Khảo sát, đánh giá hệ thống hành nghề dược tư nhân giai đoạn 2000 2002 - Pdf 30

BỘ Y TẾ
TRƯỜNG ĐẠI HỌC Dược HÀ NỘI
TRẦN THỊ NGỌC BÍCH
KHẢO SÁT, ĐÁNH GIÁ HỆ THỐNG HÀNH NGHỂ dư ợ c
Tư NHÂN GIAI ĐOẠN 2000 - 2002
( KHOÁ LUẬN TỐT NGHIỆP Dược sĩ KHOÁ 1998 - 2003)
Người hướng dẫn : PGS.TS. Lê Viết Hùng
DS. Từ Việt Lan
Nơi thực hiện : Bộ môn Quản lý và kinh tế dược
Cục quản lý dược - Bộ Y tế
Thời gian thực hiện: 03/2003-05/2003
N lìl.3
LỜI CẢM ƠN.
Với lòng biết ơn sâu sắc, tôi xin chân thành cảm ơn:
PGS.TS. Lê Viết Hùng - Trường Đại học Dược Hà Nội
DS. Từ Việt Lan - Chuyên viên phòng Quản lý hành nghê Dược &
mỹ phẩm - Cục Quản lý Dược
Là người đã tận tình giúp đỡ tôi trong suốt quá trình làm khoá luận.
Tôi cũng xin cảm ơn Cục quản lý dược, văn phòng cục, vụ pháp chế, vụ
y học cổ truyền, sở y tế các tỉnh: Hải Phòng, Hà Nội, Bắc Ninh, Lai Châu,
Đồng Tháp, Kiên Giang cùng toàn bộ các thầy cô trong bộ môn Quản lý và
kinh tế Dược.
Nhân dịp này tôi cũng xin cảm ƠĨ1 gia đình, bạn bè đã giúp đỡ tôi hoàn
thành công trình nghiên cứu này
Hà Nội ngày 29 tháng 5 năm 2003
Sinh viên
Trần Thị Ngọc Bích.
MỤC LỤC
Trang
ĐẶT VẤN ĐỂ 1
PHẦN 1: TỔNG QUAN 2

Dược sĩ trung học
HNDTN
Hành nghề dược tư nhân
HNYDTN Hành nghề y dược tư nhân
NTTN
Nhà thuốc tư nhân
YHCT Y học cổ truyền
ĐẶT VÂN ĐỂ
Sức khoẻ là vốn quý của con người, chăm sóc bảo vệ sức khoẻ nhân dân,
phòng và chữa bệnh là nhiệm vụ của ngành Y tế trong đó ngành Dược đóng
vai trò quan trọng. Với đường lối, chính sách cho phép nhiều thành phần kinh
tế được tham gia hoạt động trong nền kinh tế thị trường có sự quản lý của nhà
nước. Ngành Dược tư nhân cũng tham gia hoạt động trong lĩnh vực sản xuất &
kinh doanh thuốc phòng và chữa bệnh cho người, do đó đã hình thành nên hệ
thống HNDTN.
Hệ thống HNDTN ra đời cách đây hơn 10 năm nhưng đã có sự phát triển
mạnh mẽ, từng bước khẳng định vai trò của mình. Cùng với doanh nghiệp
dược nhà nước và công ty dược nước ngoài đã tạo ra một môi trường kinh
doanh sôi động. Thị trường thuốc Việt Nam ngày càng phong phú, đáp ứng
nhu cầu bảo vệ sức khoẻ nhân dân.
Nhà nước và bộ Y tế đã ban hành nhiều văn bản nhằm đưa hệ thống
HNDTN hoạt động theo pháp luật. Trong quá trình hoạt đông, bên cạnh những
mặt tích cực đạt được hệ thống HNDTN cũng đã nảy sinh những mặt tiêu cực.
Để đánh giá vấn đề này, chúng tôi tiến hành nghiên cứu đề tài:
“Khảo sát, đánh giá hệ thống hành nghề Dược tư nhân giai đoạn
2000 - 2002”. Với các mục tiêu sau:
- Đánh giá thực trạng của hệ thống HNDTN từ năm 2000 đến nay.
- Nêu lên những ưu, nhược điểm của hệ thống HNDTN.
- Đề xuất một vài ý kiến với các cấp có thẩm quyền vê quản lý
HNDTN.

