Y HỌC THỰC HÀNH (899) - SỐ 12/2013
24
của trẻ em ở một vùng giàu có tại Ấn Độ cho rằng hầu
hết các bà mẹ ở đây có 12 năm học và khoảng một
nửa trong số đó có 17 năm học, tỷ lệ SDD chỉ 6% [11].
Kết quả nghiên cứu cho thấy có sự khác biệt có ý
nghĩa thống kê về TTDD thể nhẹ cân và thấp còi của
trẻ giữa những bà mẹ có học vấn từ cấp 3 trở lên hoặc
dưới cấp 3. Ở những trẻ là con của các bà mẹ có học
vấn dưới cấp 3 tỷ lệ SDD thể nhẹ cân và thấp còi gấp
1,74 lần (p<0,05; CI 1,11-2,74) và 1,46 (p<0,05; CI
1,0-2,13).
KẾT LUẬN
Tỷ lệ SDD xã Phúc Thịnh và Xuân Quang, huyện
Chiêm Hóa, Tuyên Quang ở thể nhẹ cân 13,9%; thấp
còi 23,3%; gày còm 8,0%.
Bà mẹ được uống viên sắt khi mang thai, cân
nặng sơ sinh của trẻ, số con trong gia đình, trình độ
học vấn của bà mẹ, tình hình kinh tế hộ gia đình là
những yếu tố ảnh hưởng đến TTDD của trẻ (p<0,05).
TÀI LIỆU THAM KHẢO
1. VDD – UNICEF (2011). Tình hình dinh dưỡng
Việt Nam năm 2009 - 2010: NXBYH, tr.9.
2. Struble MB và Aomari LL (2003), "Position of the
9. Nguyễn Công Khẩn, Lê Danh Tuyên (2005), "Tiến
triển của tình trạng dinh dưỡng trẻ em và bà mẹ", Hiệu
quả của trương trình can thiệp ở VIệt Nam giai đoạn
1999-2004, Nhà xuất bản thống kê Hà Nội, tr. 15-37.
10. Chính phủ (2001), Chiến lược quốc gia về dinh
dưỡng giai đoạn 2001-2010 (đã được Chính phủ phê
duyệt tại quyết định số 21/2001/QĐ-TTg ngày
22/2/2001, Nhà xuất bản Y học, Hà Nội.
11. Nitabhandari, et al. (2002), "Growth performance
of affuent Indian children is sililar to that in developed
countries", Bull of WHO. 7, pp. 189-195. KẾT QUẢ BƯỚC ĐẦU ĐIỀU TRỊ RỐI LOẠN PHỔ TỰ KỶ TRẺ EM TẠI
TỈNH THÁI NGUYÊNPHẠM TRUNG KIÊN, LÊ THỊ KIM DUNG - Trường ĐH Y Dược Thái Nguyên
ĐÀO VĂN DŨNG - Bệnh viện Chỉnh hỡnh và Phục hồi chức năng Thái Nguyên
NGUYỄN THỊ KIM NHUNG - Trường Giáo dục&Hỗ trợ trẻ em bị thiệt thũi TN
PHAN THỊ YẾN - Khoa Nhi, Bệnh viện Đa khoa Bắc Ninh TÓM TẮT
Mục tiêu: Đánh giá kết quả bước đầu điều trị rối
loạn phổ tự kỷ (RLPTK) trẻ em tại tỉnh Thái Nguyên.
Đối tượng nghiên cứu: Trẻ bị RLPTK và các cơ sở
điều trị tự kỷ tại Thái Nguyên trong thời gian từ tháng
4.2013 đến hết tháng 10.2013. Phương pháp
nghiên cứu: Nghiên cứu can thiệp. Kết quả nghiên
25
health centers for ASD treatment in Thainguyen from
April to October 2013. Methods: interventional study.
