ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƢỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
TRẦN MẠNH CƢƠNG
VAI TRÒ CỦA ĐOÀN THANH NIÊN TRONG
GIÁO DỤC KỸ NĂNG SỐNG CHO SINH VIÊN
(Nghiên cứu trường hợp trường Đại học Công đoàn)
LUẬN VĂN THẠC SỸ XÃ HỘI HỌC
Hà Nội - 2014
2
ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƢỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
hướng dẫn tôi trong suốt quá trình làm luận văn.
Tôi xin gửi lời cảm ơn tới các đồng chí cán bộ, đoàn viên sinh viên
Trường Đại học Công đoàn đã cộng tác, cung cấp số liệu giúp tôi hoàn
thành luận văn này.
Cuối cùng, xin được cảm ơn gia đình, bạn bè, đồng nghiệp đã luôn
ủng hộ, động viên giúp đỡ tôi.
Do khả năng nghiên cứu còn hạn chế, chắc chắn đề tài còn nhiều
thiếu sót. Rất mong thầy cô và các bạn đóng góp ý kiến để luận văn này
hoàn thiện hơn.
Xin trân trọng cảm ơn!
Tác giả nghiên cứu
Trần Mạnh Cƣơng
1
MỤC LỤC
MỞ ĐẦU
7
1. Lý do lựa chọn đề tài
7
2. Tổng quan vấn đề nghiên cứu
9
3. Ý nghĩa khoa học và ý nghĩa thực tiễn
12
3.1. Ý nghĩa khoa học
12
3.2. Ý nghĩa thực tiễn
13
4. Mục đích, nhiệm vụ nghiên cứu
13
1.1.1. Khái niệm “vai trò”
21
1.1.2. Khái niệm "sinh viên"
21
1.1.3. Khái niệm “nhận thức”
22
1.1.4. Khái niệm “kỹ năng sống”
23
2
1.1.5. Khái niệm “giáo dục”
23
1.1.6. Khái niệm Giáo dục kỹ năng sống
25
1.1.7. Khái niệm “Đoàn Thanh niên Cộng sản Hồ Chí Minh”
26
1.2. Các lý thuyết lựa chọn
26
1.2.1. Lý thuyết hành động xã hội
26
1.2.2. Lý thuyết Xã hội hóa cá nhân
27
1.2.3. Lý thuyết nhu cầu
29
1.2.4. Lý thuyết vai trò
30
1.3. Quan điểm của Đoàn Thanh niên Cộng sản Hồ Chí Minh về
nhiệm vụ, vai trò giáo dục kỹ năng sống cho thanh niên
31
1.4. Đặc điểm địa bàn nghiên cứu
2.3.2. Đánh giá mức độ tham gia và hiệu quả giáo dục kỹ năng
sống trong các hoạt động tình nguyện của Đoàn Thanh niên trường
63
2.3.3. Đánh giá mức độ tham gia và hiệu quả giáo dục kỹ năng
sống trong các hoạt động của các Câu lạc bộ, đội nhóm
67
2.4. Những mong muốn của sinh viên về các hoạt động của đoàn
trong thời gian tới……………………………………………………
72
2.4.1. Mong muốn của sinh viên về nội dung tổ chức giáo dục kỹ
năng sống
72
2.4.2. Mong muốn của sinh viên về hình thức tổ chức giáo dục kỹ
năng sống
73
2.4.3. Mong muốn của sinh viên về thời điểm tổ chức hoạt động
giáo dục kỹ năng sống
76
CHƢƠNG 3: MỘT SỐ NHÂN TỐ TÁC ĐỘNG ĐẾN HOẠT
ĐỘNG GIÁO DỤC KỸ NĂNG SỐNG CỦA ĐOÀN
78
3.1. Sự quan tâm của Đảng ủy, Ban Giám hiệu
78
3.2. Việc học tập chính khóa trong điều kiện đào tạo tín chỉ…….
79
3.3. Hiệu quả truyền thông các chương trình hoạt động
80
3.4. Năng lực, kinh nghiệm của đội ngũ cán bộ đoàn
83
3.5. Sự phối hợp với các tổ chức, các đoàn thể khác
Nhà xuất bản
PVS
Phỏng vấn sâu
SV
Sinh viên
STT
Số thứ tự
TDTT
Thể dục thể thao
THPT
Trung học phổ thong
TNCS
Thanh niên cộng sản
TUU
Trade Union University
Trường Đại học Công đoàn
TN
UNESCO Thanh niên
United Nations Educational Scientific and
Cultural Organization
Tổ chức Giáo dục, Khoa học và Văn hóa của
Liên hiệp quốc
UNICEFT
United Nations Children's Emergency
Fund Quỹ cứu trợ nhi đồng Liên hợp quốc
VHVN
Văn hóa văn nghệ
6
DANH MỤC BIỂU