34,7 80,4
5
Aventis
14.809
6,9
68,0
6 Bristol Myers Squibb
14.309 13,8 70,8
7 Novatis
12.680
8,6 58,7
8 Pharmacia
11.177 20,3 61,8
9
Hoffmann La Roche
10.974
14,7
59,8
10
Johnson & Johnson
10.694
24,9 38,9
11 American Home Producst
9.506
6,8 70,2
12 Eli lilly
9.375
9,1
93,7
13

mới, hãng sẽ được bảo hộ độc quyền trong một thời gian.
Bảng 2. Mười hãng đứng đầu về chi cho nghiên cứu- phát triển trong năm
1999
Xếp
hạng
Hãng
Chi tiêu cho
R&D (triệu USD)
DS bán
(triệu USD)
% R&D/
DS bán
1 Pfizer
4.500
20.500
15,6
2
Glaxo Smith Kline 3.700
22.210 16,6
3
Aventis 2.595
14.809
17,5
4 Astra zeneca
2.454
14.834
16,5
5
Merck & Co 2.068
17.482 11,8

dược sĩ. Đối với công ty bán buôn, nếu vì lý do nào đó dược sĩ không phải là
chủ sở hữu thì công ty phải có ít nhất 1 dược sĩ trong hội đồng quản trị, chịu
trách nhiệm trước pháp luật về chuyên môn dược.[26]
- Tại Đức:
+ Việc bán lẻ thuốc cũng như ở Pháp, chỉ khác nhà thuốc bán lẻ phải là
dược sĩ, còn nhà thuốc bán buôn không nhất thiết phải là dược sĩ.
- Tại Mỹ:
+ Các thuốc thông thường (O.T.C, thuốc tự chữa) được bán ở hiệu tạp
hoá (bán thuốc lá, báo chí, bưu ảnh).
+ Trung tâm Dược : bán thuốc theo đơn, và chỉ ở đây mới được phép
quảng cáo thuốc. [26]
- Tại Anh:
+ Có 5 loại hiệu thuốc: Hiệu thuốc tư nhân, hiệu thuốc của hãng nhỏ,
hiệu thuốc của hãng lớn, hiệu thuốc của tập thể các dược sĩ, hiệu thuốc bệnh
viện. [26]
- Tại Thuỵ Điển:
+ Tư nhân không được phép bán lẻ, việc này do doanh nghiệp nhà nước
đảm nhận.
+ Bán buôn: tư nhân tham gia 25%, doanh nghiệp nhà nước 75%
- Tại Thái Lan:
+ Việc sản xuất và kinh doanh thuốc khá đa dạng, riêng về tổ chức bán lẻ
thuốc thì hiệu thuốc nhà nước chiếm 5% thị phần, còn lại 95% do tư nhân đảm
nhiệm. [26]
4
1.2. THỊ TRƯỜNG Dược PHẨM v i ệ t nam .
Trong những năm gần đây, cùng với công cuộc công nghiệp hoá, hiện đại
hoá đất nước, nền kinh tế nước ta đã có những bước phát triển rõ rệt. Đời sống
người dân ngày càng nâng cao nên có điều kiện hơn trong việc chăm sóc sức
khoẻ, tiền thuốc bình quân đầu người có sự gia tăng mạnh. Nếu các năm
1989-1990 chỉ có 0,3-0,5USD thì tới năm 2002 đã đạt 6,7USD tăng hơn 20 lần

trên thế giới
Việt nam có thị trường dược phẩm lớn thứ 4 trong khu vực Đông Nam Á
với tốc độ tăng trưởng bình quân đứng thứ 3. Dự kiến thị trường dược phẩm
Việt Nam sẽ đạt tói 677 triệu USD vào 2005. Đó là chưa kể ASEAN vào năm
2005 sẽ trở thành thị trường chung với quy mô gần 6,4 tỷ USD. [30]
5
Bảng 4. Thị trường dược phẩm ASEAN (đơn vị tính triệu USD)
TT
Năm
Nước
2001
2002
2003
2004
2005
Gx
TTBQ
(%)
1 Philippin 1080
1166
1265
1380 1511
8,7
2 Indonesia
1021
1184 1386 1633
1923
17,1
3 Thái Lan
778