Results: There were 54 children with ASD, included
37 had autistic disorder. There are 13 staffs, included 8
bachelors of special education (61.6%), 3 rehabilitative
technicians (23.1%) and 2 doctors (15.3%) in three
health centres for ASD treatment. PECS, behavious
therapy and active therapy were used the most. Only
under 30.0% of parents cooperate to educate children
with ASD at home. The results showed that after
intervention, social interaction, verbal communication
of children with ASD were changed insignificantly, on
the contrary stereotyped patterns of behavior reduced
significantly. Conclusions: There is only 13 staffs to
treat children with ASD in Thainguyen and have no an
identical treatment strategy. There is significant change
in behaviour of children with ASD after intervention.
Keywords: Autism, children, Thai Nguyen.
ĐẶT VẤN ĐỀ
Rối loạn phổ tự kỷ (RLPTK) đang là một vấn đề
thời sự trong chăm sóc sức khỏe trẻ em bởi tỉ lệ mắc
RLPTK tăng rất nhanh, bệnh gây ảnh hưởng lâu dài
đến chất lượng cuộc sống của trẻ. Tại các nước phát
triển, tỉ lệ mắc RLPTK tăng 8-10 lần trong 20 năm
qua [8]. Tại Việt Nam, chưa có số liệu về tỷ lệ mắc
RLPTK trong cộng đồng, nhưng tại các bệnh viện
tôi tiến hành nghiên cứu đề tài “Kết quả bước đầu
điều trị rối loạn phổ tự kỷ trẻ em tại tỉnh Thái Nguyên”
với mục tiêu:
1. Đánh giá thực trạng công tác điều trị RLPTK tại
Thái Nguyên.
2. Đánh giá bước đầu kết quả điều trị RLPTK trẻ
em tại Thái Nguyên.
ĐỐI TƯỢNG, PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
1. Đối tượng nghiên cứu
- Đối tượng:
+ Trẻ em đang sống tại tỉnh Thái Nguyên đã được
chẩn đoán xác định RLPTK.
+ Cha mẹ/người chăm sóc những trẻ bị RLPTK.
+ Nhân viên của các đơn vị điều trị RLPTK tại tỉnh
Thái Nguyên.
- Thời gian nghiên cứu: Từ tháng 4.2013 đến
tháng 10.2013.
- Địa điểm nghiên cứu: Tỉnh Thái Nguyên.
2. Phương pháp nghiên cứu
- Thiết kế nghiên cứu: Nghiên cứu can thiệp so
sánh trước sau.
- Mẫu nghiên cứu: chọn mẫu thuận tiện, chọn
những trẻ em được chẩn đoán RLPTK nhưng phải
tham gia điều trị trong suốt thời gian nghiên cứu. Cha
mẹ/người chăm sóc trẻ, nhân viên của các đơn vị
điều trị. Chẩn đoán xác định tự kỷ do các bác sĩ nhi
khoa, chuyên gia Tâm lý của Khoa Tâm bệnh - Bệnh
viện Nhi Trung ương, Trung tâm Đào tạo và Phát
triển giáo dục đặc biệt - Trường Đại học Sư phạm Hà
Nội thực hiện theo tiêu chuẩn DSM-IV[6].
3-5 24 44,4 0 0 24 44,4
Tổng 46 85,2 8 14,8 54 100,0
Nhận xét: tỉ lệ RLPTK ở trẻ trai:gái là 5,7:1, chỉ có
5,6% trẻ được chẩn đoán và điều trị ở tuổi dưới 24
tháng, có 44,4% chẩn đoán sau 3 tuổi.
Y HỌC THỰC HÀNH (899) - SỐ 12/2013
26
Bảng 2. Đặc điểm nhân viên tham gia điều trị cho trẻ RLPTK
Địa điểm
Trình độ NV
BV Chỉnh hình và
PHCN
TGD&HTTEBTTTN
Trung tâm
Ánh Sao
Tổng cộng
n
%
n
100,0Nhận xét: Nhân viên trực tiếp điều trị trẻ RLPTK
tại Thái Nguyên hiện còn rất thiếu, chủ yếu là cử
nhân sư phạm giáo dục đặc biệt, kỹ thuật viên PHCN
chiếm 23,1%.
