NHỮNG QUAN HỆ CƠ BẢN CẦN GIẢI QUYẾT ĐỂ PHÁT TRIỂN BỀN VỮNG VÙNG TRONG BỐI CẢNH HỘI NHẬP QUỐC TẾ HIỆN NAY - Pdf 30

NHỮNG QUAN HỆ CƠ BẢN CẦN GIẢI QUYẾT
ĐỂ PHÁT TRIỂN BỀN VỮNG VÙNG TRONG BỐI CẢNH
HỘI NHẬP QUỐC TẾ HIỆN NAY
Dương Văn Thịnh
Trường ĐHKHXH&NV, ĐHQG Hà Nội
1. Quan niệm về phát triển bền vững và phát triển vùng bền vững
Quan niệm về phát triển bền vững
Xã hội là một kết cấu vật chất vô cùng phức tạp. Sự phát triển của xã
hội cũng là một quá trình vận động phức tạp, bao gồm nhiều hệ thống
các mối quan hệ tác động với nhau. Trong lịch sử đã có nhiều quan niệm
về sự phát triển xã hội. Có người cho rằng phát triển xã hội là sự tăng
trưởng về kinh tế, chẳng hạn tăng quy mô của sản xuất, hoặc tăng trình
độ của lực lượng sản xuất, tăng năng suất lao động xã hội. Có người lại
cho rằng phát triển xã hội là làm cho mức thu nhập của nhân dân tăng
lên, đời sống về vật chất và tinh thần của con người tăng lên năm sau
cao hơn năm trước v.v Nhưng sự tăng về quy mô sản xuất, hay tăng
năng suất lao động xã hội vẫn có thể không làm cho đời sống về vật chất
và tinh thần của nhân dân lao động được cải thiện, bởi vì không có sự
công bằng xã hội. Mặt khác, sự tăng quy mô sản xuất có thể không duy
trì được bao lâu, chỉ tăng được trong một vài năm, sau đó lại bị chậm lại
do nhiều lý do khác nhau, thậm chí còn bị thụt lùi. Đó là sự phát triển
không đều và không toàn diện. Từ đó cần phải có quan niệm về sự phát
triển lâu bền hay vững chắc. Thế nào là sự phát triển bền lâu và vững
chắc, hay phát triển bền vững? Đây là khái niệm cần xác định. Việc hình
thành khái niệm này là kết quả của quá trình nhận thức về mối quan hệ
giữa con người và thế giới xung quanh, giữa hoạt động của con người,
của xã hội với môi trường tự nhiên.
Ban đầu, với năng lực sản xuất của con người còn thấp kém, người
ta quan niệm tự nhiên như là môi trường sống có thể cung cấp mọi thứ
178
CƠ SỞ KHOA HỌC CHO PHÁT TRIỂN VÙNG TRONG BỐI CẢNH HỘI NHẬP QUỐC TẾ CỦA VIỆT NAM