2 2
2
2 2
6,1
10 Brunay
1
1 1
1 1
4,1
Tổng cộng
4000
4438
4971
5601
6339 100
Gx: 1
Ghi chú: Tốc độ
rhuốc generic, TTBQ: tăng trưởng bình quân
'1'1'tíQ hàng năm dự tính dựa trên số liệu năm 2000, giá
được tính theo giá của nhà sản xuất.
Nguồn tổng hợp từ IMS Health & Scrip’s company league table 2001
- Đại bộ phận tiền mua thuốc do người dân tự bỏ ra, nhà nước chỉ chi tiền
thuốc cuả các chương trình lớn (Tiêm chủng mở rộng, chống lao, chống sốt
rét )
- Nguồn thuốc : thuốc cung ứng cho thị trường Việt Nam do 2 nguồn: sản
xuất trong nước và nhập từ nước ngoài.
6
+ Nguồn thuốc sản xuất trong nước: có sự gia tăng mạnh. Năm 1990
giá trị tổng sản lượng chỉ đạt 82,2 tỷ đồng, nhưng tới năm 2002 đã đạt
3288,854 tỷ đồng tăng 40 lần.[23]

đương dược sỹ đại học) trong đó có một số dược sỹ tốt nghiệp từ Pháp về. Do
đó đã xuất hiện các hiệu thuốc tập trung ở Hà Nội, thành phố Hồ Chí Minh và
Huế nhưng không nhiều, nguồn thuốc chủ yếu nhập từ Pháp, riêng người Việt
Nam thì đến năm 1934 mới có nhà thuốc được mở. [24]
- Khi miền Bắc giải phóng (năm 1954) nhà nước tiến hành cải tạo nghành
Dược tư doanh. Đầu năm 1961 việc cải tạo đã hoàn thành, nhà nước độc
quyền từ sản xuất, xuất nhập khẩu đến phân phối thuốc. Trong khi đó ở miền
Nam dưới chế độ Nguỵ quyền, màng lưới bán thuốc chủ yếu do tư nhân đảm
nhận và họ còn được phép mở các phòng bào chế riêng (tính đến 30 tháng 4
năm 1975 toàn miền Nam có 2531 dược phòng (nhà thuốc), 124 viện bào chế
của nhà nước, tư nhân và của liên doanh với nước ngoài).[24]
- Sau khi giải phóng miền Nam năm 1975 ngành dược đã được tổ chức
thống nhất toàn quốc. Nhà nước tiến hành cải tạo xã hội chủ nghĩa đối với
miền Nam. Hệ thống quốc doanh hoàn toàn độc quyền trong sản xuất và mua
bán. Quyết định số 24/ CT ngày 8/7/1981 của chủ tịch hội đồng bộ trưởng
(nay là thủ tướng chính phủ) trong điều 1 có ghi :”Nhà nước độc quyền sản
xuất, cất giữ và mua bán tân dược” và điều 3 quy định :’’Nghiêm cấm tập thể
8
và tư nhân sản xuất thuốc tiêm, bào chế tân dược và buôn bán tân dược hoặc
dùng các nguyên liệu tân dược để làm thuốc”. [24]
- Màng lưói bán thuốc quốc doanh đã được phân bố rộng rãi trên các địa
bàn cả nước. Hầu hết các hiệu thuốc được phân bố theo địa bàn hành chính
quận, huyện, thị xã mỗi nơi trên có hiệu thuốc chính và một số điểm bán
thuốc trực thuộc tại một số điểm dân cư hoặc bên cạnh các phòng khám đa
khoa. [24]
- Hệ thống bán thuốc quốc doanh đã có những đóng góp to lớn trong
việc cung ứng thuốc phục vụ công tác phòng chữa bệnh, tham gia phục vụ
công tác quốc phòng, cấp cứu chiến tranh, phòng chống thiên tai, dịch bệnh.
Nhưng do cơ chế quản lý quan liêu bao cấp, sự độc quyền trong sản xuất kinh
doanh cũng như sự hạn chế về vốn đầu tư, con người nên đã kìm hãm sự phát