Bảng 3. Đặc điểm lâm sàng RLPTK trẻ em
Giới
Thể tự kỷ
Tr
ẻ trai
Tr
ẻ gái
T
ổng số
P
n % n % N %
Thể điển
hình
35 64,8 2 3,6 37 68,4
<0,05
Không
đi
34
100,0
16
80,0
Trị liệu ngôn
ngữ
20 58,8 11 55,0
Trị liệu cảm
giác
21 61,8 7 35,0
Thuốc bổ sung
34 100,0 0 0
Tham gia của
gia đình
10 29,4 6 20,0
Thời gian điều
trị
5 ngày/tuần,
1-2 giờ/ngày
5 ngày/tuần,
1-2 giờ/ngày
Nhận xét: Phương pháp được sử dụng nhiều
nhất là PECS, trị liệu hành vi, hoạt động trị liệu. Tại
Nhận xét: Sau 6 tháng can thiệp, các dấu hiệu
tương tác xã hội có thay đổi, nhưng sự khác biệt
không có ý nghĩa (p>0,05).
Bảng 6. Các biểu hiện ngôn ngữ trước và sau
điều trị
Thời điểm
Dấu hiệu
Trước Điều trị
(n=54)
Sau 6 tháng
(n=54)
p
n % n %
Không nói 17 31,4 14 25,9 >0,05
Nói vài từ
đơn
19 35,2 25 46,2 >0,05
Hiểu lời ít 37 68,5 31 57,4 >0,05
Phát âm vô
nghĩa
9 16,7 6 11,1 >0,05
Nhại lời 12 22,2 13 24,0 >0,05
Nói một
mình
11 20,3 7 12,9 >0,05
Nhận xét: Sau 6 tháng can thiệp, trẻ có tiến bộ về
khuôn
40 74,0 37 68,5 >0,05
Động tác định
hình
34 62,9 19 35,1 <0,05
Nhận xét: Sau can thiệp, hiện tượng đi bất
thường, động tác định hình giảm có ý nghĩa so với
trước can thiệp (p<0,05).
BÀN LUẬN
Nghiên cứu kết quả điều trị 54 trẻ RLPTK tại Thái
Nguyên thấy tỉ lệ trẻ trai: gái là 5,7:1, tỉ lệ này cũng
phù hợp y văn và kết quả nghiên cứu của các tác giả
khác trong và ngoài nước. Nguyễn Hồng Thúy và CS
nghiên cứu tại Bệnh viện Nhi Trung ương thấy tỉ lệ
này là 5:1 [3]. Nguyễn Thị Hương Giang nghiên cứu
tại Thái Bình thấy tỉ lệ trẻ trai mắc bệnh cao gấp 6,4
lần trẻ gái [2]. Trong nghiên cứu của chúng tôi, chỉ có
5,6% trẻ được chẩn đoán sớm trước 24 tháng tuổi,
còn trên 44,4% trẻ được chẩn đoán sau 3 tuổi, kết
quả này cũng phù hợp với các tác giả khác ở Mỹ như
Mandell (2005) là 3,1 năm [8], Barbaro (2009) là 3-4
tuổi [7], và Noterdaeme (2010) ở Đức là 3,9 năm [9].
Việc chẩn đoán muộn được có thể do hiểu biết của
Y HỌC THỰC HÀNH (899) - SỐ 12/2013
đổi về hành vi khá rõ rệt, tỉ lệ trẻ có dáng đi bất
thường và động tác định hình giảm có ý nghĩa,
nhưng các biểu hiện tương tác xã hội và ngôn ngữ
biến chuyển chậm. Tại Thái Nguyên việc phối hợp
của gia đình trong điều trị tự kỷ còn rất hạn chế, tỉ lệ
gia đình có tham gia can thiệp cho trẻ còn thấp (dưới
30%). Việc điều trị tự kỷ là một cuộc chiến không có
điểm dừng, điều trị chỉ có kết quả nếu có sự phối hợp
chặt chẽ giữa các cơ sở y tế, giáo dục với gia đình và
trường mầm non (với những trẻ có đi học mầm non).