Biểu 2.1. Nguồn tiếp thu giáo dục KNS qua ý kiến của sinh viên 43
Biểu 2.2. Lý do SV tham gia hoạt động phong trào 50
Biểu 2.3. Đánh giá của SV về hiệu quả giáo dục KNS của Đoàn trường
trong thời gian vừa qua 54
Biểu 2.4. Động cơ khiến SV cảm thấy các hoạt động của Đoàn thú vị 75
niên, nhất là nhóm thanh niên có tri thức như học sinh, sinh viên. Yêu cầu
của việc đào tạo nguồn nhân lực này là sự giáo dục có tính toàn diện đối
với người học, tức là chương trình đào tạo không chỉ chú trọng đến việc
trang bị kiến thức chuyên môn, tay nghề mà còn được chú trọng giáo dục
về nhân cách và kỹ năng sống.
Tuy nhiên, thực tiễn xã hội nước ta cho thấy những biểu hiện xuống
cấp về lối sống của một bộ phận không nhỏ thanh niên đang ngày càng trở
nên phổ biến. Những biểu hiện như: sống buông thả, thiếu hoài bão, thiếu
trách nhiệm với bản thân và gia đình, trọng tiêu dùng hưởng thụ, khả năng
thích ứng kém, tỷ lệ nạo phá thai ở lứa tuổi thanh thiếu niên cao, hiện
tượng tiêm chích ma túy, bạo lực học đường, tự tử không phải là hiếm
gặp trên các phương tiện truyền thông đại chúng. Tỷ lệ vi phạm pháp luật ở
thanh thiếu niên ngày càng gia tăng không chỉ ngoài xã hội mà còn xâm
nhập vào tận trường học cho thấy đã đến lúc cần kiểm chứng lại việc giáo
dục kỹ năng cho người trẻ nói chung và học sinh, sinh viên nói riêng.
Trong khi đó, chương trình giáo dục đại học ở Việt Nam hiện nay
tuy đã có những đổi mới nhất định song phần lớn chỉ tập trung vào việc
cung cấp kiến thức với khối lượng lớn mà ít chú trọng đến việc đào tạo về
8
kỹ năng cho người học. Đứng trước thực tế đó, SV phải tự thân tích lũy kỹ
năng một cách thụ động và thiếu bài bản; những trải nghiệm thực tiễn khi
trang bị kỹ năng chưa đầy đủ dễ dẫn đến việc phải đối mặt với nguy cơ rủi
ro cao, dễ bị lợi dụng, thua thiệt, thậm chí là vi phạm pháp luật.
Ở trường Đại học Công đoàn, SV cũng có những biểu hiện của việc
thiếu hụt KNS như: giữ gìn vệ sinh công cộng, việc ăn mặc khi đến trường,
việc ứng xử với những người xung quanh đến những vấn đề quan trọng
hơn như: quản lý thời gian, tinh thần tự giác học tập, lối sống trọng tiêu
dùng hưởng thụ, vi phạm quy chế thi hay tình trạng nhiều SV ra trường với
tấm bằng loại ưu nhưng vẫn bị các nhà tuyển dụng lắc đầu với lý do ứng xử
giáo dục KNS cho SV lại là một vấn đề thực tiễn đặt ra. Vì vậy, tôi lựa
chọn đề tài: “Vai trò của Đoàn thanh niên trong giáo dục kỹ năng sống
cho sinh viên” (qua khảo sát tại trường Đại học Công đoàn) để góp phần
làm sáng tỏ những vấn đề trên.
2. Tổng quan vấn đề nghiên cứu:
Ở ngoài nước, vào cuối những năm 1960, KNS được một số nhà tâm
thần học thực hành đề cập đến. Tiếp đó là những nghiên cứu ứng dụng đưa
giáo dục KNS vào nhà trường như: Ở Mỹ, Gillbert Botvin (1979) đã công
bố chương trình đào tạo KNS có hiệu quả cao cho thanh thiếu niên từ lớp 7
tới lớp 9, tại Mỹ Latinh (Costa Rica – 1996), hội thảo thông qua giáo dục
sức khỏe thông qua giáo dục KNS trong các trường học được tổ chức; Ở
Châu Á, chương trình giáo dục KNS được triển khai rộng khắp do có sự tài
trợ của các tổ chức quốc tế, đặc biệt là UNICEF, UNESCO. [14].
