Y học thực hành (884) - số 10/2013
77
NHẬN XÉT KẾT QUẢ ĐIỀU TRỊ BỆNH NHÂN BỎNG NẶNG
Nguyễn Viết Lượng,
Nguyễn Thùy Vân
TÓM TẮT
Nghiên cứu hồi cứu trên 746 bệnh án bệnh nhân
bỏng nặng được điều trị tại khoa Hồi sức cấp cứu
trong hai năm 2011, 2012. Bệnh nhân bỏng nặng được
xác định dựa theo phân loại mức độ bỏng của Hội
Bỏng Hoa Kỳ (1984). Nghiên cứu hồi cứu, theo dõi dọc
trên những tiêu chuẩn đã định. Tuỳ theo mục đích
đánh giá, BN nghiên cứu được chia ra làm các nhóm
để so sánh, phân tích rút ra nhận xét. Kết quả: Tỷ lệ
tử vong chung là 24,66%, thời điểm tử vong cao nhất
là từ 4 - 15 ngày sau khi bị bỏng. Số bỏng làm tăng tỷ
lệ tử vong, ở nhóm bệnh nhân có sốc bỏng, tỷ lệ tử
vong là 25,94% so với tỷ lệ tử vong ở nhóm không có
sốc là 16,99%. Các biến chứng xuất hiện làm tăng tỷ lệ
tử vong: rối loạn đông máu nặng (53,90%), suy thận
(84,57%), suy đa tạng (94,63%), nhiễm khuẩn huyết
(47,50%), phế quản, phế viêm (26%), xuất huyết tiêu
hoá (63,64%), sốc nhiễm khuẩn (61,72%). Càng nhiều
biến chứng trên một bệnh nhân thì tỷ lệ tử vong càng
bệnh nhân cần được điều trị tại các bệnh viện. Tại Việt
Nam, số lượng bệnh nhân bỏng được thu dung điều trị
cũng không ngừng tăng lên.
Nghiên cứu về biến chứng và nguyên nhân tử vong
là công việc cần thiết, cần tiến hành một cách thường
xuyên, nhằm xác định những đặc điểm diễn biến bệnh
lý, cũng như những biện pháp cứu chữa kịp thời và hiệu
quả trong công tác cứu chữa bệnh nhân bỏng. Bên
cạnh đó, việc đánh giá khả năng cứu sống bệnh nhân
bỏng nặng giúp chúng ta tiên lượng tình trạnh bệnh
nhân tốt hơn, nắm được khả năng cứu chữa và điều trị
hiện tại của cơ sở. Tất cả nhằm mục đích cứu sống
nhiều hơn nữa bệnh nhân bỏng nặng, nâng cao chất
lượng điều trị, giảm biến chứng và di chứng sau bỏng.
Mục tiêu nghiên cứu:
1. Nhận xét kết quả điều trị bệnh nhân bỏng nặng
tại khoa hồi sức cấp cứu Viện Bỏng Quốc gia trong
giai đoạn 2011- 2012.
2. Nhận xét các biến chứng và nguyên nhân tử
vong trên bệnh nhân bỏng nặng.
ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
1. Đối tượng nghiên cứu
Gồm 746 BN bỏng nặng, được điều trị tại khoa Hồi
sức cấp cứu (HSCC) – Viện Bỏng Quốc gia (VBQG),
trong 2 năm: Từ tháng 01 năm 2011 đến tháng 12
năm 2012.
* Tiêu chuẩn lựa chọn bệnh nhân nghiên cứu:
- Bệnh nhân bỏng nặng được điều trị tại khoa
HSCC (VBQG) từ tháng 01 năm 2011 đến tháng 12
năm 2012.
Y học thực hành (884) - số 10/2013
78
Bỏng hô hấp (n,%) 326 (43,70)
Bỏng đường tiêu hóa 11 (1,47)
Tỷ lệ nam/nữ 510/236
Diện tích bỏng chung và bỏng sâu trung bình ở
mức khá cao. Bệnh nhân có bỏng hô hấp chiếm tỷ lệ
cao (43,70%). Bệnh nhân nam gặp nhiều hơn BN nữ
trong nghiên cứu của chúng tôi.
