thuộc loại Nhà nước giữ 100% vốn mà không xác định cụ
thể là phải chuyển thành công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên. Vì vậy, Nghị
định 200/2004/NĐ-CP về sắp xếp và chuyển đổi các nông lâm trường quốc doanh chỉ
cho phép các lâm trường đủ điều kiện thì chuyển thành công ty nhà nước, mà chưa đề
cập đến việc cho phép các lâm trường đáp ứng đủ điều kiện được chuyển ngay thành
xuất của các doanh nghiệp nhà nước chưa cao, còn thấp hơn của doanh nghiệp thuộc
các thành phần kinh tế khác.
Không ít doanh nghiệp nhà nước xây dựng và thực hiện kế hoạch sản xuất
kinh doanh không gắn với định hướng phát triển chung của ngành, không phù hợp
với mục tiêu, nhiệm vụ được giao và chưa xuất phát từ thị trường. Nhiều dự án đầu
tư chưa khả thi, hiệu quả đầu tư thấp, lãng phí tiền vốn, phát sinh tiêu cực, tham
nhũng, hậu quả khó khắc phục. Việc bảo toàn và phát triển vốn nhiều doanh nghiệp
thực hiện chưa tốt, tình trạng ăn vào vốn, mòn vốn, mất vốn vẫn còn. Không ít doanh
nghiệp chưa thực hiện tốt qui chế dân chủ tại doanh nghiệp nhà nước, nhất là công
khai tài chính, việc chi tiêu còn tùy tiện, lãng phí.
Các doanh nghiệp còn phải dựa khá lớn vào sự bao cấp của nhà nước. Ngân
sách nhà nước đã đầu tư trực tiếp cho các doanh nghiệp nhà nước gần 8000 tỷ đồng
hàng năm trong đó có 6482 tỷ đồng bổ sung và 1464,2 tỷ đồng cấp bù lỗ, hỗ trợ cho
các doanh nghiệp giảm bớt khó khăn về tài chính. Ngoài ra, từ năm 2000 đến nay,
nhà nước còn miễn giảm thuế 2288 tỷ đồng , xóa nợ 1088,5 tỷ đồng, cho vay tín dụng
ưu đãi 8685 tỷ đồng cho các doanh nghiệp nhà nước. Tình hình hiệu quả thấp và sức
cạnh tranh yếu vẫn còn kéo dài. Theo số liệu của Bộ tài chính tính đến tháng 12-
2003 cho thấy tỉ lệ lãi trên doanh thu tiêu thụ của doanh nghiệp nhà nước rất thấp :
16
Website: http://www.docs.vn Email : [email protected] Tel (: 0918.775.368
chỉ đạt 4,2%, trong khi đó khu vực có vốn đầu tư nhà nước là 13,6%. Tỷ lệ khu vực
doanh nghiệp nhà nước thua lỗ theo thống kê năm 2003 chiếm tới 14,7%.
1.2. Doanh nghiệp nhà nước qui mô vẫn còn nhỏ, cơ cấu còn nhiều bất hợp lý,
dàn trải, chồng chéo về ngành nghề và tổ chức quản lý
Đến tháng 5-2001 cả nước có 5655 doanh nghiệp với tổng số vốn nhà nước
khoảng 126030 tỷ đồng, bình quân mỗi doanh nghiệp 22 tỷ đồng. Số doanh nghiệp
nhà nước có vốn dưới 5 tỷ đồng chiếm tới 59,8% trong đó số doanh nghiệp có vốn
dưới 1 tỷ đồng trở xuống chiếm 18,2%( tại 14 tỉnh, loại doanh nghiệp này chiếm trên
90%, chủ yếu trong các lĩnh vực dịnh vụ thương mại, du lịch) ; số doanh nghiệp nhà
nước có vốn từ 5 tỷ đến 10 tỷ đồng chỉ chiếm 15,2% ; số doanh nghiệp có vốn trên
tiện tăng biên chế gián tiếp, lao động trực tiếp quá mức cần thiết và bộ máy quản lý
cồng kềnh làm cho năng suất lao động giảm, chi phí tăng. Mặt khác, cơ chế chính
sách hiện hành chưa làm cho doanh nghiệp chịu trách nhiệm giải quyết lao động dôi
dư. Khi doanh nghiệp chuyển sang cơ chế tự chủ, nhà nước chưa có qui định phù hợp
để doanh nghiệp nhà nước quản lý chặt chẽ lao động, trả công lao động gắn với năng
suất lao động và hiệu quả sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp, nên việc tuyển dụng
lao động ở nhiều doanh nghiệp còn tùy tiện, tiếp tục làm tăng thêm lao động vốn đã
dôi dư. Trong khi đó, các doanh nghiệp nhà nước lại rất thiếu các lao động trẻ có
trình độ chuyên môn cao, người lao động đang làm việc phần lớn chưa qua đào tạo
hoặc làm việc trái nghề nên ảnh hưởng đến năng suất lao động.