bắt đầu hoạt động.
Ngày 8/3/1989 bộ Y tế ban hành quyết định số 94 BYT/QĐ về quy chế
mở nhà thuốc và quyết định số 533 BYT/QĐ ngày 13/9/1989 về quy chế mở
đại lý bán thuốc thuộc khu vực tập thể và tư nhân. Đây là 2 quy chế đầu tiên
của ngành liên quan đến HNDTN.
Sau khi nhà nước ban hành luật công ty, luật doanh nghiệp tư nhân, hội
đồng bộ trưởng (nay là thủ tướng chính phủ), ban hành nghị định số 66 ngày
2/3/1992 về cá nhân và nhóm kinh doanh có vốn thấp hơn vốn pháp định. Bộ
Y tế đã phải thay đổi bằng 2 quy chế khác:
+ Quyết định số 500/BYT- QĐ ngày 10/4/1992 về quy chế hành nghề tại
nhà thuốc, nhà thuốc là cơ sở bán lẻ thuốc tư nhân có vốn thấp hơn vốn pháp
định. Các nhà thuốc tư nhân có vốn lớn hơn vốn pháp định thì phải đăng ký
theo luật doanh nghiệp tư nhân.
10
Ngoài ra có thay đổi một số nội dung như dược sỹ chủ nhà thuốc chỉ cần
có chứng chỉ đã hành nghề 5 năm (không phải 10 năm như quy chế cũ), bỏ
việc khống chế tuổi cao, không được phép bán thuốc thú y, nâng giá trị giấy
phép lên 2 năm (trước đây là 1 năm).
+ Quyết định số 939/BYT- QĐ ngày 4/9/1992 ban hành quy chế đại lý
thuốc ở xã của các doanh nghiệp nhà nước buôn bán thuốc.
Mỗi đại lý chỉ được nhận uỷ thác cho một doanh nghiệp nhà nước buôn
bán thuốc duy nhất, chỉ được bán thuốc của doanh nghiệp giao cho, không
được mua thuốc từ bất kỳ nguồn nào và chỉ được mở ở xã. Các đại lý của các
xí nghiệp dược thì được bán thuốc của xí nghiệp đó. Trình độ người bán thuốc
từ DSTH trở lên và được mở ở phường, thị xã.
Thông tư 03BYT- TT ngày 27/3/1992 v/v mở doanh nghiệp tư nhân kinh
doanh thuốc, cho phép doanh nghiệp tư nhân sản xuất thuốc cổ truyền.
Thông tư 04 BYT- TT ngày 27/3/1992 v/v mở công ty kinh doanh thuốc,
cho phép công ty được sản xuất cả tân dược và bán buôn thuốc.
Hai thông tư này đã xác nhận vai trò của tư nhân cả trong hệ thống kinh