Chi tiết đặc điểm BN nghiên cứu theo giới tính,
lứa tuổi
Tỷ lệ BN nam nhiều hơn BN nữ ở tất cả mọi lứa
tuổi.
Bệnh nhân lứa tuổi lao động (16 - 60 tuổi) chiếm
tỷ lệ cao nhất (55,4%).
Tác nhân gây bỏng
- Trẻ em: nhiệt ướt là tác nhân gây bỏng chủ yếu
(78,49%).
- Người lớn và người già: nhiệt khô là tác nhân
gây bỏng hàng đầu (69,73% và 92,59%).
- Bỏng do điện cao thế chiếm một tỷ lệ đáng kể
(12,33%) trong đó chủ yếu ở lứa tuổi lao động.
Biểu đồ 1. Phân bố bệnh nhân theo tác nhân gây bỏng
2. Các biến chứng sau bỏng và mối liên quan
Các yếu tố liên quan đến sốc nhiễm khuẩn (n =
128)
Chỉ số trung bình của tuổi; diện tích bỏng chung;
diện tích bỏng sâu ở nhóm BN có sốc nhiễm khuẩn
cao hơn so với nhóm BN không có sốc nhiễm khuẩn,
khác biệt có ý nghĩa (p< 0,001). Ở nhóm BN có sốc
nhiễm khuẩn tỷ lệ bỏng hô hấp (60,94 %) cao hơn
hẳn so với nhóm không có sốc nhiễm khuẩn (8,09%),
sự khác biệt có ý nghĩa thống kê (p<0,001). Nói cách
khác ở nhóm BN bị bỏng hô hấp, tỷ lệ gặp biến
chứng sốc nhiễm khuẩn cao hơn nhiều so với nhóm
BN không bị bỏng hô hấp.
Các yếu tố liên quan đến biến chứng suy thận
cấp (n = 162)
Chỉ số trung bình của tuổi; diện tích bỏng chung;
diện tích bỏng sâu ở nhóm BN có suy thận cấp cao
hơn hẳn so với nhóm BN không có biến chứng suy
thận cấp, sự khác biệt có ý nghĩa (P<0,001).
Ở nhóm BN có suy thận cấp, tỷ lệ có bỏng hô hấp
(77,16%) cao hơn nhiều so với nhóm BN không có
suy thận cấp (34,42%), sự khác biệt có ý nghĩa
(p<0,001). Nói cách khác, ở nhóm BN bị bỏng hô hấp
tỷ lệ biến chứng suy thận cấp cao hơn so với nhóm
BN không bị bỏng hô hấp.
Nhóm BN có suy thận cấp, chỉ số glucose máu
trung bình cao hơn so với nhóm BN không có suy
thận cấp, sự khác biệt có ý nghĩa (p<0,001).
Các yếu tố liên quan đến hội chứng ARDS (n =
141)
Chỉ số trung bình của: tuổi; diện tích bỏng chung;
79
Nam 371 72,75 139 27,25 510 (68,36)
Nữ 191 80,93 45 19,07 236 (31,64)
Tổng cộng
562 75,34 184 24,66 746
(100,00)
p P = 0,016 < 0,05
Tỷ lệ tử vong ở nhóm BN nam cao hơn đáng kể
so với nhóm BN nữ, sự khác biệt có ý nghĩa thống kê
(27,25% so với 19,07%; p< 0,05).
Tỷ lệ tử vong theo nhóm tuổi
Tỷ lệ tử vong tăng dần theo nhóm tuổi, từ 8,24%
ở nhóm trẻ em, tăng lên 32,2% ở người lớn và 51,9%
ở người già. Sự khác biệt có ý nghĩa thống kê với
p<0,05.