Trình độ quản lý của các doanh nghiệp nhà nước phần lớn còn yếu kém, chưa
đạt yêu cầu mà cơ chế thị trường đòi hỏi, chưa năng động, nhanh nhạy, thích ứng với
môi trường và điều kiện mới. Nhiều cán bộ quản lý chưa được đào tạo, đào tạo lại và
thường xuyên bồi dưỡng nâng cao trình độ, kỹ năng quản lý, điều hành sản xuất kinh
doanh nên không đáp ứng nhu cầu chuyên môn ; một bộ phận không nhỏ cán bộ quản
lý doanh nghiệp sa sút về phẩm chất đạo đức ; trong khi chậm chạp, chưa có cơ chế
phù hợp cho việc tuyển chọn những người có năng lực vào quản lý, điều hành doanh
nghiệp nhà nước.
1.4. Trình độ kỹ thuật, công nghệ của doanh nghiệp nhà nước còn hết sức lạc
hậu
Theo kết quả khảo sát của Bộ khoa học, công nghệ và môi trường tại nhiều
doanh nghiệp nhà nước thuộc 10 ngành( luyện kim, hóa chất, nhựa, sản xuất phân
bón, dệt may, thực phẩm, chế biến nông thủy sản, sản xuất giấy, chế biến gỗ, điện-
điện tử, cơ khí chế tạo), thì ngoài một số doanh nghiệp có trình độ công nghệ hiện đại
hoặc trung bình của thế giới và khu vực( như phát, dẫn điện ; sản xuất sợi, dệt ; thi
công xây lắp ; sản xuất vật liệu xây dựng), còn lại thì các máy móc thiết bị, dây
chuyền sản xuất của các doanh nghiệp còn lạc hậu so với thế giới từ 10 đến 20
năm( như cơ khí, sản xuất phôi), trình độ cơ khí hóa, tự động dưới 10%( chế biến
thủy sản) ; mức độ hao mòn hữu hình từ 30- 50%, thậm chí có 38% là ở dạng thanh
lý, 52% đã qua bảo dưỡng và sửa chữa. Đồng thời theo khảo sát của Viện khoa học
Việc ban hành nghị định dù chỉ là một lệnh hành chính và chuyển đổi đơn
thuần để đảm bảo mốc thời gian xong đó cũng là một quyết định tốt cho cộng đồng
doanh nghiệp vì từ thời điểm đó, môi trường hành lang pháp lý của tất cả các loại
hình doanh nghiệp sẽ cùng bằng phẳng hơn. Những lợi thế to lớn mà khối doanh
nghiệp nhà nước được hưởng, được dùng từ nay sẽ phải tính toán, cân đong, đo đếm
cùng tất cả các doanh nghiệp khác. Tuy nhiên, không hẳn khối doanh nghiệp sau khi
19
Website: http://www.docs.vn Email : [email protected] Tel (: 0918.775.368
chuyển đổi sẽ có những chuyển biến tích cực, thậm chí vẫn còn có thể xảy ra những
chuyện như thất thoát, quản trị kém… Tuy nhiên cột mốc đó là cần thiết cho cả
doanh nghiệp có hay không có động lực chuyển đổi.