chứng chỉ hành nghề kinh doanh dược phẩm cho cá nhân để thực hiện kinh
doanh dược phẩm (doanh nghiệp, NTTN, đại lý).
Sau 6 tháng triển khai thực hiện thông tư 01, để tạo điều kiện thuận lợi
cho cá nhân đăng ký hành nghề, bộ Y tế đã ban hành thông tư số 18/2001 TT-
BYT ngày 2/8/2001. Thông tư này hướng dẫn sửa đổi điều 5 và điều 7 của
thông tư số 01/2001 TT- BYT:
12
- Quy định về bằng cấp chuyên môn và thòi gian hành nghề dược để cấp
chứng chỉ hành nghề cho cá nhân kinh doanh dược phẩm dưới loại hình doanh
nghiệp chỉ buôn bán và doanh nghiệp có sản xuất là như nhau.
- Cá nhân kinh doanh dược phẩm đăng ký loại hình NTTN ở các vùng
miền núi, vùng cao, hải đảo chỉ cần qua 2 năm thực hành tại cơ sở dược hợp
pháp thay cho 5 năm như quy định của thông tư 01/2001.
Như vậy để hướng dẫn thi hành điều 6, nghị định số 03/2000/NĐ-CP
ngày 3/2/2000 của chính phủ, hướng dẫn thi hành một số điều của luật doanh
nghiệp quy định về chứng chỉ hành nghề. Bộ Y tế đã ban hành 4 thông tư
hướng dẫn việc cấp chứng chỉ hành nghề cho cả 3 lĩnh vực: Thông tư số
19/2000 TT- BYT lĩnh vực Y, thông tư 20/2000 TT- BYT lĩnh vực YHCT,
thông tư 01/2001 TT- BYT và thông tư 18/2001 TT- BYT hướng dẫn sửa đổi
thông tư 01/2001 TT- BYT trong lĩnh vực Dược.
Để tạo điều kiện cho công tác quản lý và để phù hợp với tình hình thực
tế,bộ Y tế đã ban hành các thông tư:
+ Thông tư số 04-2002 TT -BYT hướng dẫn việc xét cấp chứng chỉ hành
nghề cho cả ba lĩnh vực Y, Dược, YHCT, đồng thời mở rộng phạm vi điều
chỉnh bao gồm cả bán công, dân lập. Quy định chung thòi hạn của chứng chỉ
hành nghề là 5 năm. Thông tư này không đề cập tới việc xét cấp chứng chỉ
hành nghề đối với cơ sở hành nghề dược của doanh nghiệp nhà nước.
+ Thông tư số 10/2002 TT- BYT thống nhất 2 thông tư 01/1998 TT- BYT
ngày 21/1/1998 và thông tư số 02/2000 TT- BYT ngày 21/2/2000 về hướng
dẫn điều kiện hành nghề dược trong đó cũng mở rộng phạm vi điều chỉnh gồm

rõ ràng, điều này sẽ tạo điều kiện thuận lợi hơn cho hệ thống HNYDTN phát
triển và nhà nước thực hiện tốt chức năng quản lý của mình.
14
PHẦN 2- ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN c ứ u
2.1. ĐỐI TƯỢNG NGHIÊN c ứ u
Đối tượng nghiên cứu của đề tài là các loại hình HNDTN, khi tiến hành
làm đề tài pháp lệnh HNYDTN mới ban hành ngày 25/3/2003 chưa có hiệu
lực do đó các loại hình HNYDTN sẽ theo quy định hành nghề của pháp lệnh
HNYDTN ban hành ngày 13/10/1993 gồm:
- Công ty cổ phần dược
- Công ty trách nhiệm hữu hạn dược
- Doanh nghiệp tư nhân dược
- Nhà thuốc tư nhân
- Đại lý thuốc cho doanh nghiệp dược
- Cơ sở sản xuất thuốc y học cổ truyền có vốn thấp hơn vốn pháp định.
2.2. PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN cứ u
- Phương pháp hồi cứu
- Phương pháp thống kê đơn giản
- Các phương pháp tỷ trọng, cân đối, so sánh, biểu đồ, sơ đồ
15
PHẦN 3- KẾT QUẢ NGHIÊN cứ u & BÀN LUẬN
3.1. KẾT QUẢ NGHIÊN cứ u
Theo pháp lệnh hành nghề y dược tư nhân (1993) thì hiện nay ở Việt
Nam có các loại hình HNDTN:
- Công ty cổ phần
- Công ty trách nhiệm hữu hạn
- Doanh nghiệp tư nhân
Ba loại hình này còn bị chi phối bởi luật doanh nghiệp (1/2000).
- Nhà thuốc tư nhân
- Đại lý thuốc cho doanh nghiệp dược