Thời điểm tử vong
Tử vong từ ngày thứ 4 đến ngày thứ 15 sau bỏng
chiếm tỷ lệ cao nhất (50%) trong tổng số bệnh nhân
tử vong.
Bảng 4. Liên quan kết quả điều trị với diện tích
bỏng chung
Kết quả điều trị
Khỏi Tử vong
Có sự liên quan giữa diện tích bỏng chung và tỷ lệ
tử vong, bỏng càng rộng thì tỷ lệ tử vong càng cao (p
< 0,01).
Bảng 5. Liên quan kết quả điều trị với diện tích
bỏng sâu
Kết quả điều trị
Khỏi Tử vong
Diện bỏng
sâu
(%DTCT)
Số
BN
n % n %
p
Bỏng nông 149 135 90,60 14 9,40
1 – 9% 165 155 93,93 10 6,07
10 – 19% 172 154 89,53 18 10,47
20 – 29% 86 59 68,60 27 31,40
30 – 39% 56 23 41,07 33 58,93
40 – 49% 46 20 43,47 26 56,53
50 – 59% 36 11 30,55 25 69,45
60 – 69% 17 3 17,64 14 82,36
70 – 79% 11 1 9,09 10 90,91
80% 8 1(*) 12,50 7 87,50
Bỏng sâu 597 427 71,52 170 28,48
Tổng cộng 746 562 75,34 184 24,66
Liên quan kết quả điều trị với bệnh kết hợp,
tổn thương kết hợp
Tỷ lệ tử vong ở nhóm BN có bệnh lý kết hợp và
chấn thương kết hợp cao hơn tỷ lệ tử vong ở nhóm
BN không có bệnh lý và chấn thương kết hợp, sự
khác biệt có ý nghĩa (p < 0,05).
Liên quan kết quả điều trị với sốc bỏng
Tỷ lệ tử vong ở nhóm BN có sốc bỏng cao hơn so
với nhóm BN vào viện không có sốc bỏng (25,94% so
với 16,99%), sự khác biệt có ý nghĩa (p < 0,05).
Liên quan kết quả điều trị với biến chứng
nhiễm khuẩn huyết
Tỷ lệ tử vong ở nhóm BN có nhiễm khuẩn huyết
(47,50%) cao hơn nhiều so với tỷ lệ tử vong ở nhóm
BN không có nhiễm khuẩn huyết (23,38%), sự khác
biệt có ý nghĩa (p < 0,05). Trong các BN nhiễm khuẩn
huyết, nhóm BN nhiễm khuẩn huyết trực khuẩn mủ
xanh có tỷ lệ tử vong cao nhất (56,25%).
Bảng 6. Liên quan kết quả điều trị với biến chứng
suy thận cấp
Kết quả điều trị
Khỏi Tử vong Biến chứng
Số
BN
n % n %
p
Có 162 25 15,43
137
31 88,58
F 10 1 10,00
9 90,00
Mức
độ
suy
thận
L 3 0 0,00 3 100,00
<
0,05
Tỷ lệ tử vong ở nhóm BN có biến chứng suy thận
cấp (84,57%) cao hơn nhiều so với tỷ lệ tử vong ở
nhóm BN không có biến chứng suy thận cấp (8,05%),
khác biệt có ý nghĩa thống kê (p<0,05). Mức độ suy
thận cấp càng nặng thì tỷ lệ tử vong càng cao, sự
khác biệt có ý nghĩa (p<0,05)
Liên quan kết quả với biến chứng ARDS
Tỷ lệ tử vong ở nhóm BN có biến chứng ARDS
(85,79%) cao hơn nhiều so với tỷ lệ tử vong ở nhóm
BN không có biến chứng ARDS (9,43%), khác biệt có
ý nghĩa (p<0,05).