Phương án chuyển sang mô hình công ty TNHH một thành viên về nguyên tắc
chỉ thay đổi điều lệ hoạt động, hình thức quản trị doanh nghiệp, xác định rõ chức
năng chủ sở hữu. Theo mô hình này, quyền của chủ sở hữu( Nhà nước) là rất lớn. Để
thực hiện tốt quyền này việc giám sát phải mạnh, song đế nay, Luật quản lý và sử
dụng vốn nhà nước chưa được ban hành, sự chồng chéo giữa chức năng quản lý vốn
và quản lý nhà nước của các cơ quan chức năng vẫn còn tồn tại. Do vậy sẽ khó lòng
tránh khỏi những sự hạn chế và chồng chéo khi Nhà nước vẫn sở hữu 100% vốn ở
các công ty TNHH một thành viên. Vấn đề quan trọng là thiết kế mô hình quản trị
công ty sau chuyển đổi trong đó Luật doanh nghiệp chỉ đóng vai trò là khung hoạt
động. Chuyển đổi khối doanh nghiệp nhà nước sẽ đồng nghĩa với việc nhà nước cần
tiếp tục cắt giảm mạnh sự chi phối của nhà nước trong nhiều lãnh vực ngành nghề
kinh doanh như hiện nay. Việc chuyển đổi có thể trước mắt chưa mang lại lợi ích cho
nền kinh tế hay chưa thể có thể lập tức tạo nên những thay đổi về chất. Do vậy với
việc đưa ra yêu cầu về mốc thời gian, nhà nước cần thực hiện giám sát việc chuyển
đổi chặt hơn, cùng với đó là chuẩn bị đánh giá, xác định giá trị của các doanh nghiệp,
phương án bán cổ phần, nâng cao hiệu quả quản trị doanh nghiệp vì đích đến cuối
cùng của thay đổi doanh nghiệp nhà nước là cổ phần hóa. Việc chuyển sang mô hình
công ty TNHH một thành viên là một bước đệm trong việc giải tỏa về mặt thời gian
công tác chuyển đổi khi luật doanh nghiệp sắp đến hạn hết hiệu lực.
thấy, doanh nghiệp hoạt động theo các quy luật kinh tế cơ bản là cách đi đúng đắn và
hợp quy luật, Trung Quốc đã thực hiện cổ phần hóa DNNN một cách sâu rộng bằng
cách xây dựng và hoàn thiện hệ thống pháp luật, hệ thống các văn bản pháp quy liên
quan đến sự vận hành của DN. Lần lựợt “Luật phá sản doanh nghiêp”, “Luật Doanh
nghiệp công nghiệp thuộc chế độ sở hữu toàn dân”, “Điều lệ chuyển đổi cơ chế kinh
doanh của các doanh nghiệp công nghiệp thuộc chế độ sở hữu toàn dân”, “Các
21
Website: http://www.docs.vn Email : [email protected] Tel (: 0918.775.368
nguyên tắc tài chính doanh nghiệp”, “Điều lệ tạm thời về quản lý phát hành và giao
dịch cổ phiếu, “Luật Lao động”, “Luật Công ty”, “Điều lệ quản lý đăng ký công ty”,
“Luật Ngân hàng nhân dân Trung Quốc”, “Luật ngân hàng thương nghiệp”, “Luật xí
nghiệp hương trấn”…, đã được ban hành và đi vào cuộc sống của doanh nghiệp.