các hội nghị quốc tế về môi trường từ những năm 70 và 80 của thế kỷ
XX đã đưa ra những chương trình hành động để bảo vệ môi trường.
Năm 1972 Hội nghị quốc tế về môi trường họp tại Xtốc‑khôm (Thụy
Điển) đã nêu lên thực trạng nạn ô nhiễm môi trường và sự nguy hại của
nó đối với cuộc sống toàn nhân loại. Năm 1980, Hiệp hội quốc tế về bảo
vệ thiên nhiên và tài nguyên thiên nhiên (IUCN) đã đưa ra “Chiến lược
bảo toàn thế giới” nhằm mục tiêu phát triển bền vững và bảo vệ môi
Những quan hệ cơ bản cần giải quyết để phát triển bền vững vùng
179
trường sống. Chương trình môi trường của Liên hợp quốc (UNEP) cũng
đưa ra khái niệm phát triển bền vững với 3 nội dung: phát triển bền
vững về môi trường sinh thái; phát triển bền vững về xã hội; bước đầu
đề cập đến sự phát triển bền vững về kinh tế. Năm 1987, tại Hội nghị
quốc tế về môi trường, Ủy ban thế giới về môi trường và phát triển
(WCED) của Liên hợp quốc đã công bố “Báo cáo Tương lai của chúng
ta”, trong đó thống nhất quan niệm về phát triển bền vững: “Phát triển
bền vững là sự phát triển nhằm thỏa mãn nhu cầu của thế hệ hiện tại
mà không làm tổn hại đến khả năng thỏa mãn nhu cầu của các thế hệ
tương lai”.
Hội nghị Thượng đỉnh trái đất họp tại Ri‑ô đờ Gia‑nây‑rô (Bra‑xin)
năm 1992 đã đề ra Chương trình Nghị sự 21 về phát triển bền vững toàn
cầu (trong đó có 2.500 khuyến nghị hành động) và Hội nghị Thượng
đỉnh thế giới về phát triển bền vững họp tại Giô‑han‑ne‑xbuốc (Cộng
hòa Nam Phi) năm 2002 để đánh giá 10 năm thực hiện Chương trình
Nghị sự 21, quan niệm về sự phát triển bền vững nêu trong “Báo cáo
Tương lai của chúng ta” lại được khẳng định và cụ thể hóa thêm một số
nội dung: Phát triển bền vững là quá trình phát triển có sự kết hợp chặt
chẽ, hợp lý, hài hòa giữa 3 mặt của sự phát triển là phát triển kinh tế,
phát triển xã hội và bảo vệ môi trường nhằm thỏa mãn nhu cầu ngày
càng đa dạng của đời sống con người trong hiện tại mà không làm tổn

của các thế hệ tương lai.
5. Khoa học công nghệ là nền tảng và động lực cho công nghiệp
hóa, hiện đại hóa, thúc đẩy phát triển nhanh mạnh và bền vững
đất nước.
6. Phát triển bền vững là sự nghiệp của toàn Đảng, các cấp chính
quyền, các bộ, ngành và địa phương, của các cơ quan doanh
nghiệp, đoàn thể xã hội, các cộng đồng dân cư và mọi người dân.
7. Gắn chặt việc xây dựng nền kinh tế độc lập tự chủ với chủ động
hội nhập kinh tế quốc tế để phát triển bền vững đất nước.
8. Kết hợp chặt chẽ giữa phát triển kinh tế, phát triển xã hội và bảo
vệ môi trường với đảm bảo quốc phòng, an ninh và trật tự an
toàn xã hội”
1
.
Chương trình nghị sự 21 của Việt Nam về phát triển bền vững với
những nội dung cơ bản trên đây thể hiện quan điểm của Đảng về phát
triển bền vững nói chung và phát triển bền vững vùng khi đặt sự phát
triển của Việt Nam trong hệ thống các mối quan hệ trong nước và quan
hệ quốc tế.
1. Trần Nguyễn Tuyên (2006), Phát triển bền vững – Kinh nghiệm quốc tế và định
hướng của Việt Nam, Tạp chí Lý luận chính trị, Số 2, tr.46.
Những quan hệ cơ bản cần giải quyết để phát triển bền vững vùng
181
Phát triển vùng bền vững là gì?
Theo từ điển Tiếng Việt, vùng là khái niệm để chỉ một phần đất đai,
hay nói chung là một phần không gian tương đối rộng, có những đặc
điểm nhất định về tự nhiên hoặc xã hội, phân biệt với các không gian
khác ở xung quanh. Thí dụ vùng biển là một bộ phận không gian nhất
định trên biển, khác với vùng núi cao, hay vùng đồng bằng, vùng trung
du. Căn cứ vào đặc điểm về tự nhiên hoặc đặc điểm về xã hội mà người