Y học thực hành (884) - số 10/2013
huyết
tiêu hóa
Cộng 746 562 75,34
184
24,66
<
0,05
Tỷ lệ tử vong ở nhóm BN bỏng nặng có biến
chứng xuất huyết tiêu hoá (63,64%) cao hơn tỷ lệ tử
vong ở nhóm BN bỏng nặng không có biến chứng
xuất huyết tiêu hoá (24,09%), khác biệt có ý nghĩa
(p<0,05).
Bảng 8. Liên quan kết quả điều trị với biến chứng
suy đa tạng
Kết quả điều trị
Khỏi Tử vong
Biến chứng
Số
BN
n % n %
p
Có 186 10 5,37 176
94,63
Theo Lê Thế Trung (1997, 2003) tỷ lệ tử vong ở
bệnh nhân bỏng tại các bệnh viện đa khoa tỉnh là
1,02 – 3,31%, còn ở tuyến chuyên khoa tỷ lệ tử vong
là 8 – 16%. Theo Phạm Văn Trung và CS (2009), tỷ
lệ tử vong trong các bệnh nhân bỏng được điều trị tại
bệnh viện Việt Tiệp (Hải Phòng) (2003 – 2006) là
2,86%. Tỷ lệ tử vong tại VBQG, năm 1995, theo Trần
Xuân Vận và CS (1996) là 6,5%, còn thời kỳ 2001 –
2003, theo Nguyễn Văn Vân là 5,88%. Theo Phạm
Đăng Nhật ở Bệnh viện Trung Ương Huế, tỷ lệ này là
3,8%. Theo Nguyễn Đăng Doanh và CS, tỷ lệ tử vong
ở bệnh viện Uông Bí trong 10 năm (1986 – 1995) là
8,4%. Hoàng Cao Nhã (2006) cũng thông báo kết
quả tử vong tương tự khi nghiên cứu về tình hình thu
dung và điều trị bỏng tuyến bệnh viện tỉnh thuộc 3
tỉnh duyên hải Nam Trung Bộ trong 4 năm (2001 –
2004). Theo tác giả Belba và CS, nghiên cứu trên
2337 bệnh nhân (BN) bỏng trong giai đoạn 1998 –
2008 ở Tirana – Albania cho thấy tỷ lệ tử vong là
10,5%. Tác giả Brusselaers và CS nghiên cứu 261
BN bỏng nặng ở Ghana thấy tỷ lệ tử vong chung là
10,7%. Cũng tác giả trên, trong một công trình nghiên
cứu khác thực hiện trên 2326 BN bỏng ở Hungary thì
tỷ lệ tử vong chung chỉ là 1,4%. Tuy nhiên, có một
điều đáng chú ý là các kết quả trên đều tính cho toàn
bộ những BN bỏng, bao gồm cả những BN bỏng nhẹ.
Đối với những bệnh nhân bỏng nặng nói riêng,
theo Chu Anh Tuấn và CS (2008), tỷ lệ tử vong do
bỏng nặng tại VBQG từ 2005 – 2007 là 19,8%. Theo
số liệu của các trung tâm bỏng ở nước ngoài thì tỷ lệ
hoá học gây tổn hại đến màng và nhân tế bào rất
mạnh, gây suy giảm miễn dịch. Khi bị sốc bỏng nặng
và rất nặng, còn dẫn đến hàng loạt các biến chứng
khác như suy thận, rối loạn đông máu, xuất huyết tiêu
hóa, … làm cho BN có thể tử vong ngay trong giai
đoạn sốc. Trong trường hợp được điều trị thoát sốc,
cơ thể người bị sốc bỏng nặng sức chống đỡ miễn
dịch bị giảm sút, nên bước vào thời kỳ hai của bệnh
bỏng, khi mô hoại tử tan rữa trở thành môi trường
thuận lợi cho các loài vi khuẩn xâm nhập, gây nhiễm
khuẩn huyết. Do đó, có thể khẳng định rằng, sốc bỏng
có vai trò quan trọng liên quan đến kết quả điều trị
bệnh nhân bỏng nặng. Tử vong do sốc không hồi phục
có thể chiếm đến 25%, thậm chí 60,9% số BN tử vong.