Trong đó, hai văn bản có tầm quan trọng đặc biệt là “Luật Doanh nghiệp công nghiệp
thuộc chế độ sở hữu toàn dân” và “Luật Công ty. “Luật Doanh nghiệp công nghiệp
thuộc chế độ sở hữu toàn dân” được thông qua ngày 13/4/1998, đã quy định cụ thể về
các quyền lợi của DNNN như: Cho phép DN tự sản xuất một số sản phẩm theo yêu
cầu của thị trường; có quyền điều chỉnh vật tư được cung ứng theo kế hoạch; có
quyền từ chối các nhiệm vụ sản xuất ngoài kế hoạch của các ban, ngành; có quyền tự
tiêu thụ sản phẩm làm ra; có quyền lựa chọn đơn vị mua hàng… Có thể thấy, “Luật
Doanh nghiệp công nghiệp thuộc chế độ sở hữu toàn dân” đã đem lại cho các doanh
nghiệp nhiều quyền tự chủ hơn trong sản xuất-kinh doanh, góp phần tháo gỡ các ràng
buộc về mặt hành chính, trả doanh nghiệp về đúng với vòng quay của thị trường. Để
cụ thể hoá “Luật Doanh nghiệp công nghiệp thuộc chế độ sở hữu toàn dân”, ngày
23/7/1992, Trung Quốc đã ban hành “Điều lệ chuyển đổi cơ chế kinh doanh của các
DN công nghiệp thuộc chế độ sở hữu toàn dân” với nội dung không những tiếp tục
nâng cao quyền tự chủ cho DN, mà còn phản ánh xu thế mới trong cải cách, đó là
chuyển đổi cơ chế kinh doanh.
Năm 1997, Hội nghị Trung ương 4 khóa XV của Đảng CS Trung Quốc đã đưa
ra những luận điểm mới về cải cách thể chế kinh tế, đồng thời đề cập đến một số vấn
đề như: Quyền tài sản doanh nghiệp, quản lý điều hành doanh nghiệp, cổ phần hoá…
sút. Từ năm 1978 đến năm 1983, tỉ trọng thu nhập ngân sách của nhà nước trong toàn
bộ thu nhập quốc dân giảm từ 37,2% xuống còn 26,5%. Tình trạng đó bất lợi cho
việc nhà nước tập trung nguồn lực cho các dự án trọng điểm, cho xây dựng cơ sở hạ
tầng.
Từ năm 1983, nhằm có thu nhập ngân sách nhà nước ổn định, Trung Quốc đã
áp dụng chính sách chuyển quan hệ giữa doanh nghiệp nhà nước với chính phủ từ
phân chia lợi nhuận sang chế độ nộp thuế. Kết quả thực hiện chủ trương này là nguồn
thu nhập ngân sách nhà nước tăng ổn định, nhưng do chế độ thuế không hợp ly, một
loạt các doanh nghiệp nhà nước đã thua lỗ trong sản xuất kinh doanh.
Từ năm 1987 đến năm 1993 nhằm khuyến khích các doanh nghiệp nhà nước
năng động hơn, Chính phủ đã thực hiện chính sách” khoán kinh doanh”. Cụ thể là sau
khi hoàn thành chi tiêu nhận khoán, các doanh nghiệp được quyền sử dụng phần lợi
nhuận thặng dư. Chính sách này đã tăng thêm tính chất tự chủ của doanh nghiệp
trong sản xuất kinh doanh. Nhưng do tính phức tạp trong chế độ khoán, thu nhập
ngân sách của nhà nước một lần nữa bị giảm sút. Mặt khác, nhà nước chỉ hưởng lợi
từ các doanh nghiệp làm ăn có lãi, còn các doanh nghiệp làm ăn thua lỗ thì hoặc nhà
nước không thể quản nổi, hoặc buộc phải bù lỗ quá nhiều. Còn các doanh nghiệp thì
23
Website: http://www.docs.vn Email : [email protected] Tel (: 0918.775.368
chỉ lo sản xuất, kinh doanh kiếm lãi trước mắt mà không quan tâm đến việc tăng
cường đầu tư, đổi mới thiết bị để làm ăn lâu dài.