nhiều thách thức khó khăn. Vấn đề đặt ra ở đây là phải phát triển vùng
như thế nào để có thể phát huy được thế mạnh, tiềm năng của vùng và
duy trì sự phát triển đó một cách bền vững. Tiềm năng của vùng là
những đặc điểm vốn có, có thể bắt nguồn từ điều kiện tự nhiên, có thể
do sự phát triển lịch sử, xã hội lâu đời tạo nên. Tuy nhiên tiềm năng đó
được thực hiện trên thực tế như thế nào lại tùy thuộc vào trình độ phát
triển chung của xã hội, nhất là trình độ phát triển của khoa học, công
nghệ và sự ứng dụng khoa học, công nghệ vào sản xuất. Thí dụ vùng
biển trước đây, khi chưa có công nghệ đóng tàu, chưa có công nghệ
khoan thăm dò và khai thác dầu khí dưới đáy đại dương, thì những tiềm
năng của biển còn chưa bộc lộ ra, ý nghĩa của vùng biển đối với đời sống
kinh tế xã hội của quốc gia, dân tộc không lớn lắm. Nhưng khi khoa học
công nghệ đã phát triển cho phép khai thác được các nguồn lợi của biển,
tức các tiềm năng của biển được thể hiện ra, thì vùng biển có ý nghĩa
đặc biệt quan trọng đối với đời sống kinh tế, xã hội của mỗi quốc gia
dân tộc và cả quốc tế. Chính vì vậy hiện nay vấn đề xác định chủ quyền
của các quốc gia trên các vùng biển trở thành vấn đề thời sự trong quan
hệ giữa các quốc gia trên thế giới. Hoặc đối với những vùng hoang mạc
cũng vậy, khi trình độ khoa học công nghệ chưa cho phép thì dường
như nó không có tiềm năng gì, chỉ là vùng khô cằn, biểu tượng của sự
chết chóc, nhưng khi khoa học công nghệ cho phép khai thác được các
nguồn lợi trên đó, chẳng hạn đưa được nước về vùng hoang mạc cùng
với việc nuôi trồng các giống cây, con vật thích hợp, hoặc người ta có
thể xây dựng các nhà máy (điện nguyên tử chẳng hạn) trên vùng hoang
mạc, tức những tiềm năng vốn có của nó được thể hiện ra, thì hoang
mạc lại trở nên có ý nghĩa vô cùng to lớn đối với quốc gia và quốc tế.
Vậy xem xét sự phát triển vùng cũng như sự phát triển bền vững của
vùng cần phải xem xét toàn diện nhiều mặt, phải xem xét vùng trong
sự vận động phát triển trong tiến trình lịch sử, phải đặt sự phát triển
vùng trong quan hệ tổng thể của quốc gia và quốc tế.

khái niệm nêu trong Chương trình Nghị sự 21 về phát triển bền vững
toàn cầu) phải trở thành quan điểm chiến lược chung để xây dựng kế
hoạch phát triển kinh tế ‑ xã hội của Việt Nam; Chương trình Nghị sự
21 của Việt Nam là một kế hoạch chung để thiết kế các chương trình
hành động, để phối hợp hành động của các bộ, ngành, từ trung ương
đến các địa phương, các tố chức và cá nhân nhằm đạt đến sự phát triển
bền vững ở Việt Nam trong thế kỷ XXI.
Nhận thức về phát triển vùng cũng được thay đổi và phát triển theo
tinh thần Chương trình Nghị sự 21 của Việt Nam. Nghị quyết Đại hội
đại biểu toàn quốc lần thứ X viết: “Bằng chính sách thích hợp tạo điều
kiện cho tất cả các vùng trong cả nước phát triển nhanh hơn trên cơ sở
phát huy lợi thế so sánh, hình thành cơ cấu kinh tế hợp lý của mỗi vùng
và liên vùng; đồng thời, tạo ra sự liên kết giữa các vùng nhằm đem lại
184
Dương Văn Thịnh
hiệu quả cao, phát triển nhanh và ổn định, có sức cạnh tranh, khắc phục
tình trạng chia cắt, khép kín theo địa giới hành chính”
1
. Văn kiện còn
viết: “Phát huy thế mạnh của mỗi vùng trọng điểm để các vùng này
đóng góp ngày càng lớn cho sự phát triển chung của cả nước và trợ giúp
các vùng khó khăn, có năng lực hội nhập kinh tế quốc tế với quy mô lớn
và trình độ cao.
Có chính sách trợ giúp nhiều hơn về nguồn lực để phát triển các
vùng khó khăn, nhất là các vùng sâu, vùng xa, biên giới, hải đảo, vùng
đồng bào dân tộc thiểu số”.
2
Nghị quyết của Đại hội Đảng trên đây đã được cụ thể hoá bằng việc
Đảng và Nhà nước đã ban hành nhiều chủ trương, chính sách về phát
triển kinh tế‑xã hội của cả nước, xây dựng nhiều chương trình về phát