Tuy nhiên, hiện nay, do những tiến bộ trong công
tác hồi sức cấp cứu, tỷ lệ bệnh nhân tử vong do sốc
nhược không hồi phục đã giảm xuống nhiều so với
trước. Theo Nguyễn Gia Tiến (2001), trong số 372
BN bị sốc bỏng, sốc không hồi phục là 28 BN
(7,52%), tỷ lệ tử vong do sốc không hồi phục là
Y học thực hành (884) - số 10/2013
81
23,14% (28/121 BN tử vong), còn theo Nguyễn Văn
Vân (2004), trong số 1247 BN sốc bỏng, có 46 BN
(3,86%) bị sốc nhược không hồi phục, tỷ lệ tử vong
Khi xét đến tỷ lệ tử vong theo biến chứng, Nguyễn
Gia Tiến (2001) cho biết, suy thận tử vong 100%, sốc
nhiễm khuẩn: 70,2%, XHTH: 93,75%, NKH: 71,42%.
Theo Nguyễn Văn Vân (2004), tỷ lệ tử vong ở các
nhóm bệnh nhân có biến chứng như sau: suy đa
tạng: 100%, suy thận: 92,45%, xuất huyết tiêu hóa:
56,25%, rối loạn đông máu: 23,07%, NKH: 61,19%.
Theo Cason J.S, Cameron J.S, Lê Minh Phương,…
tỷ lệ tử vong do suy thận là 100%. Theo Chu Anh
Tuấn (2008), tỷ lệ tử vong khi bị suy thận cấp là 3/5
BN (60%), NKH do TKMX: 5/5 BN (100%). Theo
Nguyễn Viết Lượng (2009), tỷ lệ tử vong khi bị XHTH
là 88,9%. Chu Anh Tuấn (2003), Lê Đức Mẫn (2006)
thông báo tỷ lệ tử vong ở những BN NKH bỏng là từ
50,9% - 53,5%. Theo Gallagher J.J. (2007), Pruitt
B.A. (1998), tỷ lệ tử vong do sốc nhiễm khuẩn là 46 –
82%. Kết quả nghiên cứu của chúng tôi cũng cho
thấy, khi có biến chứng nhiễm khuẩn huyết, tỷ lệ tử
vong là 47,5%, cao hơn rõ rệt những BN không có
biến chứng (16,6%) (p < 0,01), trong đó tỷ lệ tử vong
do nhiễm trực khuẩn mủ xanh là 56,3%; do nhiễm tụ
cầu vàng là 36,8%. Đối với biến chứng NKH, tỷ lệ tử
vong còn phụ thuộc vào loại vi khuẩn gây NKH. Đồng
thời, tỷ lệ tử vong rất cao ở những BN bỏng nặng có
các biến chứng: suy thận (67,5%), suy đa tạng
(72,4%), XHTH (63,6%) tương đương với kết quả
nghiên cứu của các tác giả trên.
Như vậy, để làm giảm tỷ lệ tử vong trong điều trị
BN bỏng nặng, việc dự phòng tích cực và phát hiện,
điều trị sớm các biến chứng có vai trò quan trọng. Khi
điểm dịch tễ học của các trường hợp bỏng tại Bệnh viện
Uông Bí 1986 -1995”, Thông tin y hoc thảm họa và Bỏng
(Tập 1, Số 3/1998), Tr. 52-55.
2. Nguyễn Tiến Dũng (2011), “Nghiên cứu đặc điểm
của bỏng do tai nạn lao động ở miền Bắc Việt Nam”,
Tạp chí Y học thảm họa và Bỏng (2/2011), Tr. 23-31.
3. Nguyễn Tiến Dũng (2012), “Nghiên cứu một số
biến chứng ở bệnh nhân bỏng hô hấp”, Tạp chí Y học
thảm họa và Bỏng (3/2012), Tr. 84-89.