Ở trong nước, thuật ngữ “kỹ năng sống” bắt đầu được biết đến ở
Việt Nam qua các dự án của UNICEF với Bộ Giáo dục đào tạo cùng Hội
chữ thập đỏ Việt Nam qua các chương trình bảo vệ sức khỏe và phòng
chống HIV/AIDS cho thanh thiếu niên từ những năm 1995 – 1996. Năm
2003 – 2004, Viện khoa học giáo dục Việt Nam đã trình bày một cách tổng
10
quan về nhận thức, thực trạng và định hướng giáo dục KNS ở Việt Nam.
Hiện nay, trước những biểu hiện lệch lạc về lối sống của thanh niên, vấn đề
KNS cũng như giáo dục KNS đã có nhiều tác giả trong nước quan tâm
nghiên cứu trên nhiều bình diện, nhiều lĩnh vực và mức độ khác nhau.
Cùng chủ đề này có nghiên cứu Giáo dục lối sống mới cho sinh viên
Cao đẳng công nghiệp Thái Nguyên trong giai đoạn hiện nay của tác giả
Lâm Thị Yên (2009). Công trình đã làm rõ khái niệm lối sống và vai trò
của giáo dục lối sống đối với sự hình thành nhân cách cho SV nói chung và
SV ở trường cao đẳng công nghiệp Thái Nguyên nói riêng. Nghiên cứu,
đánh giá thực trạng giáo dục lối sống cho sinh viên nhà trường trong những
qua gia đình. Xác định các yếu tố ảnh hưởng đến quá trình giáo dục kỹ
năng giao tiếp và làm chủ cảm xuc trong quá trình giao tiếp với trẻ vị thành
niên thông qua gia đình tại địa bàn nghiên cứu. Như vậy, mặc dù đề tài
nghiên cứu vấn đề xã hội nhưng lại tập trung nghiên cứu tâm lý, hành vi
trong giáo dục KNS, đề tài cũng giới hạn nghiên cứu KNS ở việc tập trung
vào kỹ năng giao tiếp. [28]
Các công trình nghiên cứu của Đoàn TN về kỹ năng xã hội nói
chung gần đây có công trình nghiên cứu của Viên nghiên cứu thanh niên
(trực thuộc Trung ương Đoàn) về giáo dục kỹ năng xã hội cho đoàn viên
thanh niên (năm 2010) tại một số trường đại học cao đẳng, trong đó có
khảo sát trường Đại học Công đoàn. Bằng cách so sánh hiểu biết, đánh giá
của người được phỏng vấn về kỹ năng xã hội, kỹ năng sống, kỹ năng làm
việc, dự án đã đánh giá được nhận thức của thanh niên, sinh viên nói chung
về kỹ năng xã hội, đồng thời tìm hiểu những kỳ vọng của sinh viên trong
việc được tiếp cận đối với kỹ năng xã hội và đưa ra các giải pháp phù hợp.
Ngoài ra còn rất nhiều các bài báo, tạp chí, hội thảo, hay chuyên đề
thảo luận của các tổ chức, các trung tâm đào tạo, các nhà nghiên cứu liên
quan đến vấn đề đào tạo kỹ năng cho thanh thiếu niên. Tuy nhiên các công
12
trình nghiên cứu quan tâm nhiều đến các quan điểm về giáo dục KNS cho
trẻ vị thành niên, về các kỹ năng cần thiết trang bị cho thanh niên hay hiệu
quả giáo dục kỹ năng sống tại các trường phổ thông, nghiên cứu áp dụng
các kỹ năng cụ thể với từng đối tượng…
Thực tế, các nghiên cứu về nhận thức của SV về KNS hiện nay đặt
trong đánh giá hiệu quả hoạt động giáo dục, định hướng kỹ năng của tổ
chức Đoàn Thanh niên thì lại chưa có nhiều, nhất là tổ chức đoàn tại các
trường đại học cao đẳng như nghiên cứu trường hợp cụ thể tại trường Đại
học Công đoàn. Đề tài của tác giả sẽ góp phần đưa ra hướng nghiên cứu
mới, cách tiếp cận mới về vai trò của tổ chức đoàn thể trong trường đại học
thông qua việc đánh giá mức độ tham gia của SV và hiệu quả các hoạt
động để từ đó có những khuyến nghị về giải pháp nâng cao vai trò của
Đoàn TN trong các hoạt động nói chung và các hoạt động giáo dục KNS
nói riêng.