cầu lương thực cho nhân dân, có dự trữ và bắt đầu xuất khẩu. Đến nay
trung bình mỗi năm nước ta xuất khẩu khoảng 4 triệu tấn gạo, đứng thứ
nhì thế giới, sau Thái Lan”
1
. Mức độ tăng GDP khá cao, giai đoạn 1991
‑ 1995 trung bình đạt 8,2%/năm, giai đoạn 1996 – 2000 đạt 7,5%/năm,
giai đoạn 2000 – 2005 đạt gần 7,5%/năm. Năm 2006 đạt 8,17%; năm 2008
mặc dù chịu ảnh hưởng của cuộc khủng hoảng kinh tế thế giới nhưng
GDP của chúng ta vẫn tăng 6,18% so với năm 2007. Quý I năm 2009 mức
tăng đạt 3,1% so cùng kỳ năm 2008
2
. “Mức thu nhập bình quân đầu
người có xu hướng tăng, đạt bình quân trên 12%/năm”
3
; “tỷ lệ hộ nghèo
giảm nhanh từ 17,5% năm 2005 xuống còn khoảng dưới 7% năm 2005,
bình quân mỗi năm giảm trên 2% hộ nghèo; riêng năm 2006 giảm 3%
hộ nghèo (theo chuẩn mới)”
4
.
Sự phân hóa vùng trên các phương diện kinh tế, giáo dục, bảo vệ sức
khỏe có tăng nhưng không lớn lắm. Sau 20 năm Đổi mới, chuyển sang
nền kinh tế thị trường định hướng Xã hội chủ nghĩa, thu nhập quốc dân
theo đầu người bình quân cả nước tăng từ 140 USD lên 830 USD (2007),
tức tăng 5,9 lần “nhưng mức độ tăng của các vùng không đều từ hơn 2
lần đến 7‑8 lần. Cụ thể, các vùng tăng thấp (2 lần) là Tây Bắc, Đông Bắc,
Bắc Trung Bộ; các vùng tăng cao (7‑8 lần) là Đông Nam Bộ, đồng bằng
Bắc Bộ, đồng bằng sông Cửu Long. Khoảng cách thu nhập thực tế của
người dân giữa vùng có mức thu nhập cao nhất (Đông Nam Bộ) với
vùng có thu nhập thấp nhất (Tây Bắc) cũng không lớn lắm”