Nhà thuốc tư nhân 6350
8019
8378 131,94 42,95
5
Đại lý thuốc cho
DN dươc
9780
10367 10317
105,49 52,89
6
Cơ sở sản xuất
thuốc YHCT
157 381
404
257,32
2,06
Tổng sô 16542
19107
19508
100
16
- So sánh tốc độ gia tăng giữa 2002/ 1999 thì loại hình CTCP tăng
nhanh nhất nhưng số lượng lại không nhiều (19 CTCP) chiếm 0,1%, trong số
này chưa tính những doanh nghiệp nhà nước đã được cổ phần hoá trong đó có
vốn góp của nhà nước, vốn của cán bộ công nhân viên và vốn tư nhân. Loại
hình cơ sở sản xuất thuốc YHCT có vốn thấp hơn vốn pháp định cũng tăng
mạnh đạt 257,32% năm 2002. Loại hình NTTN tăng 131,94% nhưng số lượng
gia tăng lớn nhất tới 2028 NTTN
2,49
ũ 1 Hình thức khác

5 Nghệ An
0
1
6 Toàn quốc (cổ phần hoá các DNNN)
7 57
Tổng số
13 76
Nhận xét: Thành phố HCM là nơi xuất hiện CTCP sớm nhất nhưng số
lượng nhiều nhất lại là Hà Nội (13 CTCP). Trong đó chỉ tính riêng năm 2002
đã có 10 CTCP được thành lập.
- Số lượng CTCP ở thành phố HCM không tăng, mặc dù năm 2000 có
một CTCP được thành lập nhưng sau đó đến năm 2001 chuyển thành công ty
TNHH
- Các CTCP vốn hoàn toàn của tư nhân đóng góp
Phân loại các CTCP theo chức năng ta có số lượng như sau
Bảng7. Phân bô CTCP tư nhân theo chức năng.
STT
Chức năng Số lượng
1
Xuất nhập khẩu trực tiếp
1
2
Sản xuất
3
3
Buôn bán
15
Các CTCP chủ yếu là buôn bán, chỉ có 1 công ty hoạt động xuất nhập
khẩu trực tiếp (công ty cổ phần dược phẩm Việt Nam: CPV), một công ty sản
xuất thuốc YHCT và 2 công ty sản xuất thuốc: Công ty cổ phần dược phẩm

(%)
1 Miền núi trung du phía Bắc
9
3,93
14 3,75
2 Đồng bằng sông Hồng (+ HN)
76
33,19
144
38,4
3 Bắc Trung Bộ
12
5,24 17
4,56
4
Duyên hải miền Trung 14
6,11
19
5,09
5
Tây Nguyên
2 0,87
2 0,54
6
Đông Nam Bộ (+tp HCM)
104
45,42 154
41,29
7
Đồng bằng sông Cửu Long

Số lượng Tỷ trọng (%)
1 Buôn bán
323
86,60
2
Sản xuất
29
7,77
3
Sản xuất + buôn bán
20
5,36
4
Dịch vụ tư vấn và tiếp thị y dược
1
0,27
Tổng số
373
100
20
□ 1
E32
□ 3
□ 4
Hình 3: Biểu đồ tỷ trọng CTTNHH theo chức năng
Hầu hết các CTTNHH dược là buôn bán (chiếm tỷ trọng 86,60%) trong
đó có một số công ty kinh doanh mặt hàng vắc xin, sinh phẩm y tế. Sau đó là
đến các công ty sản xuất (7,77%) và sản xuất kiêm buôn bán (5,36%). Chỉ có
một công ty duy nhất làm dịch vụ.
Trong số các công ty sản xuất và sản xuất kiêm buôn bán có một công

1 5,88
5 TpHCM
1
6,67 1
5,88
6
Long An
1
6,67 1
5,88
7 Đồng Nai
1
6,67 1
5,88
8 Cần Thơ
2
13,33
3 17,65
9
Kiên Giang
3 29,99
4
23,54
10
Thanh Hoá
0 0
1
5,88
11
Quảng Ninh


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status