4.2. Nhiệm vụ nghiên cứu
Tìm hiểu nhận thức của sinh viên về KNS, về giáo dục KNS.
Đánh giá mức độ tham gia của SV vào các hoạt động giáo dục KNS.
Đánh giá về hiệu quả các hoạt động giáo dục KNS do Đoàn tổ chức.
Phân tích một số nhân tố tác động đến hoạt động giáo dục KNS
thông qua các hoạt động của Đoàn trường Đại học Công đoàn.
Tìm hiểu những mong muốn tiếp theo của SV để đưa ra khuyến nghị
phù hợp.
5. Đối tƣợng, khách thể, phạm vi nghiên cứu
5.1. Đối tượng nghiên cứu
Vai trò của Đoàn Thanh niên trong giáo dục KNS cho sinh viên.
5.2. Khách thể nghiên cứu
- Đoàn TNCS Hồ Chí Minh trường Đại học Công đoàn.
14
- Sinh viên năm thứ 2, năm thứ 3 và năm thứ 4 đang theo học hệ
chính quy tập trung tại trường Đại học Công đoàn.
- Sinh viên là cán bộ đoàn (không phải SV năm thứ 1) và một số cán
bộ giảng viên trẻ.
5.3. Phạm vi nghiên cứu
Phạm vi nghiên cứu của đề tài tập trung vào các nội dung sau:
- Nhận thức của sinh viên về KNS, về giáo dục KNS.
- Khảo sát tính hiệu quả của các hoạt động giáo dục KNS của Đoàn
Thanh niên hiện nay thông qua chỉ báo mức độ tham gia, hiệu quả cũng
như mong muốn tiếp theo của SV
- Về không gian: khảo sát tại Trường Đại học Công đoàn
hiện tượng đó trong một hoàn cảnh cụ thể.
- Phương pháp luận của chủ nghĩa duy vật biện chứng cho rằng các
sự vật, hiện tượng đều nằm trong một quá trình tương tác với nhau, có mối
liên hệ, ảnh hưởng, ràng buộc nhau và không tách rời nhau. Đồng thời
phương pháp biện chứng cũng nhìn nhận sự vật, hiện tượng luôn trong
trạng thái biến đổi không ngừng, nằm trong khuynh hướng chung là sự
phát triển. Đây là quá trình thay đổi về chất của các sự vật, hiện tượng mà
nguồn gốc của sự thay đổi ấy là đấu tranh giữa các mặt đối lập để giải
quyết mâu thuẫn nội tại của chúng.
Khi nghiên cứu vai trò của Đoàn Thanh niên trong việc giáo dục
KNS cho sinh viên thì phải nghiên cứu trong một bối cảnh cụ thể, đó là:
đất nước chúng ta đang trong thời kỳ công nghiệp hóa, hiện đại hóa và hội
nhập sâu sắc với quốc tế, song đại bộ phận dân cư chỉ có thu nhập trung
bình hoặc cận nghèo, điều đó ảnh hưởng trực tiếp trình độ dân trí hay mức
độ đầu tư về giáo dục cho thanh thiếu niên. Bên cạnh đó, những tác động
của công nghệ thông tin, của mạng Internet, của mạng xã hội đối với thanh
niên, sinh viên hay sự thay đổi mạnh mẽ về giáo dục ở nước ta hiện nay,
16
đặc biệt là giáo dục đại học như nâng cao chất lượng đào tạo để đáp ứng
nhu cầu thị trường, sự chuyển đổi sang đào tạo theo học chế tín chỉ, sự tự
chủ của các trường đại học cao đẳng đã kéo theo nhiều hệ quả và những
vấn đề mới đặt ra đối với thanh niên, sinh viên.
Chính từ bối cảnh xã hội đó, tổ chức Đoàn TNCS Hồ Chí Minh cũng
cần xác định rõ những yêu cầu mới, những thách thức mới và cũng là
những vận hội mới đối với lực lượng mà mình là người đại diện, được
Đảng và Nhà nước giao phó. Đó là các vấn đề về việc tập hợp, động viên
đoàn viên thanh niên tham gia phong trào hay công tác giáo dục của đoàn,
trong đó có vai trò giáo dục KNS cho thanh niên, SV tại các trường đại học
cao đẳng.
cuộc phỏng vấn, trong cách sắp xếp và diễn đạt, cách đặt câu hỏi.
Mục đích phỏng vấn: Phỏng vấn những người có liên quan như cán
bộ đoàn chủ chốt, cán bộ đoàn tại các lớp, các Câu lạc bộ đội nhóm và SV
để tìm hiểu nhận thức, nhu cầu về KNS và đánh giá của sinh viên về giáo
dục kỹ năng sống của Đoàn Thanh niên.