nước ngoài, do vậy giá trị thực tế thu được không nhiều.
Thứ hai, chưa có quy hoạch phát triển tổng thể về kinh tế, xã hội
trong thời gian dài trên quy mô cả nước và từng khu vực. Các khu công
nghiệp, khu đô thị, kết cấu hạ tầng xây dựng không đồng bộ giữa các
ngành và các địa phương, mang tính chất chắp vá, cục bộ, chạy theo lợi
ích trước mắt, chưa xét đến hiệu quả kinh tế lâu dài và lợi ích toàn cục.
Mỗi tỉnh dường như là một “quốc gia” riêng. Tỉnh nào cũng có thể xây
dựng nhà máy bia, nhà máy xi măng, mặc dù điều kiện xây dựng không
thuận lợi, hiệu quả kinh tế không cao. Các địa phương ra sức lập, duyệt
dự án xây dựng sân gôn, sân bay, nhà ở, chợ v.v. nhưng không tính đến
hiệu quá kinh tế. Nhiều dự án cốt để chiếm đất, để sử dụng vào các mục
đích khác. Nhiều dự án chuyển nhượng nhiều lần, có dự án không thực
hiện được, hoặc thực hiện xong, sau khi nghiệm thu lại không vận hành
sử dụng được, gây lãng phí, thiệt hại rất nhiều tiền của, công sức của
nhân dân và Nhà nước.
Thứ ba, sự tàn phá môi trường tự nhiên rất nghiêm trọng, chưa cân
đối giữa phát triển kinh tế‑xã hội với bảo vệ phát triển môi trường tự
nhiên và các tài sản văn hóa dân tộc. Chưa có những số liệu thống kê cụ
Những quan hệ cơ bản cần giải quyết để phát triển bền vững vùng
187
về sự tàn phá môi trường tự nhiên do tăng trưởng kinh tế đơn thuần,
nhưng chúng ta có thể dễ dàng nhận thấy sự tàn phá rừng nghiêm trọng
đến mức nào. Không chỉ những khu rừng tái sinh mà cả những khu rừng
nguyên sinh rất quý hiếm, không chỉ những những khu rừng ngập mặn
ven biển mà cả những khu rừng đầu nguồn đều bị tàn phá nghiêm
trọng. Điều đó đã làm thay đổi môi trường sinh thái, mất cân bằng hệ
sinh thái động thực vật và điều kiện khí hậu, dễ đưa đến các thiên tai
như lũ quét, lũ ống, sạt lở đất v.v Tình trạng ô nhiễm môi trường nước,
như ô nhiễm con sông Thị Vải ở Đồng Nai, các con sông ở Hà Nội, sông
Cầu v.v.; môi trường không khí ở Hà Nội, Thành phố Hồ Chí Minh và

kiện xâm nhập vào Việt Nam, kết hợp với các lực lượng trong nước, tạo
nên một lực lượng đối lập, phá hoại khối đoàn kết toàn dân, sẽ gây cho
chúng ta nhiều khó khăn hơn.
Từ tình hình trên đây, để phát triển bền vững vùng cần giải quyết
các quan hệ cơ bản sau:
1. Quan hệ giữa bộ phận và toàn thể, giữa vùng, địa phương và toàn
cục, cả nước, trung ương; Vừa ưu tiên cho lợi ích chung tổng thể
cả nước đồng thời đảm bảo lợi ích của từng vùng, từng địa
phương.
2. Quan hệ giữa tăng trưởng kinh tế và bảo vệ môi trường tự nhiên.
Tăng trưởng kinh tế trên cơ sở đảm bảo giữ gìn và phát triển môi
trường tự nhiên, không phá vỡ sự cân bằng sinh thái, nhất là môi
trường nước và không khí.
3. Quan hệ giữa lợi ích trước mắt và lợi ích lâu dài của con người.
Không hy sinh lợi ích lâu dài vì lợi ích trước mắt hoặc ngược lại.
4. Quan hệ giữa thực hiện công bằng xã hội và phát triển kinh tế xã
hội. Không tăng trưởng kinh tế một cách đơn thuần, gây nên sự
chênh lệch quá lớn về mức thu nhập và chất lượng sống giữa các
tầng lớp xã hội làm mâu thuẫn xã hội gia tăng, ảnh hưởng không
tốt đến an ninh chính trị, trật tự, an toàn xã hội.
5. Phòng và chống các tệ nạn xã hội, đặc biệt là tệ tham nhũng.
Đó là những mối quan hệ cơ bản để phát triển bền vững vùng trong
bối cảnh hiện nay.
Những vấn đề trên đây cần phân tích sâu hơn, nhưng trong khuôn
khổ bài báo này tác giả chưa có điều kiện trình bày được chi tiết.
Những quan hệ cơ bản cần giải quyết để phát triển bền vững vùng
189


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status