Nghiên cứu của Levy S.E và CS cho thấy gia đình và
hệ thống giáo dục là nguồn lực chính trong can thiệp
tự kỷ [7]. Kết quả nghiên cứu của chúng tôi có khác
với nghiên cứu của Nguyễn Hồng Thúy và CS tại
Bệnh viện Nhi Trung ương cho thấy can thiệp tự kỷ
qua giao tiếp bằng tranh sau 6 tháng thấy trẻ có tiến
bộ rõ rệt về giao tiếp mắt, tương tác xã hội [3]. Quách
Thúy Minh và CS can thiệp cho 130 trẻ tự kỷ tại Bệnh
viện Nhi Trung ương cũng thấy sau 3 tháng trẻ có cải
thiện tương tác xã hội và ngôn ngữ, sau 9 tháng điểm
CARS giảm có ý nghĩa [2]. Sự khác biệt này có thể
do thời gian can thiệp trong nghiên cứu của chúng tôi
chưa đủ dài (6 tháng), hơn nữa do chúng tôi chưa có
chuyên gia về các lĩnh vực ngôn ngữ trị liệu. Nghiên
cứu của Nguyễn Thị Hương Giang cũng cho thấy sau
12 tháng can thiệp 100% trẻ có cải thiện giao tiếp,
ngôn ngữ, vận động [1].
Hiện nay, các cơ sở đào tạo và điều trị của ngành
y tế còn chưa thật sự quan tâm đến vấn đề RLPTK
trẻ em, trong các chương trình đào tạo chưa giảng
đồng (theo Quyết định số 1149/QĐ - BYT ngày 01
tháng 4 năm 2008).
2. Nguyễn Thị Hương Giang (2012), Nghiên cứu
phát hiện sớm tự kỷ bằng M-CHAT23, đặc điểm dịch
tễ-lâm sàng và phục hồi chức năng cho trẻ nhỏ tự kỷ,
Luận án tiến sĩ Y học, Trường Đại học Y Hà Nội.
3. Quách Thúy Minh, Nguyễn Hồng Thúy và CS
(2008), Một số đặc điểm lâm sàng và kết quả điều trị
ban đầu cho trẻ tự kỷ tại khoa Tâm thần, Bệnh viện
Nhi Trung ương, Tạp chí Nghiên cứu Y học, 57(4),
280-88.
4. Nguyễn Hồng Thúy, Quách Thúy Minh (2011),
Đánh giá kết quả áp dụng hệ thống giao tiếp bằng
tranh để dạy trẻ tự kỷ tại Bệnh viện Nhi Trung ương,
Nhi khoa, 4 (4), 459-65.
5. Nguyễn Lan Trang (2012), Thực trạng tự kỷ trẻ
em từ 18-60 tháng tuổi tại thành phố Thái Nguyên,
Luận văn Thạc sĩ Y học.
6. American Psychiatric Association (1994),
Diagnostic and Statistical Manual of Mental Disorder -
DSM-IV, Wasington DC, AA.
7. Barbaro J, Dissanayake C (2009). Autism
Spectrum disorders in infancy and toddlerhood: A
review of the evidence on early signs, early
identification tools, and early diagnosis” Journal
Developmental Behavior Pediatric 30: 447 – 459
8. Levy SE, Mandell DS, Schultz RT (2009),
Autism, Lancet, 374(9701):1627–38.
9. Noterdaeme M, Nickels A.H (2010). Early
symptoms and recognition of pervasive