Bảng 1.1. Bảng đặc điểm mẫu phỏng vấn sâu:
STT
Đối tƣợng
Số lƣợng
1.
Sinh viên là cán bộ đoàn
03
2.
Sinh viên là đoàn viên thanh niên
05
3.
Cán bộ hoặc giảng viên trẻ là cán bộ đoàn
01
4.
Cán bộ hoặc giảng viên trẻ là đoàn viên TN
01
Cộng:
10
8.2.4. Phương pháp trưng cầu ý kiến
Là phương pháp mà nhà nghiên cứu sẽ tiến hành thu thập thông tin
qua phiếu trưng cầu ý kiến đã được chuẩn bị sẵn, đầy đủ những chi tiết và
18
câu hỏi rồi phát cho sinh viên được trưng cầu theo một phương án phát
19
Bảng 1.2. Phƣơng án phân bổ phiếu trƣng cầu ý kiến
Bảng 1.3. Đặc điểm mẫu nghiên cứu
Đặc điểm
Nội dung
Số lƣợng
Giới tính
Nam
66
Nữ
134
Khoa ngành
Quản trị kinh doanh
28
Tài chính Ngân hàng
36
Kế toán
33
Bảo hộ lao động
24
Quản trị nhân lực
18
Xã hội học
24
Công tác xã hội
18
Luật
18
Cƣ trú
121
Quản trị kinh doanh
28
14
2
Tài chính Ngân hàng
36
12
3
Kế toán
33
11
3
Bảo hộ lao động
24
8
3
Xã hội
79
Quản trị nhân lực
18
6
3
Xã hội học
24
8
3
Công tác xã hội
18
6
NHẬN THỨC
CỦA SINH VIÊN
Một số nhân tố tác
động đến hoạt động
giáo dục KNS
TRƢỜNG ĐẠI HỌC
CÔNG ĐOÀN
Đánh giá
của SV
về hiệu
quả giáo
dục
KNS
trong
các hoạt
động của
Đoàn
TN
Mức
độ
tham
gia các
“Vai trò là mô hình hành vi mà xã hội trông đợi ở vị trí tương ứng
với vị trí nhất định mà cá nhân, nhóm nắm giữ”. [18, Tr. 51].
Mỗi tổ chức, nhóm hay cá nhân tồn tại trong xã hội đều có được
(hoặc giữ) những vị thế nhất định, ở những vị trí đó được gắn tương ứng
các chức năng để thực hiện tốt nhiệm vụ, đó gọi là vai trò. Như là người
giảng dạy được gắn vị thế là giảng viên và phải có chức năng truyền thụ
kiến thức cho người học. Trong đề tài nghiên cứu này, vai trò được đề cập
đến là vai trò của tổ chức Đoàn TNCS Hồ Chí Minh trong việc giáo dục
KNS cho SV. Theo đó, việc phân tích vai trò này cần làm rõ vị thế của tổ
chức đoàn trong hệ thống chính trị, trong hệ thống quản lý, trong nhận thức
của SV; cũng cần làm rõ chức năng giáo dục nói chung và giáo dục KNS
nói riêng của tổ chức đoàn đối với đoàn viên thanh niên. Việc xác định vị
trí và xác định việc thực hiện chức năng đó tốt hay chưa tốt sẽ giúp làm rõ
mục đích nghiên cứu của công trình này.
1.1.2. Khái niệm “sinh viên”
Thuật ngữ sinh viên có nguồn gốc từ tiếng La-tinh “student” có
nghĩa là người học tập nhiệt tình, hăng say, người tìm kiếm khai thác tri
thức, khám phá kho tàng tri thức.
Sinh viên là những người theo học ở bậc đại học, cao đẳng để phân
biệt với học sinh phổ thông.
Sinh viên đại diện cho một nhóm xã hội trẻ tuổi đang trong quá trình
xã hội hóa, chuẩn bị để trở thành những nhân cách hoàn thiện và kiến thức
chuyên môn nhất định. Sinh viên thường ở tuổi thanh niên, lứa tuổi có
những bước ngoặt quan trọng trong sự phát triển tâm sinh lý của con
22
người. Điều đó thể hiện trong sự trưởng thành về thể chất, trong sự biến
đổi và phát triển tri thức khoa học.
Trong đề tài này, khái niệm SV ngoài hiểu theo cách đánh giá về
chức năng và đặc điểm thì SV còn được hiểu là những người trẻ trong độ