Có thể nói sau khi lần lượt thực hiện 3 chủ trương trên, mặc dầu có một số
tiến bộ so với thời kì kinh tế kế hoạch tập trung, nhưng Trung Quốc vẫn chưa tìm ra
được con đường chuyển đổi thực sự đưa doanh nghiệp nhà nước ra khỏi tình trạng
lạc hậu bế tắc. Năm 1992 Đại hội Đảng Cộng sản XIV chủ trương chuyển sang kinh
tế thị trường. Hội nghị Trung ương 3 khóa XIV năm 1994 đã đưa ra chủ trương “ xây
dựng chế độ xí nghiệp hiện đại”, thực hiện chế độ công ty, xác định rõ quyền sở hữu
tài sản, xác định rõ quyền hạn và trách nhiệm; phân tách chính quyền với doanh
nghiệp. Hội nghị Trung ương 5 khóa XIV Đảng cộng sản Trung Quốc năm 1996 tiến
thêm một bước đưa ra chủ trương tinh giảm để tăng hiệu quả của doanh nghiệp nhà
số vấn đề hoàn thiệt thể chế kinh tế thị trường XHCN. Nghị quyết khẳng định “ kiên
trì vai trò chủ thể của chế độ công hữu, phát huy vai trò chủ đạo của kinh tế sở hữu
nhà nước”, đồng thời chủ trương “đẩy mạnh các hình thức thực hiện có hiệu quả chế
độ công hữu, phát huy vai trò chủ đạo của kinh tế sở hữu nhà nước”. Đó là một quan
điểm lý luận mới về kinh tế thị trường XHCN nói chung và về kinh tế sở hữu nhà
nước nói riêng. Với sự chỉ đạo của lý luận đó, trong kế hoạch 5 năm lần thứ 10
(2001-2005) Trung Quốc đã có những bước tiến đáng kể trong cải cách doanh nghiệp
nhà nước, nhất là trong lĩnh vực cải cách ngân hàng thương nghiệp theo hướng xây
dựng doanh nghiệp hiện đại. Những doanh nghiệp không đáp ứng được nhu cầu của
giai đoạn mới đã được tạo điều kiện để phá sản, ngân sách nhà nước đã bỏ ra 29,1 tỉ
NDT để hỗ trợ 116 doanh nghiệp nhà nước đóng cửa.
Nhìn chung trong 25 năm qua, cải cách và phát triển doanh nghiệp nhà nước ở
Trung Quốc đã thu được những kết quả đáng khích lệ. Nhưng vấn đề tồn tại vẫn rất
lớn: So với doanh nghiệp phi công hữu, nhất là doanh nghiệp vốn ngoại, doanh
nghiệp nhà nước ở Trung Quốc vẫn yếu kém về quản lý, về tốc độ và phương thức
tăng trưởng, về sức cạnh tranh. Do vậy, chuyển đổi doanh nghiệp vẫn là một khâu
quan trọng trong cải cách thể chế kinh tế Trung Quốc trong thời gian tới.
2. Nga và các nước Đông Âu
Sau chiến tranh thế giới thứ II, một loạt các nước XHCN ở Đông Âu ra đời và
các nước này đã nhanh chóng xây dựng nền kinh tế kế hoạch tập trung theo mô hình
Xô Viết, dựa trên chế độ công hữu về tư liệu sản xuất. Công cuộc quốc hữu hóa cuối
những năm 40 và đầu những năm 50 của thế kỉ XX ở các nước Đông Âu đã hình
thành khu vực kinh tế nhà nước rộng lớn, trong đó xí nghiệp quốc doanh giữ vai trò
chủ đạo trong nền kinh tế, chiếm từ 87-97% sản xuất công nghiệp, và đóng góp tới
70% thu nhập quốc dân. Trong suốt thập kỉ 50-60 của thế kỉ XX, cơ chế kế hoạch hóa
tập trung và sự hợp tác giữa các nước XHCN có tác dụng tích cực, các nước XHCN
đã thu được những thành tựu to lớn. Bước sang thập kỉ 70, đặc biệt là thập kỉ 80, các
nước Đông Âu ngày càng gặp nhiều khó khăn và họ đã tìm kiếm nhiều biện pháp cải
tiến cơ chế quản lý theo hướng thị trường như nâng cao vai trò tự chủ của các xí
25