4. Greenhalgh D.G. và CS (2007), “Hội nghị thống
nhất định nghĩa nhiễm khuẩn trong bỏng của hội bỏng
Hoa Kỳ”, Tạp chí Y học thảm họa và Bỏng (4/2009), Tr.
83-87(Bản dịch Tiếng Việt).
5. Nguyễn Tuấn Khanh và CS (2009), “Nghiên cứu
đặc điểm dịch tễ học, chẩn đoán và điều trị bỏng tại
bệnh viện đa khoa Tiền Giang năm 2007”, Tạp chí Y học
thực hành (652+653/2009), Tr. 27-29.
6. Barrow R.E. et al (2007), “History of treatment of
burns”, Total Burn Care, Third Edition, Elsevier Cop.
(2007) David N. Herndon, Chapter 1.
7. Belba M.K. et al (2012), “Epidemiololy and
mortality of burned patients treated in the university
hospital center in Tirana, Albania: An analysis of 2337
cases during the period 1998-2008”, Burns 38 (2012)
155-163.
8. Brusselaers N. et al (2009),
“Evaluation of mortality following
Y học thực hành (884) - số 10/2013
5,94% (OR = 2,86; 95% CI: 1,31 - 5,89).
Từ khóa: dị tật bẩm sinh, chất độc da cam, thuốc
bảo vệ thực vật.
Summary
THE PROPORTION OF BIRTH DEFECTS AND
SOME RELATED FACTORS IN PHU CAT - BINH
DINH
The study aimed to determine the proportion of
birth defects in Phu Cat - Binh Dinh and some related
factors in 6,600 women aged 15 - 49 who had been
pregnant in 30 villages of 18 communes and town of
Phu Cat - Binh Dinh at the time in 1/2012. Results
showed that the proportion of mothers having children
with birth defects is 4.38% (289 mothers). The
proportion of all children with birth defects is 1.83%
(301 children) in which male is 58.14% and female is
41.86%. Use of multivariate logistic regression model
showed that the odds ratio (OR) for maternal date of
birth before 1972 is 1.52 (95% CI: 1.20 - 1.94). The OR
for mother's residence in Phu Cat airport area is 1.60
(95% CI: 1.06 - 2.40). The OR for mothers having
primary education is 2.86 (95% CI: 1.31 – 5.89).
Keywords: birth defects, Agent Orange,
pesticide.
ĐẶT VẤN ĐỀ
Theo Tổ chức Y tế thế giới (TCYTTG), dị tật bẩm
sinh (Birth Defects) là những bất thường về cấu trúc,
chức năng hoặc chuyển hóa có mặt lúc mới sinh. Về
mặt lâm sàng, dị tật bẩm sinh (DTBS) có thể được
phát hiện ngay từ lúc sinh hoặc có thể được chẩn
ĐỐI TƯỢNG, PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
Nghiên cứu được thực hiện tại huyện Phù Cát -
tỉnh Bình Định vào thời điểm 1/2012. Huyện có 18 xã,
thị trấn, 118 thôn và khu phố. Dân số 189.150 người.
Trừ người dân ở thị trấn Ngô Mây sống bằng buôn
bán nhỏ, nhân viên hành chính, người dân ở các xã
còn lại đều là nông dân trồng lúa hoặc trồng hoa
màu.
1. Đối tượng nghiên cứu
Phụ nữ trong độ tuổi sinh sản (tuổi từ 15 - 49) và
đã từng có thai.
2.2. Phương pháp nghiên cứu
- Thiết kế nghiên cứu: Nghiên cứu mô tả phỏng
vấn về tiền sử sinh sản.
- Phương pháp thu thập thông tin: sử dụng
phiếu điều tra theo hộ gia đình bằng cách hỏi đáp
trực tiếp.
- Cỡ mẫu: được tính theo công thức:
Trong đó: p là tỷ lệ mẹ sinh con bị DTBS = 5,82%
[0]. d: sai số tuyệt đối và DE: hệ số thiết kế mẫu = 2.